Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức sự kiện

Tin tức sự kiện
Thứ 5, Ngày 03/10/2019, 16:00
Hành động nhỏ hậu quả lớn
03/10/2019 | Nguyên Ngọc

Trong cuộc sống có muôn vàn rắc rối và không rắc rối nào giống rắc rối nào, có những việc xuất phát từ những nguyên cớ cụ thể, từ những mâu thuẫn kéo dài nhưng cũng có những việc lại xuất phát từ những suy nghĩ bộc phát, cảm tính nhất thời và dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì hậu quả của nó cũng vẫn là tranh chấp, là kiện thưa, gây mất tình làng, nghĩa xóm.

Ông A và ông B nhà ở giáp ranh với nhau, ngăn cách bởi hàng rào cây dâm bụt, từ trước tới nay gần mấy chục năm vẫn là hàng xóm, láng giềng "tối lửa tắt đèn" có nhau. Hai bên từ trước tới nay không hề xảy ra xích mích, nhưng vào một ngày nọ, ông B từ nhà nhìn ra thấy đường đi nhà mình tự nhiên nay nhỏ hẹp lại và ông cho rằng trụ ranh cấm từ trước giờ có gì đó sai lệch, vậy là ông B không nói không rằng ra nhổ trụ ranh cấm lại theo ý mình. Việc làm của ông B làm cho gia đình ông A hết sức ngỡ ngàng và hai bên có nói chuyện với nhau nhưng ông B vẫn kiên quyết không chịu cấm trụ ranh đất lại chổ củ.

Vậy là tình nghĩa xóm giềng rạn nứt, ông A cùng với gia đình cố gắng thương lượng với ông B, tránh sự kiện thưa rắc rối, mọi người cố gắng giải thích vì hàng rào dâm bụt lớn và chưa được chặt tỉa nên nhìn thấy đường đi bị hẹp lại chứ không có việc lấn ranh, nhưng ông B vẫn khăng khăng cho rằng mình đúng, mặc cho vợ con ông B cố gắng thuyết phục nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Ông B  tuyên bố nếu ai nhổ trụ ranh ông cấm thì đừng trách ông làm liều. Trước hành vi của ông B, ông A quá bức xúc và không thể nhịn được nữa nên mâu thuẫn thật sự xảy ra và việc kiện thưa, nhờ chính quyền giải quyết là điều không thể tránh khỏi.

Liên quan đến vấn đề về ranh giới trên, Bộ tài nguyên và môi trường đã ban hành Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về bản đồ địa chính. Trong đó, khoản 1 Điều 11 của Thông tư có quy định về việc xác định ranh giới thửa đất như sau:

Trước khi đo vẽ chi tiết, cán bộ đo đạc phải phối hợp với người dẫn đạc (là công chức địa chính cấp xã hoặc cán bộ thôn, xóm, ấp, tổ dân phố... để được hỗ trợ, hướng dẫn việc xác định hiện trạng, ranh giới sử dụng đất), cùng với người sử dụng, quản lý đất liên quan tiến hành xác định ranh giới, mốc giới thửa đất trên thực địa, đánh dấu các đỉnh thửa đất bằng đinh sắt, vạch sơn, cọc bê tông, cọc gỗ và lập Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất để làm căn cứ thực hiện đo đạc ranh giới thửa đất; đồng thời, yêu cầu người sử dụng đất xuất trình các giấy tờ liên quan đến thửa đất (có thể cung cấp bản sao các giấy tờ đó không cần công chứng, chứng thực).

Ranh, giới thửa đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng, quản lý và chỉnh lý theo kết quả cấp Giấy chứng nhận, bản án của tòa án có hiệu lực thi hành, kết quả giải quyết tranh chấp của cấp có thẩm quyền, các quyết định hành chính của cấp có thẩm quyền có liên quan đến ranh giới thửa đất.

Trường hợp đang có tranh chấp về ranh giới thửa đất thì đơn vị đo đạc có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thửa đất để giải quyết. Trường hợp tranh chấp chưa giải quyết xong trong thời gian đo đạc ở địa phương mà xác định được ranh giới thực tế đang sử dụng, quản lý thì đo đạc theo ranh giới thực tế đang sử dụng, quản lý đó; nếu không thể xác định được ranh giới thực tế đang sử dụng, quản lý thi được phép đo vẽ khoanh bao các thửa đất tranh chấp; đơn vị đo đạc có trách nhiệm lập bản mô tả thực trạng phần đất đang tranh chấp thành 02 bản, một bản lưu hồ sơ đo đạc, một bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thực hiện các bước giải quyết tranh chấp tiếp theo theo thẩm quyền.

Từ quy định nêu trên, thì việc ông B tự ý nhổ trụ ranh đát cấm lại là hoàn toàn sai trái. Nếu ông B có cơ sở cho rằng trụ ranh trên là sai lệch, không đúng với hiện trạng sử dụng từ trước giờ và ảnh hưởng đến quyền lợi của ông thì ông có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết mà không thể tự ý nhổ trụ ranh và cấm lại theo ý mình. Còn đối với ông A, trong trường hợp này trước hành vi của ông B, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình ông và hai bên không thể thương lượng thì ông A cũng có quyền nộp đơn yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp giải quyết.

Trong vấn đề tranh chấp về đất đai nói chung và trong trường hợp của ông A và ông B nói riêng, thì khi có tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra các bên có quyền tự thương lượng, yêu cầu hòa giải ở tổ hòa giải, hay gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã nơi có đất tranh chấp tiến hành hòa giải, nếu kết quả hòa giải không thành thì có quyền gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này; Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Pháp luật có những quy định cụ thể chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, cũng như quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nhưng đối với những người trực tiếp canh tác, quản lý, sử dụng đất chính là người bảo vệ quyền lợi của mình tốt nhất. Khi có bất cứ hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của mình đều có quyền lên tiếng, yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp giải quyết để bảo vệ quyền lợi cho mình. Tuy nhiên, cũng hết sức cân nhắc và xem xét thật kỹ trước khi cho rằng người khác xâm phạm đến quyền, lợi ích của mình, tránh những trường hợp suy đoán theo cảm tính và có những hành động sai trái dẫn đến việc kiện thưa đáng tiếc có thể xảy ra, làm cho mối quan hệ giữa các bên bị rạn nứt, có khi là không thể hàn gắn được.

Lượt người xem:  248
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn