Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Đảng - Đoàn thể
 
Được sự cho phép của Đảng ủy Sở Tư pháp, ngày 11 tháng 9 năm 2015 tại Hội trường Sở Tư pháp, Chi đoàn Sở Tư pháp đã tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015. Tham dự Cuộc thi có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, Chi hội... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 2029, 2033, 2034, tờ bản đồ số 02 tại ấp An Phong, xã An Thạnh, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 2029, 2033, 2034, tờ bản đồ số 02 tại ấp An Phong, xã An Thạnh, MCN, tỉnh Bến Tre
25/04/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Lê Hồng Diễm, SN: 1969 cư trú tại ấp Mỹ Thạnh, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, Bến TreThông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Lê Hồng Diễm, SN: 1969 cư trú tại ấp Mỹ Thạnh, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, Bến Tre
30/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo kết quả giải quyết thi hành án của ông Huỳnh Văn Phú, SN: 1943 và bà Lê Thị Vạn, SN: 1948, cùng ngụ tại ấp Bình Sơn, xã Ngãi Đăng, MCN, Bến TreThông báo kết quả giải quyết thi hành án của ông Huỳnh Văn Phú, SN: 1943 và bà Lê Thị Vạn, SN: 1948, cùng ngụ tại ấp Bình Sơn, xã Ngãi Đăng, MCN, Bến Tre
28/09/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Nguyễn Tấn Tài, SN: 1961 và bà Huỳnh Thị Nga, SN: 1961 cùng cư trú tại ấp 6, xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm, Bến TreThông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Nguyễn Tấn Tài, SN: 1961 và bà Huỳnh Thị Nga, SN: 1961 cùng cư trú tại ấp 6, xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm, Bến Tre
30/01/2019 10:00 SAĐã ban hành
Quy định pháp luật về trường hợp  đổi đất cho nhauQuy định pháp luật về trường hợp  đổi đất cho nhau

Giữa các chủ thể có tài sản trao đổi cho nhau tài sản, đó là một điều rất bình thường và hoàn toàn có thể thực hiện được nếu các bên đồng ý. Tài sản ở đây có thể là tiền hoặc hiện vật, đối với các hiện vật mà chúng ta có thể cầm, nắm được thì hầu như không có vấn đề gì cũng như không có nhiều thắc mắc. Tuy nhiên, đối với những tài sản có giá trị ví dụ như bất động sản cụ thể là đất đai thì có đổi được không? Nếu được thì làm như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu các bên? Đó hẳn là vấn đề không phải ít gặp trên thực tế nhưng để hiểu đúng, hiểu đủ và thực hiện một cách có hiệu quả thì không phải ai cũng biết. Câu chuyện sau đây là một ví dụ:

Gia đình anh A có phần đất phía trước nhỏ nhưng phía sau lại rộng, trong khi gia đình anh B lại có mảnh đất tiếp giáp với đất của anh A thì ngược lại. Với mong muốn đất của hai nhà đều được vuông vứt, gia đình anh A và gia đình anh B đều có mong muốn và đã thỏa thuận về việc đổi một phần đất cho nhau, việc đổi đất này đã được hai bên thông qua, nhưng chỉ qua lời nói và cả hai đều rất hài lòng với việc đổi đất này. Tuy nhiên, có thể thấy đây là tài sản có giá trị lớn đồng thời trong quá trình sử dụng mặc dù hai bên không có mâu thuẩn, nhưng các bên đều có những nhu cầu riêng, cần sử dụng tới phần đất hoán đổi kia, khi đó phát sinh hàng loạt các thủ tục liên quan về mặt pháp lý mà chính anh A và anh B đều cảm thấy cần phải làm rõ về mặt pháp lý đối với sự chuyển đổi này, chưa kể nếu cứ để như vậy sau này nếu có tranh chấp xảy ra chắc chắn sẽ phức tạp rất nhiều.

Trường hợp như của gia đình anh A và anh B trong thực tế xảy ra rất nhiều và hầu hết các trường hợp chủ yếu thực hiện bằng lời nói, có những trường hợp do tin tưởng nhau, có trường hợp do ngại về thủ tục pháp lý nên không làm hoặc không muốn làm và cũng có khá nhiều trường hợp tranh chấp xảy ra liên quan đến việc đổi đất này.

Việc đổi một phần đất cho nhau bằng miệng chỉ là thỏa thuận giữa các bên mà hoàn toàn không được pháp luật công nhận, đồng thời việc làm trên còn tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và có thể hình thành những tranh chấp có thể xảy ra sau này. Bởi về mặt pháp lý, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các bên đều thể hiện diện tích, cũng như hình dáng, vị trí thửa đất của mỗi bên và đều đó được pháp luật quy định cũng như thừa nhận một cách rõ ràng. Theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì Nhà nước vẫn công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, tức là người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, nhưng phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bởi, theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 thì hành vi sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xác định là hành vi bị nghiêm cấm.

Trong trường hợp này, để thực hiện việc chuyển đổi đất một cách hợp pháp, hai bên gia đình anh A và anh B, có thể ký kết hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất để chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất mà hai bên đang muốn đổi đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, anh A và anh B là người sử dụng đất hợp pháp với các phần đất, thì họ hoàn toàn được quyền thực hiện việc chuyển đổi một phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013, như phải có: Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; Trong thời hạn sử dụng. Đồng thời, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính.

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau, phải tiến hành thủ tục tách thửa đối với phần diện tích đất hai gia đình muốn chuyển đổi cho nhau, và vấn đề kế tiếp được đặt ra đó là quy định về diện tích tách thửa, việc tách thửa đất đối với phần diện tích đất của các bên cần đảm bảo diện tích tối thiểu được tách thửa đất theo từng loại đất được quy định tại Quyết định về diện tích tối thiểu được tách thửa của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất.

Đa số các trường hợp chuyển đổi đất cho nhau, đều vướng phải tình trạng không đủ diện tích tách thửa, khi đó nhiều người không biết quy định pháp luật và không tiếp tục thực hiện vì nghĩ không thể thực hiện. Liên quan về vấn đề này, theo quy định tại  Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu cụ thể như sau:

- Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày văn bản quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Không được công chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới.

Đồng thời, cũng theo quy định của Luật Đất đai thì trước khi thực hiện việc chuyển đổi cần phải xem xét về mục đích sử dụng đất của các bên, nếu đất cần chuyển đổi là đất nông nghiệp thì cần phải thỏa mãn các điều kiện theo luật định, bởi theo quy định tại Điều 190 về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ

Sau khi tách thửa đất thì hai bên có thể cùng nhau ký hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất cần chuyển đổi. Vì như đã nói ở trên, hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Với những quy định đã nên trên, thì việc chuyển đổi đất hay một phần diện tích đất đều không phải là một vấn đề đơn giản, điều đó phải thỏa mãn những điều kiện cũng như phải tuân thủ theo đúng quy định pháp luật. Có thể thủ tục pháp lý khá nhiều và tuân thủ những quy định pháp luật về đất đai và những văn bản pháp luật có liên quan nhưng không phải là không thể thực hiện. Do đó, người dân nếu muốn thực hiện việc chuyển đổi theo đúng nhu cầu của mình cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật để làm đúng, làm đủ các bước và hoàn chỉnh quá trình chuyển đổi của mình theo đúng quy định pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và hạn chế những rủi ro, tranh chấp có thể phát sinh.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 19/02/2020Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 19/02/2020

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 19 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản, công cụ dụng cụ của Ban quản lý công trình giao thông và đô thị huyện Châu Thành, tài sản cụ thể như sau:

         

Số TTTên tài sảnSố lượngGhi chú
01Xe lu 03 tấn01Xe cũ đã qua sử dụng
02Bàn nước bằng kiếng, chân Inox (1,8x0,72)01Cũ, đã qua sử dụng
03Ghế mũ (dựa)17Cũ, đã qua sử dụng
04Ghế mũ (đôn)04Cũ, đã qua sử dụng
05Tủ hồ sơ sắt08Cũ, đã qua sử dụng
06Két sắt01Cũ, đã qua sử dụng
07Tủ để két sắt (0,45x0,55x0,5)01Cũ, đã qua sử dụng
08Máy vi tính màn hình LG03Hư hỏng
09Máy photo01Hư hỏng
10Quạt treo tường06Hư hỏng
11Quạt trần02Hư hỏng
12Tủ lạnh01Cũ, đã qua sử dụng
13Tủ đựng sách01Cũ, đã qua sử dụng
14Bàn họp01Cũ, đã qua sử dụng
15Giường sắt02Cũ, đã qua sử dụng
16Kệ sắt01Cũ, đã qua sử dụng
17Máy bơm nước01Cũ, đã qua sử dụng
18Máy cắt cỏ Gx25 Honda01Cũ, đã qua sử dụng
19Máy cắt cỏ RM 31101Cũ, đã qua sử dụng
20Máy dầm bàn01Cũ, đã qua sử dụng
21Xe đẩy bằng sắt01Cũ, đã qua sử dụng
22Chân đèn công viên08Hư hỏng
23Xe lu 800kg01Hư hỏng
24Máy tưới nhựa + thùng nấu nhựa01Hư hỏng

          - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 27.055.000đ (Hai mươi bảy triệu, không trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

          - Tài sản được quản lý tại: Ban quản lý công trình giao thông và đô thị huyện Châu Thành; địa chỉ: thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: Tài sản thuộc quyền sở hữu của Ban quản lý công trình giao thông và đô thị huyện Châu Thành quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

1. Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 20/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc) tại Ban quản lý công trình giao thông và đô thị huyện Châu Thành; địa chỉ: thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. (Xem tài sản liên hệ đ/c Phượng, số điện thoại: 0947488301).

2. Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 30/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

3. Thời gian khách hàng tham gia đấu giá nộp tiền đặt trước: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 03, 04, 05/3/2020 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 5.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

4. Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 06/3/2020 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 25 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Trần Văn Nhịn và bà Lê Thị A, cư ngụ tại: ấp Phú Long, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 1.244,3 m2;

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 43, tờ bản đồ số 03.     

2. Cây trồng trên đất:

- Bưởi da xanh (loại 3): 09 cây 

- Bưởi da xanh (loại 2): 13 cây

- Chôm chôm (loại 2): 06 cây

- Mận (loại 1): 04 cây

- Dừa (loại 2): 03 cây

- Sầu riêng (loại 1): 02 cây

- Tắc (loại 1): 05 cây

- Nhãn (loại 1) : 01 cây

- Sa kê lớn (loại 1): 01 cây

- Xoài (loại 2): 03 cây

- Dâu (loại 2): 04 cây

- Trúc (loại 1): 02 bụi

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Long, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Trần Văn Nhịn và bà Lê Thị A, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 238.488.011đ (Hai trăm ba mươi tám triệu, bốn trăm tám mươi tám ngàn, không trăm mười một đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế. Các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 26.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 20/02/2020 đến 17 giờ ngày 20/03/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 20/02/2020 đến 17 giờ ngày 20/03/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 20, 23, 24/3/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 25/3/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 27 (KÈM QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 01 (một) tàu cá của ông Trần Chí Trung, hiện cư ngụ tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

* Tàu cá biển số đăng ký BT-93739-TS:

- Về đặc điểm tàu:

+ Số đăng ký: BT-93739-TS

+ Tên tàu: CHÍ TRUNG 2

+ Chủ tàu: Trần Chí Trung

+ Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

+ Loại tàu: Tàu cá

+ Công dụng: Khai thác thủy sản

+ Năm/Nơi đóng: 1999, tại Trà Vinh

+ Mẫu thiết kế dân gian, cơ quan thiết kế: Dân gian

- Về đặc điểm kỹ thuật:

+ Tải trọng hàng hóa: 53,8 tấn

+ Vật liệu vỏ: Gỗ

+ Chiều dài thiết kế: 22,10m

+ Chiều rộng thiết kế: 6,6m

+ Chiều cao mạn: 2,90m

+ Chiều chìm: 2,40m

+ Mạn khô: 0,50m

+ Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO 10V26C,

+ Số máy A10713

+ Tổng công suất động cơ: 450CV

+ Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

+ Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Về trang bị khai thác tàu:

+ Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa; sau lái tàu có 01 (một) bồn nhựa 1.000 lít.

+ Trên tàu không có trang thiết bị vô tuyến la bàn, định vị

+ (01 (một) máy tơi ngang (kéo cáp, lưới).

+ 01 (một) mỏ neo khoảng 150 kg.

+ 01 (một) cẩu sắt ba chân.

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu và đã được kéo lên bờ.

* Tài sản đang được ông Trần Minh Trí (cha ruột của ông Trần Chí Trung) quản lý tại: thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trần Chí Trung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá là: 1.009.332.994đ (Một tỷ, không trăm lẻ chín triệu, ba trăm ba mươi hai ngàn, chín trăm chín mươi bốn đồng).

*Lưu ý: Giá trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí; các vấn đề có liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu do người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 200.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 20/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 20/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ phút đến 17 giờ ngày 03, 04, 05/3/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 06/3/2020. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá địa chỉ tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 – 0275.3512081 – 0275.3512083 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.

19/02/2020 9:00 SAĐã ban hành
Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?

Vợ chồng chung sống với nhau là tình nghĩa, là trách nhiệm, là cùng nhau vun đấp, xây dựng cho tổ ấm hạnh phúc của mình. Vợ chồng cùng nhau chăm lo cho gia đình và tạo ra của cải, vật chất để phục vụ đời sống gia đình và ai cũng mong ước gia đình mình luôn được vui vẽ, hạnh phúc, kinh tế được vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm đẹp, mọi việc luôn thuận lợi, khi bước vào đời sống hôn nhân, ai cũng mong muốn hạnh phúc nhưng không phải ai cũng đạt được và có những trường hợp vì lý do nào đó vợ chồng dẫn đến việc chia tay, có người chia tay trong êm đẹp, nhưng cũng có người chia tay trong mâu thuẫn, tranh cãi và tranh giành một cách gay  gắt, hầu hết những trường hợp chia tay mang tính "ầm ĩ" ấy là có liên quan về tài sản.

Có trường hợp, tại thời điểm ly hôn có tranh chấp với nhau về tài sản, nhưng cũng có trường hợp khi ly hôn, chỉ yêu cầu giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết về tài sản mặc dù có tài sản chung. Đối với trường hợp này, một số cặp vợ chồng vì muốn ly hôn nhanh nên muốn giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết tài sản để tránh tình trạng kéo dài, một số cặp vợ chồng vì lý do thỏa thuận được vấn đề về tài sản nên không yêu cầu giải quyết nhưng sau khi đã ly hôn thì phần lớn các cặp vợ chồng lại không thỏa thuận được, hoặc một bên không thực hiện những thỏa thuận ban đầu về việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng ly hôn, trước đây thỏa thuận được về việc phân chia tài sản là đất đai, nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi đã ly hôn thì không thỏa thuận được và tài sản trên vẫn là tài sản chung do chồng hoặc vợ đứng tên. Một số người không hiểu quy định pháp luật nên cho rằng khi ly hôn không yêu cầu chia thì ly hôn xong rồi không có quyền yêu cầu giải quyết; hoặc một bên vợ hoặc chồng đứng tên thì tài sản thuộc về người đó, không thể chia được là một ví dụ.

Theo quy định tại hhoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn thuộc một trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, khi có tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn, các bên vợ hoặc chồng đều có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân năm 2014 và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Song song đó, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều như: Điều 60 quy định về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn; Điều 61 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình; Điều 62 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn; Điều 63 quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn và Điều 64 quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 như đã nêu trên của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối với vấn đề chia tài sản là quyền sử dụng đất thì Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.

Từ những quy định pháp luật đã nên trên, thì việc chia tài sản khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều có thể thực hiện được, vì tùy từng thời điểm phát sinh tranh chấp mà vợ, chồng hoặc các bên vợ hoặc chồng có yêu cầu giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, và sẽ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và các luật khác có liên quan. Do đó, việc cho rằng tài sản do ai đứng tên sẽ thuộc về người đó và sau khi đã ly hôn, nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng thì sẽ không được giải quyết, đó hoàn toàn là những quan điểm chưa đúng, người dân cần suy nghĩ kỹ trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng đặc biệt là đối với hôn nhân, đồng thời cũng cần tìm hiểu thêm những quy định pháp luật để làm đúng, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh tình trạng hiểu sai lệch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bản thân.

30/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 18 tại xã Phước Long, Giồng Trôm, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 18 tại xã Phước Long, Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
30/01/2019 9:00 SAĐã ban hành
Những vấn đề về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động theo quy định mới của Bộ Luật lao động Những vấn đề về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động theo quy định mới của Bộ Luật lao động

Bộ luật lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2019. Theo đó trong điều kiện lao động bình thường, tuổi nghỉ hưu của người lao động (NLĐ) được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi nam đủ 62 tuổi vào năm 2028, nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035.

Đây chính là chính sách lớn có tác động đến hàng chục triệu NLĐ ở Việt Nam. Tuy nhiên việc tác động nhiều ít ra sao còn phụ thuộc vào từng đối nhất nhất định. Nhìn vào tổng thể chung, có người cho rằng đối với lực lượng công chức, viên chức nhà nước sẽ không chịu sự tác động quá lớn, nhưng với công nhân lao động thì sẽ gặp khó khăn hơn.

Bộ luật lao động (sửa đổi) lần này tăng độ tuổi nghỉ hưu là hoàn toàn phù hợp theo chủ trương nâng tuổi nghỉ hưu theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW. Tức là việc tăng độ tuổi nghỉ hưu phải theo những lộ trình và tầm nhìn dài hạn, đặt chủ trương đó trong sự tác động tổng thể, cần xem xét đến các vấn đề về thất nghiệp, việc làm, an sinh của xã hội. Có thể nói lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu theo BLLĐ (sửa đổi) vừa được thông qua theo chúng tôi nhận thấy là đã xem xét, nghiên cứu kỹ nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực. Đối với NLĐ nam phải sau 8 năm nữa (tức là đến năm 2018) tuổi nghỉ hưu mới tăng đến 62 tuổi, NLĐ nữ phải đến 15 năm sau (đến năm 2035) mới tăng lên 60 tuổi. Với lộ trình dài như trên chính là để tránh sự “gây sốc” trong việc thực hiện chính sách.

Đối với một số đối tượng NLĐ trực tiếp sản xuất và một số ngành nghề không nằm trong danh mục ngành nghề nặng nhọc - độc hại - bị suy giảm khả năng lao động, hoặc không phải lao động ở khu vực có điều kiện KT-XH khó khăn thì việc đảm bảo đến độ tuổi nghỉ hưu theo luật định ít nhiều sẽ có sự băn khoăn, ảnh hưởng nhất định, nhất là việc đảm bảo sức khỏe để theo nghề. Ví dụ như NLĐ hoạt động trong nghề dệt may, da giày, thủy sản…, là những ngành nghề công nhân lao động tham gia tương đối phổ biến hiện nay. Trong thực tế vẫn có một số chủ doanh nghiệp hạn chế sử dụng lao động sau tuổi trung niên đối với nhóm ngành nghề này. Đã có trường hợp doanh nghiệp tìm cách chuyển đổi, cắt hợp đồng, cho nghỉ việc NLĐ khi chủ doanh nghiệp cho rằng độ tuổi NLĐ ở mức độ nào đó không còn phù hợp, không đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh của họ. Qua đó cho thấy sự sàng lọc nghề nghiệp của thị trường lao động sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống NLĐ sau này. Khi bị đưa ra khỏi ngành nghề cũ, NLĐ nếu không có sự chuẩn bị trước cho việc chuyển đổi ngành nghề chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, không biết phải làm gì, trong lĩnh vực nào cho phù hợp. Vì vậy muốn giải quyết triệt để vấn đề trên, ngay từ bây giờ Nhà nước và trực tiếp chính NLĐ phải có định hướng trong việc đào tạo nghề, thận trọng lựa chọn hướng đi nghề nghiệp cho mình, chuyên nghiệp hóa lĩnh vực nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Tuy lộ trình còn trên dưới 10 năm nữa để thực hiện, nhưng sự chuẩn bị của XH về vấn đề trên hiện tại không thể gọi là sớm được.

Trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng; việc sửa đổi pháp luật về lao động những lần trước đây và nhất là việc nâng độ tuổi nghỉ hưu trong lần sửa đổi lần này cho thấy pháp luật nước ta ngày càng sát với các tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác theo quy định mới, độ tuổi nghỉ hưu giữa NLĐ nam và nữ chênh lệch chỉ còn là 3 tuổi (nam 65 tuổi, nữ 62 tuổi) so với hiện nay là 5 tuổi. Đây cho thấy tiêu chuẩn về bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi bình đẳng giữa nam và nữ, tránh phân biệt đối xử đã cụ thể hơn trong pháp luật lao động. Tuy nhiên lộ trình tăng tuổi hưu như đã nêu cũng có sự xem xét, tránh sự tác động lớn, đột ngột đến NLĐ giữa nam và nữ, lộ trình tăng tuổi hưu của nữ sẽ được thực hiện trong 15 năm, trong khi với nam chỉ là 8 năm.

Có thể nói tăng tuổi nghỉ hưu là chính sách tác động rất lớn đến NLĐ mà Nhà nước và XH chắc chắn đã dự báo và tiên liệu được. Chính sự thay đổi này gây ra những băn khoăn từ người dân nói chung, NLĐ nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta cần nên hiểu rằng nâng tuổi nghỉ hưu ở nước ta nhưng có lộ trình khá dài; mục đích chính của chính sách này cũng chính là nhằm đảm bảo tốt hơn cho quan hệ lao động, đưa pháp luật nước ta tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn quốc tế khi mà NLĐ Việt Nam ngày càng có trình độ tay nghề càng cao, tính chuyên nghiệp trong lao động càng thể hiện rõ nét. Trước mắt cả hệ thống chính trị, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, các tổ chức đoàn thể, nhất là hệ thống Công đoàn cần nâng cao trách nhiệm vận động và tuyên truyền, đưa chủ trương đúng đắn về nâng độ tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong pháp luật lao động sớm đi vào cuộc sống.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
TỔ CHỨC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN - VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRETỔ CHỨC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN - VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH TỔ CHỨC ĐẤU GIÁ TÀI SẢN/CHI NHÁNH DOANH NGHIỆP ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

 (Tính đến ngày 31/7/2019)

Danh sách tổ chức đấu giá tài sản và chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản.doc

15/08/2019 4:00 CHĐã ban hành
Quy định về việc tặng quà và nhận quà tặngQuy định về việc tặng quà và nhận quà tặng

          Ngày 01 tháng 7 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng, bao gồm 11 Chương và 89 điều.

Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng; Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức này thực hiện các quy định tại Chương VII của Nghị định. Trong đó các nội dung về việc tặng quà, nhận quà, báo cáo nộp lại quà tặng, xử lý quà tặng, xử lý vi phạm quy định về tặng quà và nhận quà tặng được quy định trong Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được xem là nổi bật với nội dung cụ thể như sau:

          Thứ nhất, quy định về việc tặng quà

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn chỉ được sử dụng tài chính công, tài sản công để làm quà tặng vì mục đích từ thiện, đối ngoại và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật; Việc tặng quà phải thực hiện đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định của pháp luật; cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị mình theo đúng quy định của pháp luật.

          Thứ hai, quy định về việc nhận quà tặng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp không từ chối được thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định về xử lý quà tặng.

Thứ ba, quy định về báo cáo, nộp lại quà tặng

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải giao lại quà tặng cho bộ phận chịu trách nhiệm quản lý quà tặng của cơ quan, đơn vị đó để xử lý theo quy định về xử lý quà tặng.

           Người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và nộp lại quà tặng để xử lý quy định về xử lý quà tặng trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng. Nghị định quy định cụ thể báo cáo được thể hiện bằng văn bản và có đầy đủ các nội dung: Họ, tên, chức vụ, cơ quan, địa chỉ của người tặng quà; loại và giá trị của quà tặng; thời gian, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể khi nhận quà tặng; mối quan hệ với người tặng quà.

          Thứ tư, quy định về xử lý quà tặng

Đối với quà tặng bằng tiền, giấy tờ có giá thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp nhận, bảo quản và làm thủ tục nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Đối với quà tặng bằng hiện vật, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, bảo quản và xử lý bằng cách xác định giá trị của quà tặng trên cơ sở giá của quà tặng do cơ quan, đơn vị, cá nhân tặng quà cung cấp (nếu có) hoặc giá trị của quà tặng tương tự được bán trên thị trường. Trong trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì có thể đề nghị cơ quan có chức năng xác định giá; Quyết định bán quà tặng và tổ chức công khai bán quà tặng theo quy định của pháp luật; Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu được sau khi trừ đi chi phí liên quan đến việc xử lý quà tặng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán quà tặng.

Đối với quà tặng là dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục - đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước hoặc ngoài nước, dịch vụ khác thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ về việc không sử dụng dịch vụ đó.

Đối với quà tặng là động vật, thực vật, thực phẩm tươi, sống và hiện vật khác khó bảo quản thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể và quy định của pháp luật về xử lý tang vật trong các vụ việc vi phạm hành chính để quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xử lý quà tặng, cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý quà tặng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người tặng quà hoặc Cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tặng quà để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Thứ năm, quy định về xử lý vi phạm quy định về tặng quà và nhận quà tặng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng cho Nhà nước. Cá nhân sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng thẩm quyền, không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nhà nước.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm quy định về nhận quà tặng, xử lý quà tặng, người có chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định về nhận quà tặng, báo cáo, nộp lại quà tặng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nhà nước.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2019.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Kiểm tra công tác phối hợp  liên ngành về trợ giúp pháp lý tại các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mỏ Cày BắcKiểm tra công tác phối hợp  liên ngành về trợ giúp pháp lý tại các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mỏ Cày Bắc

Ngày 12 tháng 12 năm 2019, Hội đồng phối hợp liên ngành về Trợ giúp pháp lý tỉnh Bến Tre (Hội đồng TGPL tỉnh) do ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp – Phó Chủ tịch Hội đồng TGPL tỉnh làm Trưởng đoàn cùng lãnh đạo một số ngành tố tụng tỉnh đã có cuộc kiểm tra về công tác phối hợp thực hiện TGPL tại các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mỏ Cày Bắc.

kiem-tra-hoi-dong1.gif

Qua thực tế kiểm tra cho thấy sau khi Thông tư liên tịch số 10 ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (Thông tư liên tịch số 10) quy định về phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng được các Ngành trung ương ký ban hành và đã được Hội đồng TGPL tỉnh triển khai trên phạm vi toàn tỉnh; tại huyện Mỏ Cày Bắc cơ quan công an huyện đã niêm yết công khai bản thông tin pháp luật về TGPL, thường xuyên kiểm tra, kịp thời các bảng thông tin, hộp tin tại nơi tiếp công dân ở Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nhà tạm giữ công an huyện. Trong giai đoạn điều tra cũng như quản lý giam giữ, các nơi này điều tiến hành giải thích cho tất cả các đối tượng bị can, người bị tạm giữ, bị hại…; nếu xác định được đối tượng TGPL thì Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nhà tạm giữ hướng dẫn cách soạn đơn, chuyển yêu cầu, thông tin về để Trung tâm TGPL tỉnh thực hiện yêu cầu của đối tượng.

kiem-tra-hoi-dong2.gif

Tại Viện kiểm sát nhân dân huyện, Hội đồng TGPL tiến hành kiểm tra các hồ sơ cho thấy ngay từ khi thụ lý vụ án, Kiểm sát viên đã phối hợp với Điều tra viên, Thẩm phán thực hiện tốt việc giải thích quyền được TGPL cho những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền của người được TGPL, không bỏ sót các đối tượng được TGPL được tiếp cận dịch vụ nhân văn này. Lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện cho biết: thời gian qua cơ quan này đã rất nghiêm túc trong việc quán triệt, triển khai các nội dung phối hợp theo Thông tư liên tịch số 10. Việc ghi chép vào sổ theo dõi TGPL tại Tòa được chú trọng. Trong năm tổng số trường hợp được TGPL trong quá trình tố tụng tại Tòa án là 12 trường hợp. Các Luật sư cộng tác viên và Trợ giúp viên Trung tâm TGPL khi làm việc với Tòa chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung bào chữa, tranh luận, qua đó đã làm sang tỏ tình tiết của vụ án…

Đánh giá kết thúc buổi làm việc, ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp – Trưởng đoàn kiểm tra đánh giá cao cơ chế phối hợp TGPL của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mỏ Cày Bắc. Việc triển khai Thông tư liên tịch 10 trên địa bàn được các cơ quan liên quan tập trung triển khai tốt, công tác truyền thông về TGPL tại các cơ quan được kiểm tra được thực hiện nghiêm túc, thuận tiện để người dân đến đọc và nắm thông tin về TGPL. Tỷ lệ số vụ việc TGPL trong tố tụng dân sự cao gấp nhiều lần số vụ án hình sự được TGPL cho thấy việc thực hiện các giải pháp không bỏ lọt đối tượng TGPL trong lĩnh vực tố tụng dân sự với nhiều giải pháp, biện pháp đồng bộ mà Hội đồng TGPL tỉnh triển khai từ đầu năm 2019 đã phát huy đưiợc hiệu quả cao; cụ thể và rõ nét nhất là trên địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc.

Trưởng đoàn kiểm tra thay mặt Hội đồng cũng đã kiến nghị Huyện ủy, UBND huyện Mỏ Cày Bắc trong thời gian tới tiếp tục quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan tố tụng huyện thực hiện nhiệm vụ phối hợp về TGPL để những người dân, đặc biệt là người yếu thế, người nghèo trên địa bàn huyện được tiếp cận tốt nhất với dịch vụ TGPL do Nhà nước cung cấp.

12/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 30/01/2020Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 30/01/2020

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 06 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của hộ ông Cao Thanh Vân và bà Nguyễn Thị Âu; cùng địa chỉ thường trú tại: : ấp 6, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

- Quyền sử dụng đất diện tích 12.643m2

- Mục đích sử dụng: đất LUA

- Thuộc thửa đất số 150, ờ bản đồ số 3

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X945397 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02474QSDĐ/3004QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre cấp ngày 21 tháng 11 năm 2003 đất cấp cho Hộ ông Cao Thanh Vân (theo số liệu chính quy diện tích 16.052,8m2, thửa số 4, tờ bản đồ số 32, mục đích sử dụng đất nuôi trồng thủy sản.

* Tài sản tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Cao Thanh Vân và bà Nguyễn Thị Âu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 1.043.432.000đ (Một tỷ, không trăm bốn mươi ba triệu, bốn trăm ba mươi hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá tài sản là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá tài sản là 200.000.000đ/hồ sơ nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 03/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 03/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 03, 04, 05/3/2020 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 06/3/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 08 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm:

1. Xe mô tô biển số 52S1-0510, hiệu LEVIN, màu đỏ đen, số máy VTTJL1P52FMHR008178, số khung RRKWCDUMFX008178, xe Trung Quốc, xe đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 5.000.000 đồng.

2. Xe mô tô 02 bánh biển số 71B1-817.42, nhãn hiệu SYM Attila, màu đỏ, số loại M9T, loại xe hai bánh, dung tích 124, số máy VMEM9B412712, số khung J113ME412712. Hiện trạng xe đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 3.000.000 đồng.

3. Xe đạp màu trắng, hiện trạng đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 500.000 đồng

4. Xe mô tô hiệu Sirius, biển số 71B1-119.66, số khung RLC85C6JOEY053084, số máy 5C6J053099, dung tích 110cm3 (có giấy đăng ký xe kèm theo). Hiện trạng xe đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 10.100.000 đồng.

5. Xe mô tô biển số 64D1-480.60, loại xe hai bánh, nhãn hiệu Suzuki, số loại Raider, màu đen đỏ, số máy CGA 1519617, số khung RLSDL 11ANKV119664 (có giấy đăng ký xe kèm theo). Hiện trạng xe đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 34.000.000 đồng.

6. Xe mô tô biển số 71B3-778.96, nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu xanh dương, số khung RLHJF6324HZ292732, số máy JF63E-2351355 (có giấy đăng ký xe kèm theo). Hiện trạng xe đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 21.000.000 đồng.

7. Điện thoại di động, cân điện tử

- Hiệu Samsung Galaxy-J2Pro ;

- Hiệu Nokia màu đen;

- Hiệu OPPO, model Neo7s;

- Hiệu LG màu đen

- Hiệu Nokia màu đen

- Hiệu Samsung màu trắng

- Hiệu mobell màu đen

- Hiệu OPPO màu trắng;

- Hiệu Nokia màu đen;

- Hiệu Sam sung màu đen;

- Hiệu Samsung màu đen

- Hiệu Nokia màu trắng đỏ.

- Hiệu Hotwav.

- Hiệu Nokia màu trắng.

- Hiệu Nokia màu đen.

- Hiệu Iphone loại 6S plus màu xám.

- Hiệu Noki 105 màu xanh đen.

- Hiệu gigi màu xanh.

- Hiệu Nokia 105 màu đen.

- Hiệu Nokia 220 màu đỏ đen.

- Hiệu Samsung Galasy J5.

- Hiệu Mobistar màu đỏ đen.

- Hiệu Nokia màu xám, đen loại bàn phím.

- Hiệu Kechaoda màu đen.

- Hiệu masstel màu đen.

- Hiệu OPPO model A57, màu trắng.

- Hiệu Vell-com màu xanh dương.

- 01 cân điện tử màu đen hiệu Pocket scale.

  Điện thoại đã qua sử dụng, không xác định rõ tình trạng, gồm có 17 cái điện thoại loại bấm nút, 10 cái loại cảm ứng, được xác định giá trị là 2.850.000 đồng. Riêng 01 cân điện tử màu đen hiệu Pocket scale xác định giá trị là 0 đồng.

8. Máy các loại

- 01 máy chiếc rót mỹ thẩm đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 17.500.000 đồng.

- 01 máy nén khí hiệu PUMA đã qua sử dụng, được xác định giá trị là 8.500.000 đồng.

* Lưu ý: Tài sản bán chung nguyên lô, riêng 06 chiếc xe mô tô bán dạng đăng ký lại.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, địa chỉ: thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

     - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định Thi hành án chủ động của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+8): 102.450.000đ (Một trăm lẻ hai triệu, bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào số tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

    * Khoản tiền đặt trước: 20.400.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 30/01/2020 đến 17 giờ ngày 12/02/2020 (trong giờ làm việc) tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành (địa chỉ: thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 30/01/2020 đến 17 giờ ngày 12/02/2020 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 10, 11, 12/02/2020 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/02/2020

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 10 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là 01 (một) chiếc ô tô tải của ông Nguyễn Văn Cường; hiện cư ngụ tại: 176 ấp Hàm Luông, xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- 01 (một) Xe ôtô tải Thaco K165 đời 2016, biển số đăng ký: 71C-051.24;

          - Xuất xứ: Việt Nam, sản xuất: 2016;

          - Loại ĐS: Phương tiện vận tải đường bộ;

          - Ngành nghề: Dịch vụ vận tải, chuyên chở;

          - Hiện trạng sử dụng thực tế: Xe sử dụng cá nhân;

          - Trình trạng hoạt động: Ngưng hoạt động;

          - Loại phương tiện: Ô tô tải;

          - Nhãn hiệu: Thaco;

- Số loại: K165;

          - Số máy: JT705653;

          - Số khung: 00BKGC012851;

          - Màu sơn: Xanh;

          - Hộp số: Số sàn;

          - Kích thước bao: 5520x1810x2555 (mm);

          - Chiều dài cơ sở: 2760 mm;

          - Khối lượng bản thân: 2165 kg;

          - Số lượng hàng hóa: 2400 kg;

          - Số người cho phép: 3 chỗ đứng (ngồi).

  - Hiện tại tài sản trên đã trễ hạn kiểm định từ tháng 11 năm 2018 đến nay.

* Tài sản trên được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (Số 406E Đồng Văn Cống, khu phố Mỹ Tân, Phường 7, Thành phố Bến Tre, Tỉnh Bến Tre)

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Cường, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.  

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 220.800.000đ (Hai trăm hai mươi triệu, tám trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục đăng ký quyền sở hữu người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ ngày 30/01/2020 đến 17 giờ ngày 12/02/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: nơi quản lý tài sản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (Số 406E Đồng Văn Cống, khu phố Mỹ Tân, Phường 7, Thành phố Bến Tre, Tỉnh Bến Tre)

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 30/01/2020 đến 17 giờ ngày 12/02/2020 (trong giờ làm việc). Lệ phí hồ sơ là 200.000đ, lệ phí này không được hoàn lại.

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 10, 11, 12/02/2020 (trong giờ làm việc). Tiền đặt trước là 44.000.000đ nộp vào tài khoản trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhành Đồng Khởi.

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 9 giờ ngày 13/02/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 11 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Võ Thị Kim Liên và ông Bùi Văn Phương, cư ngụ tại: ấp Bình Xuân, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

I. Quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 3.172,1m2;

- Mục đích sử dụng: (300m2 đất ở nông thôn, 2.592m2 đất trồng cây lâu năm và 280,1m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thửa đất số: 1/70b và 1/63b, tờ bản đồ số 43.

2. Công trình xây dựng trên đất (không rõ năm xây dựng)

a) Nhà ở:         

- Nhà chính: 148,75m2. Kết cấu: móng, cột bê tông cốt thép, nền lát gạch ceramic, tường gạch, sơn nước, đòn tay gỗ, mái fifbro xi măng.

- Nhà phụ 1: 99,91m2 và nhà phụ 2: 60,48m2. Kết cấu: móng, cột bê tông cốt thép, nền xi măng, tường gạch, đòn tay gỗ, mái fifbro xi măng.

- Cấp loại nhà, số tầng: cấp 4, 1 tầng.

- Hiện trạng: công trình đã qua sử dụng, bị hao mòn do thời gian sử dụng. Kết cấu chính công trình chưa có dấu hiệu nghiêng lún. Nhà chính cửa đi không còn, nhiều vị trí tường, góc tường bị vỡ do ngoại lực tác động. Nhà phụ tường bị bong tróc vữa, mái thủng nhiều vị trí.

- Các tiệc ích khác: Điện kế riêng, hệ thống thoát nước khu vực.

b)Công trình phụ khác:

- Chuồng bò: diện tích 21m2. Kết cấu: cột bê tông cốt thép, nền xi măng, tường gạch kết hợp lưới B40, mái fibro xi măng. Hiện trạng hao mòn do thời gian sử dụng, bong tróc xi măng một số vị trí, mái thủng nhiều vị trí, lưới B40 cong vênh.

- Hầm Bioga: thể tích 8m3. Kết cấu: gạch xây, tô trong và ngoài. Hiện trạng nằm trong lòng đất, đã cũ đang sử dụng bình thường.

- Tường rào (phí sau): dài 17,5m, cao 2,6m, diện tích 45,5m. Kết cấu: tường xây gạch dày 10cm. Hiện trạng: vữa tô bị bong tróc nhiều vị trí.

- Tường rào (phía trước và 2 bên): dài 69,9m, cao 0,8m, diện tích 55,92m2. Kết cấu: hàng rào xây gạch, tô bên trong và ngoài, trụ bê tông cốt thép cao 2,5m, các trụ bê tông được nối bởi 2 thanh thép. Hiện trạng: phần thép làm hàng rào phía trên không còn, tường rào phía dưới nứt, vỡ nhiều vị trí.

- Cổng chính: ngang 3,5m, cao 3,3m, diện tích 11,55m2. Kết cấu: cột bê tông cốt thép, dán gạch ceramic, mái cổng đổ bê tông cốt thép. Hiện trạng: cổng chính không còn cửa, chưa kết nối hoàn chỉnh với hàng rào.

- Sân, đường nội bộ: diện tích 215m2, nền láng xi măng. Hiện trạng: sân bị vỡ nhiều vị trí.

- Hồ cá kiểng: dài 8m, cao 0,8m, thể tích 0,64m3. Kết cấu tường xây gạch dày 10cm tô bên trong và ngoài. Hiện trạng: hao mòn do thời gian sử dụng, bong tróc xi măng một số vị trí.

- Hồ nước lớn: 01 cái đường kính 1m, cao 1,9m, thể tích 2,983m3. Kết cấu: bê tông cốt thép, dạng hình tròn có nắp đậy. Hiện trạng: hao mòn do thời gian sử dụng, bong tróc xi măng một số vị trí.

- Hồ nước nhỏ: 04 cái, đường kính 1m, cao 1m, tổng thể tích 6,28m3. Kết cấu: bê tông cốt thép, dạng tròn có nắp đậy. Hiện trạng: hao mòn do thời gian sử dụng, bong tróc xi măng một số vị trí.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1 (6 năm tuổi): 59 cây

- Dừa loại 3 (1 đến 4 năm tuổi): 07 cây

- Dừa mới trồng (dưới 1 năm tuổi): 11 cây

- Cau có trái: 38 cây

- Cau chưa có trái: 06 cây

- Bưởi da xanh loại 2 (3 đến 6 năm): 06 cây

- Bưởi da xanh lọai 4 (1 đến 2 năm): 05 cây

- Bưởi thường loại 2 (4 đến 7 năm): 01 cây

- Chanh loại 1 (hơn 3 năm tuổi): 05 cây

- Mận loại 1 (từ 3 năm tuổi): 02 cây

- Mãn cầu loại 1 (từ 5 năm tuổi): 02 cây

- Đu đủ cho trái: 01 cây

- Chuối: 09 bụi

- Khế loại 1 (5 năm tuổi): 01 cây

- Cây kiểng ngoài đất (đường kính dưới 5cm): 19 cây

- Cây kiểng ngoài đất (đường kính 5 – 10cm): 03 cây

* Giá khởi điểm I gồm (1+2+3): 615.651.273đ (Sáu trăm mười lăm triệu, sáu trăm năm mươi mốt ngàn, hai trăm bảy mươi ba đồng).

II. Quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 2.164m2;

- Mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác;

- Thuộc thửa đất số: 1/244ª và 1/9b (thửa cũ 244); tờ bản đồ số: 38, 43.

2. Cây trồng trên đất:

- Chuối: 99 bụi

- Dừa loại 1 (trên 6 năm tuổi): 68 cây

- Dừa loại 3 (từ 1 đến 4 năm tuổi): 04 cây

* Giá khởi điểm mục II gồm (1+2): 166.772.071đ (Một trăm sáu mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi hai ngàn, không trăm bảy mươi mốt đồng).

* Tài sản (I + II) toạ lạc tại: ấp Bình Xuân, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Hồ Thị Kim Liên và ông Bùi Văn Phương, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (I+II): 782.423.344đ (Bảy trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi ba ngàn, ba trăm bốn mươi bốn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên bán theo từng mục I, II theo yêu cầu người sử dụng và giá khởi điểm đã bao gồm 2% thuế thu nhập riêng các khoản phí, lệ phí, liên quan thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá mục I là 500.000đ/01 hồ sơ, mục II là 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá I là 120.000.000đ/01 hồ sơ, tài sản II là 32.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản số 729100000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 03/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 03/02/2020 đến 17 giờ ngày 03/3/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 03, 04, 05/3/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ 30 phút ngày 06/3/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

07/02/2020 3:00 CHĐã ban hành
Việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội trong tình hình hiện nayViệc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội trong tình hình hiện nay

Từ khi con người sinh sống thành cộng đồng thì các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng phức tạp và phong phú hơn. Trong quá trình phát sinh và phát triển các mối quan hệ xã hội này, làm nảy sinh các vấn đề xã hội cần được quan tâm giải quyết. Để giải quyết những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của một quốc gia là phải xây dựng những chính sách xã hội nói chung, chính sách về an sinh xã hội (ASXH) nói riêng.

Cuối năm, với người Việt Nam đó là truyền thống sum vầy, chia sẻ. Để mỗi người có cái Tết ấm áp, đầy đủ, Nhà nước và cộng đồng đã thực hiện nhiều giải pháp, nhiều hành động cụ thể để làm sao mang đến cái Tết thật sự ý nghĩa với mọi người, như tặng quà người khó khăn, chuyến xe cho công nhân xa quê được về nhà ăn tết, tặng áo lạnh cho người già, cho bà con vùng cao, thăm hỏi gia đình chính sách…

Đó cũng chỉ là một phần trong chính sách ASXH ở nước ta. Sâu xa hơn, chăm lo ASXH phải là các quy định cụ thể của pháp luật trong từng lĩnh vực, như là bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động; trợ giúp xã hội đối với mọi thành viên của xã hội khi họ gặp phải rủi ro; chăm sóc sức khỏe và các chương trình bảo hiểm y tế… Trong các nội dung này của ASXH, thực hiện pháp luật về BHXH là vấn đề lớn nhất, cơ bản và ổn định nhất của chính sách ASXH ở nước ta. Bởi lẽ BHXH có đối tượng rất lớn là toàn bộ người lao động, đó là những người tạo ra của cải vật chất cơ bản cho xã hội.

Luật BHXH đã được thông qua năm 2014. Theo đó, nguồn tài chính của BHXH được hình thành và sử dụng thông qua quỹ BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành và tích lũy dần từ sự đóng góp theo luật định của các bên tham gia BHXH. BHXH càng hoạt động tốt, quỹ này càng ngày càng phát triển, góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền ASXH quốc gia. Cùng với các bộ phận khác, BHXH góp phần tích cực tạo ra  mạng lưới an toàn xã hội đối với mọi tầng lớp dân cư. Điều này cho thấy chính sách BHXH có vai trò to lớn trong hệ thống ASXH nói riêng và hệ thống chính sách xã hội nói chung của quốc gia.

Trong nền kinh tế mở cửa và cạnh tranh như hiện nay, con người có nguy cơ gặp phải rủi ro, bất lợi cao trong đời sống xã hội, làm cho con người luôn có nhu cầu về ASXH càng cao. Người lao động làm việc trên cơ sở hợp đồng lao động, họ được trả công lao động trên cơ sở giá cả của thị trường và trên cơ sở thỏa thuận. Việc cam kết bảo đảm cho người lao động về tiền lương khi làm việc và bảo đảm trả cho những rủi ro được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Đây là nền tảng của BHXH hiện đại, bởi BHXH trong nền kinh tế thị trường tồn tại, hoạt động và phát triển dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua bên thứ ba, ổ chức BHXH. Về mặt tài chính, mối quan hệ này thể hiện ở sự đóng góp có tính chất bắt buộc (đóng phí BHXH) của người sử dụng lao động và người lao động để hình thành và phát triển quỹ BHXH. Quỹ BHXH được dùng chủ yếu cho các đối tượng thụ hưởng BHXH. Song song với BHXH, trong hệ thống ASXH còn có các bộ phận khác do các quỹ công cộng hoặc cộng đồng đảm nhận như trợ giúp xã hội, trợ cấp gia đình, các dịch vụ khác được cung cấp bởi ngân sách Nhà nước hoặc của cộng đồng. Mặc dù những quỹ này có tính xã hội nhiều hơn, nhưng chỉ có thể phát huy được trong điều kiện pháp luật điều chỉnh đầy đủ và dưới sự tập trung quản lý chung của Nhà nước.

Thực tế các hoạt động mang tính ASXH ở nước ta đã được thực hiện trong dân từ khá lâu. Những câu thành ngữ “áo lành đùm áo rách”, “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”…, đã thể hiện tính cộng đồng ở nước ta và đã góp phần điều chỉnh các hành vi trong xã hội về các hoạt động mang nội dung ASXH, dần dần đã được Nhà nước xây dựng thành các chính sách về ASXH.

Bộ phận quan trọng khác trong hệ thống ASXH ở Việt Nam đó là các hoạt động cứu trợ, trợ giúp xã hội. Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nên lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi và năm nào cũng xảy ra làm một bộ phận dân cư lâm vào tình cảnh túng quẫn đã hình thành một bộ phận người dân cần được cứu trợ hay trợ giúp xã hội. Nếu như việc cứu trợ, trợ giúp này trước đây chủ yếu do Nhà nước thực hiện với những “định mức” cả về tiền và hiện vật rất mang tính bình quân, thì hiện nay, các hoạt động này đã được “xã hội hóa”, đa dạng hơn. Nguồn lực cho cứu trợ, trợ giúp xã hội đã được đa dạng hóa từ Nhà nước, người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội từ thiện và kể cả nguồn lực quốc tế. Điều cơ bản nhất, đó là Nhà nước đã tạo ra “hành lang pháp lý” và tạo điều kiện hết sức thuận lợi để phát huy các nguồn lực này nhằm hỗ trợ cho những người không may bị thiệt thòi có cơ hội vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Nhà nước vẫn giữ vai trò rất lớn trong các hoạt động cứu trợ, trợ giúp xã hội này thông qua việc xây dựng cơ chế chính sách và định hướng hoạt động.

Dịp cuối năm cũng là lúc các hoạt động trợ giúp xã hội diễn ra nhộn nhịp nhất, hông chỉ các cơ quan Nhà nước mà cả cộng đồng, các doanh nghiệp cùng chung tay thực hiện. Điều đó cho thấy ASXH ở Việt Nam còn được thực hiện phù hợp môi trường văn hóa truyền thống, đã đem lại cho nền ASXH ở nước ta một sắc thái riêng mà không phải nơi nào cũng có được. Trong sự phát triển đó pháp luật về ASXH ở nước ta có những đóng góp quan trọng. Bằng những biện pháp của mình, pháp luật ASXH tạo ra hành lang pháp lý an toàn nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong cộng đồng được bảo đảm quyền và lợi ích. Pháp luật về ASXH ngày càng thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang phấn đấu xây dựng, đó là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Tọa đàm hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11) năm 2019Tọa đàm hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11) năm 2019

Ngày 07 tháng 11 năm 2019, Sở Tư pháp đã phối hợp cùng Ban chấp hành Huyện Đoàn Thạnh Phú, Đoàn Trường Trung học phổ thông Đoàn Thị Điểm tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề "Tuổi trẻ Thạnh Phú tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2019". Đây là một trong những hoạt động thiết thực hưởng ứng Ngày Pháp luật - 09/11 trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

toa-dam-ngay-phap-luat4.gif

Năm 2019, là năm thứ 06 thực hiện Ngày pháp luật trên phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Tiếp tục kế thừa những hình thức, mô hình hưởng ứng Ngày Pháp luật đạt hiệu quả đã được trong những năm quan; kết hợp sáng tạo, đổi mới không ngừng đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân. Buổi tọa đàm diễn ra trong không khí vui tươi, sôi nỗi với sự tham gia của gần 200 đoàn viên, thanh niên, học sinh trên địa bàn huyện Thạnh Phú.

toa-dam-ngay-phap-luat3.gif

Mở đầu buổi tọa đàm các bạn được thưởng thức các tiết mục văn nghệ ca ngôi tình yêu, quê hương đất nước, tình thương bạn bè, thầy cô... do các anh chị nghệ sĩ Trung tâm văn hóa tỉnh biểu diễn. Chương trình mở màng làm cho bầu không khí trong cả hội trường ấm lên dù ngoài trời mưa rất to. Từng ánh mắt, nụ cười, tràng pháo tay của các đoàn viên, thanh niên, học sinh như tiếp thêm động lực, tạo phấn khởi cho các anh chị nghệ sĩ biểu diễn hăng say hơn, cảm xúc hơn xóa tan khoảng cách xa lạ mới gặp gỡ lúc ban đầu.

toa-dam-ngay-phap-luat2.gif

Tiếp theo chương trình các đoàn viên, thanh niên, học sinh được sinh hoạt, ôn lại ý nghĩa, mục đích của Ngày pháp luật. Theo đó, cách đây 06 năm, ngày 09/11 được công bố là Ngày Pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội. Đến nay, nội dung tinh thần của Ngày pháp luật đã và đang thẩm thấu trong đời sống, đến từng người dân, trở thành sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng; tích cực đóng góp vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò quan trọng đặc biệt, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống trở thành một yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và hiệu quả với nhiều hình thức và biện pháp phù hợp. Ngày Pháp luật là một trong những hình thức, biện pháp, là mô hình triển khai cụ thể nhằm đáp ứng các yêu cầu trên.

toa-dam-ngay-phap-luat1.gif

Không khí hội trường như lắng xuống, không phải vì chương trình giảm sức thu hút mà các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh đang chăm chú theo dõi, lắng nghe nội dung trao đổi với khách mời của buổi tọa đàm trong phần tiếp theo của chương trình. Bà Trịnh Thị Thanh Bình – Nguyên Chánh án TAND tỉnh; Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin và Bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Bến Tre và ông Võ Vũ Liêm – Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bến Tre là hai khách mời ngày hôm đó. Chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động chính của Hội, của Trung tâm được các khách mời giới thiệu khá chi tiết, trong đó đáng chú ý là các hoạt động liên quan trực tiếp đến trẻ em, người chưa thành niên, người yếu thế trong xã hội nhằm bảo vệ, động viên giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần và trợ giúp về mặt pháp lý. Những hoạt động này có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc góp phần hiện thực hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với trẻ em, người chưa thành niên và những người yếu thế trong xã hội. Tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em với ba con số một (111) được khách mời cung cấp như một con số biết nói, một thông tin khá thú vị đối với những người tham gia tại buổi đàm.

Không khí hội trường trở về với trạng thái sôi động, hào hứng với phần tiếp lửa của Tiểu phẩm "Cái ao nhà tôi" do các bạn diễn viên câu lạc bộ kịch Nhịp sống - Trung tâm văn hóa tỉnh biểu diễn. Tiểu phẩm dựa trên nền cải biên câu chuyện cổ tích "Tấm Cám", kết hợp trong đó là những tình tiết, yếu tố hiện đại, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh. Câu chuyện mang thông điệp về tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình, người hiền gặp lành, hành vi bạo lực, ức hiếp người khác sẽ bị trừng trị theo pháp luật; hãy sống hòa thuận và yêu thương lẫn nhau vì chúng ta là một gia đình...

Buổi tọa đàm được tiếp tục với sự trở lại của hai vị khách mời để trao đổi, tư vấn pháp luật cùng các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh. Nội dung này được đánh giá thành công ngoài mong đợi vì các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh có những câu hỏi rất hay, rất lý thú và sát thực tế xoay quanh các vấn đề về bạo lực học đường, hệ lụy ma túy với các bạn trẻ, đối tượng được trợ giúp pháp lý trong từng tình huống cụ thể... Điều này minh chứng rằng, các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh rất quan tâm và mong muốn tìm hiểu pháp luật.

Phần giao lưu, đố vui có thưởng vui cuối chương trình của ban tổ chức với các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh nhằm hệ thống lại những kiến thức pháp luật cần thiết mà chương trình mang đến cho các bạn cũng như đánh giá kết quả của buổi tọa đàm qua hiểu biết của các bạn, được các bạn hưởng ứng sôi nỗi, có bạn trả lời đúng, có bạn trả lời sai. Tuy nhiên, động lại trên tất cả vẫn là nụ cười vui tươi, hồn nhiên của các bạn đoàn viên, thanh niên, học sinh sau buổi tọa đàm. Một chương trình khá hiệu quả tích cực hưởng ứng Ngày pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11) trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tạo sự lan tỏa, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật cho mọi người; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phát huy nhân tố con người trong xây dựng và phát triển đất nước.

12/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/3/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/3/2019

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 31 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri quản lý đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, đấu giá nộp ngân sách, cụ thể như sau:

 

Số

TT

Số thửaSố tờ bản đồ
Tổng diện tích
(m2)
Diện tích lộ giới
(m2)
Diện tích
đấu giá
(m2)
Loại đất đấu giáGiá khởi điểm (đồng)

 

Lệ phí tham gia đấu giá (đồng)

 

Tiền đặt trước (đồng)

1. Xã Mỹ Thạnh1.136,998,51.038,4 880.140.000  
150512345,698,5247,1ONT247.100.000200.00049.000.000
222813261,1 261,1ONT208.880.000200.00041.000.000
372213263,4 263,4ONT210.720.000200.00042.000.000
472313266,8 266,8ONT213.440.000200.00042.000.000
2/ Xã Mỹ Nhơn589,5171,3418,2 250.920.000  
1262297,285,7211,5ONT126.900.000100.00025.000.000
27262292,385,6206,7ONT124.020.000100.00024.000.000
3/ Xã An Đức1.351,9400,5951,4 1.141.680.000  
12624108,629,878,8ONT94.560.000100.00018.000.000
2272410730,176,9ONT92.280.000100.00018.000.000
32824105,730,575,2ONT90.240.000100.00018.000.000
42924104,430,973,5ONT88.200.000100.00017.000.000
53024189,166,7122,4ONT146.880.000100.00029.000.000
63124102,230,871,4ONT85.680.000100.00017.000.000
73224105,230,974,3ONT89.160.000100.00017.000.000
83324108,231,177,1ONT92.520.000100.00018.000.000
93424111,231,379,9ONT95.880.000100.00019.000.000
103524114,231,582,7ONT99.240.000100.00019.000.000
113624196,156,9139,2ONT167.040.000100.00033.000.000
4/ Xã An Ngãi Trung1.722,6186,51.536,1 2.728.810.000  
124122781,3106,4674,9ONT472.430.000200.00094.000.000
284418466,314,9451,4ONT1.805.600.000500.000360.000.000
38451847565,2409,8ONT450.780.000200.00090.000.000
5/ Xã An Phú Trung420,0 420,0 684.000.000  
15191060 60,0ONT90.000.000100.00018.000.000
25201060 60,0ONT90.000.000100.00018.000.000
35211060 60,0ONT90.000.000100.00018.000.000
45221060 60,0ONT90,000,000100.00018.000.000
55271060 60,0ONT102.000.000100.00020.000.000
65181060 60,0ONT102.000.000100.00020.000.000
75171060 60,0ONT120.000.000100.00024.000.000
6/ Tân Thủy668,0 668,0ONT3.592.400.000  
1372975 75,0ONT450.000.000200.00090.000.000
2382975 75,0ONT495.000.000200.00099.000.000
3392970 70,0ONT287.000.000200.00057.000.000
4402970 70,0ONT287.000.000200.00057.000.000
5412970 70,0ONT287.000.000200.00057.000.000
6442970 70,0ONT406.000.000200.00081.000.000
7452970 70,0ONT406.000.000200.00081.000.000
8472984 84,0ONT487.200.000200.00097.000.000
9482984 84,0ONT487.200.000200.00097.000.000
7/ Vĩnh An460,0109,6350,4          588.672.000   
12523460109,6350,4ONT         588.672.000

 

500.000

 

117.000.000

Tổng cộng (37 thửa)6.348,9966,45.382,50 9.866.622.000  

 

- Tài sản tọa lạc tại: Xã Mỹ Thạnh, Mỹ Nhơn, An Đức, An Ngãi Trung, An Phú Trung, Tân Thủy và Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri quản lý, không có nhu cầu sử dụng đấu giá nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá 9.866.622.000đ (Chín tỷ, tám trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá từng thửa (như bảng kê phía trên), nộp tiền mặt hoặc chuyển vào số tài khoản số 72910000091403 của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.  Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

            * Khoản tiền đặt trước đối với từng thửa (như bảng kê phía trên), nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Xã Mỹ Thạnh, Mỹ Nhơn, An Đức, An Ngãi Trung, An Phú Trung, Tân Thủy và Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 8 giờ ngày 16/4/2019 tại: Hội trường Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Ba Tri.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 34 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lý Văn Bí, hiện cư ngụ tại: ấp Thanh Đông, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 907,90 m2;

- Loại đất: CLN (trồng cây lâu năm);

- Thuộc tờ bản đồ 08, thửa đất số 250.

2. Cây trồng các loại trên đất: 

- Dừa Loại 3 (2 năm): 03 cây

- Quít loại 2 (2 năm): 02 cây

- Cam mới trồng (dưới 1 năm): 07 cây

* Tài sản toạ lạc tại: ấp Thanh Đông, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Lý Văn Bí, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 88.259.169đ (Tám mươi tám triệu, hai trăm năm mươi chín ngàn, một trăm sáu mươi chín đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ ngày 16/4/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 - Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

 - Khoản tiền đặt trước: 17.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ đấu giá số 72910000091403 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 35 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, địa chỉ tại: ấp 4 xã Bình Thắng và khu phố 1, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

Về đất:

- Diện tích: 584,9 m2 (trong đó có 96,5m2 đất trong hành lang lộ giới);

- Mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m). Nhà 02 tầng, móng cột bê tông, cốt thép, tường xây gạch 100mm hoàn thiện sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm (chất lượng còn lại 40%).

- Nhà trệt (phía sau nhà chính): Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m), cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng xây gạch 100mm, nền lót gạch ceramic, mái lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Nhà sau: Diện tích 39,16m2 (4,4m x 8,9m), cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền tráng xi măng, mai lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía sau: Diện tích 21,9m2 (7,3m x 3m), cột bê tông cốt thép và gỗ tạp, nền tráng xi măng, mái lợp tole xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Mái che bên trong: Diện tích 44,1m2 (4,9m x 9m), mái lợp tole xi măng, nền tráng xi măng, tường xây gạch 100mm (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía trước: Diện tích 48,8m2 (3,5m x 4,2m) + (5,5m x 6,2m), mái lợp tole thiếc, cột bê tông cốt thép, nền tráng xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Cửa rào: Gồm 02 cánh cửa bằng Inox, mỗi cánh dài 190cm, cao 2,5m; 01 khung sắt cao 2,5m, dài 02m (chất lượng còn lại 30%).

* Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.467.483.191đ (Một tỷ, bốn trăm sáu mười bảy triệu, bốn trăm tám mươi ba ngàn, một trăm chín mươi một đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 293.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 16/4/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 36 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, hiện cư ngụ tại: ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1. Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 101,6m2;

- Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng gắn liền với đất

a) Nhà ở: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích: 89,98m2.

- Kết cấu chủ yếu: Nhà kiên cố cấp 4; Móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch men có lớp vữa lót; Tường xây gạch có trát vữa xi măng sơn nước hoàn thiện, phần tường mặt tiền trước nhà được ốp gạch men toàn bộ lên đến mái; Mái lợp tole sóng vuông + xà gồ gỗ; Cửa đi chính là cửa sắt kéo; Nhà không xây trần; Phòng ngủ: nền lót gạch men, cửa đi chính là cửa gỗ; Nhà vệ sinh: nền và tường ốp gạch men toàn bộ, cửa đi là cửa nhựa. Hệ thống điện, nước sinh hoạt được lắp đắt hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: Công trình đã qua sử dụng và có một số dấu hiệu hư hỏng như: sơn tường bị bong tróc nhẹ, tường xuất hiện vết nứt; nền gạch men bị trầy xước; cửa sắt, mái tole bị gỉ sét nhẹ,… Hiện các kết cấu vẫn ổn định và đang dược sử dụng bình thường.

b) Mái che: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích 11,62m2 (4,15m x 2,8m)

- Kết cấu chủ yếu: Cột sắt tròn, kèo và xà gồ bằng gỗ, mái lợp tole tráng kẽm sóng vuông.

- Hiện trạng: Mái tole và cột sắt bị gỉ sét, các kết cấu vận ổn định và sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Thành triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 763.709.712đ (Bảy trăm sáu mươi ba triệu, bảy trăm lẻ chín ngàn, bảy trăm mười hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 152.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Ấp Chợ, Xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667; website: stp.bentre.gov.vn và thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết./.

 


12/03/2019 10:00 SAĐã ban hành
Một số điểm hạn chế, bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hànhMột số điểm hạn chế, bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình đã được ban hành từ năm 1959 và chỉ được áp dụng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sau ngày hòa bình lập lại đã được Quốc hội điều chỉnh lại và thay thế từ năm 1986. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã góp phần rất lớn trong việc xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, kinh tế ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp; vì vậy ngày 9 tháng 6 năm 2000, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Luật có 13 chương 110 điều và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2001. Qua 12 năm thực hiện, Luật Hôn nhân và gia đình đã chứng tỏ được nhiều ưu điểm tích cực, góp phần phát huy vai trò trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật vẫn còn một số hạn chế bất cập, không phù hợp với thực tiễn như sau:

1. Vấn đề áp dụng tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội: “Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 Luật đã khẳng định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật  thì được tôn trọng và phát huy”. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng phong tục, tập quán để giải quyết vẫn còn nhiều kẻ hở, hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập trong việc áp dụng phong tục tập quán trong quá trình xét xử giữa các Tòa án với nhau; chưa có quy định thống nhất về quan điểm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng phong tục, tập quán

2. Quy định về điều kiện kết hôn (điều kiện về tuổi kết hôn, về sự tự nguyện trong kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn)

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn đối với nam từ hai mươi tuổi trở lên, đối với nữ từ mười tám tuổi trở lên. Như vậy, theo quy định này thì chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi 18 là đủ tuổi kết hôn. Việc quy định độ tuổi kết hôn trong Luật là chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên. Người từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn không những tạo ra sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật mà còn hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch, hạn chế quyền yêu cầu ly hôn (phải có người đại diện).

3. Quy định về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng, quyền của các bên trong giao dịch có đối tượng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

- Luật Hôn nhân và gia đình quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng. Sự không minh bạch này gây hậu quả không an toàn cho các giao dịch dân sự liên quan đến người thứ ba. Luật chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

- Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Quy định này chưa đảm bảo về quyền lợi của người thứ ba. Trên thực tế phát sinh nhiều giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện, không phải thực hiện nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình nhưng lợi ích thu được cũng phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình như: tiền thu được từ chơi hụi (họ) được dùng để mua nhà, đất cho gia đình.

4. Quy định về quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình

- Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì ông bà, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng. Con cháu có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Mặc dù các chế định này được quy định trong nhiều văn bản khác nhau nhưng trong thực tế không ít trường hợp ông bà, cha mẹ ngược đãi con cháu và ngược lại nhưng lại không có chế tài đủ mạnh để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong vấn đề này. Do đó, đề nghị nên có quy định xử phạt mang tính nghiêm khắc hơn để điều chỉnh vấn đề này.

- Luật Hôn nhân và gia đình chưa phân định rõ đâu là quyền đâu là nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình. Việc quy định như trong Luật là chưa chặt chẽ, khó có thể xác định nghĩa vụ bắt buộc cần phải thực hiện.

5. Quy định về căn cứ xác lập quan hệ cha mẹ con (dựa trên sự kiện sinh và nhận nuôi con nuôi), vấn đề mang thai hộ

- Khi người phụ nữ yêu cầu xác định cha cho con; về nguyên tắc họ phải chứng minh một người đàn ông nào đó là cha của đứa bé, họ có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, nếu cần thiết có thể yêu cầu giám định gen và họ phải chịu chi phí giám định gen. Quy định này chưa thật sự phù hợp, chưa đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới. Bởi khi sinh con ngoài giá thú, người phụ nữ đã chịu rất nhiều sự thiệt thòi từ khi mang thai, sinh con và nuôi con một mình, bên cạnh đó là sự trốn tránh trách nhiệm của người cha đứa trẻ. Việc họ yêu cầu xác định cha cho con là một quyền chính đáng. Nếu họ không xuất trình được đầy đủ chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con và phải yêu cầu giám định gen, trong trường hợp này nếu người đàn ông nào đó được xác định là cha của đứa trẻ thì người đó phải trả chi phí giám định hoặc ít nhất thì là một phần chi phí giám định vì đó là trách nhiệm chung của hai người với tư cách là cha, là mẹ của đứa trẻ.

- Trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản là nhận tinh trùng của người khác để người vợ sinh con thì sau này người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Quy định này cần được quy định cụ thể trong Luật hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đảm bảo quyền lợi của người vợ và con.

- Vấn đề mang thai hộ: Pháp luật nước ta chưa công nhận việc mang thai hộ. Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề mang thai hộ đã diễn ra. Xét về mặt pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Chưa có quy định nào điều chỉnh vấn đề này.

6. Quy định về ly hôn (căn cứ ly hôn, đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn)

- Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tình trạng ly hôn xảy ra ngày càng nhiều gây ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội. Đồng thời, việc hòa giải ở cơ sở cũng góp phần hạn chế tình trạng ly hôn. Do đó, thủ tục hòa giải ở cơ sở nên là thủ tục bắt buộc khi ly hôn.

7. Quy định về hôn nhân có yếu tố nước ngoài (đặc biệt quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài)

- Để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ cần có quy định về cơ chế bảo vệ các cô dâu Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, quy định thêm vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội, vai trò của gia đình, quy định về trang bị kiến thức cơ bản cho các cô gái kết hôn với người nước ngoài.

Mặt khác, hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân diễn ra dưới nhiều hình thức trá hình tinh vi. Nhiều trường hợp môi giới kết hôn đã hạ thấp phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng thuần phong, mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Phần lớn những người phụ nữ Việt Nam trước khi ra nước ngoài sống cùng chồng đều chưa được tư vấn đầy đủ, thiếu những hiểu biết cần thiết về pháp luật, ngôn ngữ, phong tục tập quán của nước sở tại. Do đó, cần có những chế tài mạnh để xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân.

- Vấn đề công nhận việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài trong thời gian qua khá nhiều, đặc biệt là các trường hợp kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc. Thực tế trong quá trình giải quyết hồ sơ, qua phỏng vấn hai bên nam nữ yêu cầu công nhận việc kết hôn không giao tiếp được với nhau bằng một ngôn ngữ chung, không biết gì về hoàn cảnh của nhau, thậm chí mới gặp gỡ một lần... Qua đó cho thấy việc kết hôn còn gượng ép, chưa nhằm mục đích xây dựng gia đình nhưng không có cơ sở từ chối do chưa có căn cứ pháp lý để từ chối không ghi chú kết hôn.

- Về thủ tục đăng ký kết hôn: Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (được sửa đổi tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 69/2006/NĐ-CP) thì đối với người kết hôn là công dân Việt Nam đang định cư tại nước ngoài thì giấy tờ chứng minh còn độc thân là xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền mà người xin kết hôn đang cư trú cấp. Như vậy, trong trường hợp trước khi xuất cảnh họ đã đủ tuổi kết hôn, thì pháp luật hiện hành không có quy định người đăng ký kết hôn cần phải có xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh. Do đó, thực tế đã có trường hợp họ đã kết hôn trước khi xuất cảnh, hay có hôn nhân thực tế, sau đó quay về tuyên thệ là chưa kết hôn để tiếp tục kết hôn. Do đó, cần phải có quy định đối với trường hợp kết hôn là công dân Việt Nam đang định cư tại nước ngoài trước khi xuất cảnh đã đủ tuổi kết hôn thì phải có xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ có hộ khẩu thường trú. Trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3 tháng 01 năm 1987 ở Việt Nam thì phải có giấy tờ chứng minh đã chấm dứt quan hệ hôn nhân đó bằng bản án hay quyết định ly hôn đã có có hiệu lực pháp luật (nếu đã ly hôn) hoặc Giấy chứng tử (nếu vợ hoặc chồng của họ đã chết).

Từ những bất cập trong việc thực hiện Luật như trên, Luật Hôn nhân và gia đình cần sớm được tiến hành sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế chưa phù hợp, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển gia đình Việt Nam sau này./.

03/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Nguyễn Văn Lê, SN: 1958; thường trú tại ấp 2, xã An Hòa, huyện Giồng Trôm, Bến TreThông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Nguyễn Văn Lê, SN: 1958; thường trú tại ấp 2, xã An Hòa, huyện Giồng Trôm, Bến Tre
22/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Hội nghị phổ biến văn bản pháp luật mới và đánh giá kết quả xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2019Hội nghị phổ biến văn bản pháp luật mới và đánh giá kết quả xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2019

Nhằm kịp thời triển khai các quy định của pháp luật mới đến cán bộ, công chức để tuyên truyền cho người dân tại cơ sở; đặc biệt là công ước chống tra tấn, các quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn; các quyền dân sự chính trị; các quy định về hụi, lãi suất vay, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự tại địa phương trong hình hụi, vay và “tín dụng đen” đang diễn biến hết sức phức tạp. Đồng thời, đánh giá tình hình tổ chức triển khai, thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và kết quả phối hợp thực hiện công tác xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn; đề xuất giải pháp tháo gỡ, lựa chọn phương pháp và hình thức thực hiện đạt hiệu quả, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Ngày 24/10/2019, Sở Tư pháp đã tổ chức hội nghị phổ biến văn bản pháp luật mới và đánh giá kết quả xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại các đơn vị cấp huyện được chọn chỉ đạo điểm năm 2019 cho hơn 150 đại biểu là đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân; Công chức Tư pháp – Hộ tịch, Công chức Văn phòng – Thống kê, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của các xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Giồng Trôm và thành phố Bến Tre. Ông Nguyễn Tấn Nhứt – Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu khai mạc hội nghị.

tap-huan-chuan-tiep-can-phap-luat1.gif

Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe các Báo cáo viên của Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp triển khai Chuyên đề về Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và các văn bản trong lĩnh vực dân sự, hành chính, hình sự có liên quan và Chuyên đề về nội dung cơ bản của Công ước chống tra tấn và việc nội luật hóa các quy định về phòng, chống tra tấn hoặc liên quan đến phòng, chống tra tấn tại Việt Nam. Cuối hội nghị, các đại biểu cùng nhau thảo luận, đánh giá kết quả xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại các địa phương chỉ đạo điểm. Qua hơn 03 năm thực hiện, đến nay công tác này vẫn còn một số khó khăn, bất cập cả về thực tiễn lẫn thể chế như: Việc đánh giá hài lòng của tổ chức cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính; Mốc thời gian thực hiện, hoàn tất hồ sơ đánh gia, công nhận tại cấp xã, cấp huyện; Công tác phối hợp với các công chức chuyên môn để chấm điểm, tổng hợp các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật; Kinh phí đảm bảo thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế...

tap-huan-chuan-tiep-can-phap-luat2.gif

Được biết trong năm 2019, Hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật của các huyện, thành phốđã đánh giá và công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2018 cho 162/164 xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh (đạt 98,78%). Trong đó, huyện Chợ Lách đạt 10/11 đơn vị; huyện Mỏ Cày Bắc đạt 12/13 đơn vị.

09/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2018 Hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2018

Sau 05 năm kể từ Lễ công bố (ngày 09/11/2013), Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Ngày Pháp luật) đã được cơ quan, đoàn thể, địa phương và đông đảo Nhân dân tích cực hưởng ứng, thực hiện nghiêm túc, tạo hiệu ứng tích cực, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, góp phần khơi dậy ý thức trách nhiệm công dân, nâng cao ý thức pháp luật, xây dựng lối sống, làm việc theo pháp luật, nâng cao hiệu quả xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật trong xã hội. Năm 2018, tiếp tục tổ chức hưởng ứng Ngày Pháp luật với Chủ đề: “Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Các khẩu hiệu hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2018 cụ thể như sau: Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; Tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; Tích cực tìm hiểu pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật là trách nhiệm của mọi công dân; Thượng tôn pháp luật góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả; Cán bộ, công chức, viên chức nêu cao tinh thần gương mẫu, chủ động học tập, tìm hiểu, tuân thủ, chấp hành Hiến pháp và pháp luật; Hiểu biết và chấp hành pháp luật là bảo vệ chính mình và cộng đồng, vì một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngoài những khẩu hiệu được gợi ý, trong quá trình tổ chức thực hiện, các cơ quan, đơn vị, địa phương có thể nghiên cứu, lựa chọn những khẩu hiệu phù hợp với điều kiện đặc thù của cơ quan, đơn vị, địa phương mình đồng thời bám sát nội dung chủ đề Ngày Pháp luật năm 2018.

Căn cứ điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tập trung vào các nội dung sau:

Về công tác xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật: Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách về tổ chức bộ máy, cán bộ; tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ; quy hoạch, tài chính, đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và các quy định liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.

Về công tác tổ chức thi hành pháp luật: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quán triệt, truyền thông, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới; tác động, hiệu ứng của chính sách, pháp luật đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; tư vấn, định hướng hỗ trợ khởi nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, khiếu nại, tố cáo, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng, chống cháy nổ, an toàn giao thông đường bộ, phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực học đường, xâm hại phụ nữ, trẻ em, bình đẳng giới, chính sách an sinh xã hội; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và các vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam; các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các thỏa thuận quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp...

Thông tin về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; cải cách tư pháp, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư kinh doanh; tăng cường theo dõi thi hành pháp luật, các vấn đề pháp lý phát sinh trong hội nhập quốc tế; các vấn đề dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội; giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách, nhất là những chính sách đang được quan tâm.

Giáo dục ý thức và lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật gắn với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ý thức tuân thủ kỷ cương, kỷ luật công vụ; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng, khen thưởng, tôn vinh gương người tốt, việc tốt, điển hình trong xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trong chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật và chấp hành pháp luật; siết chặt kỷ cương công vụ, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi công vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp, thực hiện nghiêm pháp luật phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Cần xác định hưởng ứng Ngày Pháp luật là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân, với các hình thức:

Tổ chức hoạt động mít-tinh hưởng ứng Ngày Pháp luật gắn với tổng kết, đánh giá kết quả 05 năm triển khai Ngày Pháp luật, hoặc lồng ghép hưởng ứng thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, qua hoạt động chính trị, chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn; lồng ghép trong triển khai hoạt động xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật.

Đổi mới, đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật để thiết thực hưởng ứng Ngày Pháp luật một cách linh hoạt, tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng và có sức lan tỏa trong xã hội; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, kỹ thuật số trong triển khai, ưu tiên hình thức trực tuyến thông qua tổ chức thi tìm hiểu pháp luật, tư vấn, giải đáp pháp luật qua điện thoại, mạng xã hội, Trang thông tin điện tử; sử dụng hiệu quả mạng lưới thông tin cơ sở; thiết lập chuyên trang, chuyên mục phát thanh, truyền hình để bình luận, đối thoại chính sách, định hướng dư luận; áp phích, panô, băng rôn, cờ, phướn trên đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; ra quân tình nguyện, hoạt động giáo dục ngoại khóa ngoài giờ lên lớp; tư vấn pháp luật, thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là vụ việc tham gia tố tụng; lồng ghép qua lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật; tăng cường công khai thông tin theo quy định nhằm thực hiện có hiệu quả dân chủ tại cơ sở; phổ biến quy định của pháp luật qua các vụ việc, tình huống, sự kiện pháp lý cụ thể, gắn với quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, các vấn đề còn nổi cộm trong đời sống thu hút sự quan tâm của dư luận hoặc cần định hướng dư luận xã hội.

Tổ chức tổng kết, đánh giá phong trào thi đua hưởng ứng 05 năm triển khai Ngày Pháp luật, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật; xây dựng, phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới, hiệu quả phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của sở, ngành, địa phương.

Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, tập trung vào 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10 đến hết ngày 30/11/2018; cao điểm từ ngày 05/11 đến ngày 11/11/2018.

13/09/2018 5:00 CHĐã ban hành
Bến Tre thực hiện việc không bỏ lọt đối tượng được trợ giúp pháp lý  trong lĩnh vực tố tụng dân sự - giải pháp khó nhưng đạt được sự đồng thuận cao Bến Tre thực hiện việc không bỏ lọt đối tượng được trợ giúp pháp lý  trong lĩnh vực tố tụng dân sự - giải pháp khó nhưng đạt được sự đồng thuận cao

Sau khi Hiến pháp năm 2013, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được Quốc hội thông qua, công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) – hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước cho người được TGPL ngày càng hướng đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật một cách cụ thể hơn bao giờ hết. Với mục tiêu bảo đảm quyền của người được TGPL nói chung, hoạt động TGPL trong lĩnh vực tố tụng nói riêng, ngày 29/6/2018, Bộ Tư pháp đã cùng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC (Thông tư liên tịch số 10) quy định về phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng.

Tại Bến Tre, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh đã có nhiều giải pháp đề ra mục tiêu và giải pháp thực hiện việc: nâng cao tỷ lệ người được TGPL, phấn đấu đạt mục tiêu 100% đối tượng được TGPL khi họ có nhu cầu trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Kết quả bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực, đối tượng được TGPL ngày được nâng lên, cơ chế phối hợp TGPL trong lĩnh vực tố tụng hình sự được các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thực hiện TGPL ngày càng đồng bộ, chặt chẽ và hiện thực hóa mục tiêu đề ra. Đầu năm 2019 phát huy từ kết quả đạt được trong tố tụng hình sự, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh xây dựng Kế hoạch số 331/KH-HĐPHLN ngày 14/3/2019 về thực hiện các giải pháp không bỏ lọt đối tượng TGPL trong lĩnh vực tố tụng dân sự với nhiều giải pháp, biện pháp đồng bộ. Như: tăng cường biện pháp truyền thông gồm truyền thông trên phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông trực tiếp, in ấn, phát hành tài liệu bướm.

khong-bo-lot-doi-tuong.gif

Các biện pháp tiếp cận cụ thể khác được Hội đồng đề ra đó là: Các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, trại giam, người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ, trại giam theo chức năng của mình chủ động phối hợp, hướng dẫn các đối tượng thực hiện quyền được TGPL; thí điểm cử Trợ giúp viên đến trụ sở tiếp công dân tại Tòa án để trực tiếp tiếp nhận và thực hiện hồ sơ cho các đối tượng được TGPL khi người dân tự liên hệ tại Tòa án; Sở Tư pháp có Công văn chỉ đạo Tư pháp cấp xã trong quá trình tham mưu với lãnh đạo UBND cấp mình chủ động phát hiện đối tượng TGPL ngay trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, đất đai; Trợ giúp viên tăng cường tham gia hình thức đại diện ngoài tố tụng để cùng phối hợp với địa phương kịp thời phát hiện đối tượng, tham gia TGPL ngay từ đầu; phát huy hiệu quả đường dây nóng để nối kết giữa Tư pháp cấp xã với Trung tâm TGPL, nhằm xử lý kịp thời các thông tin về đối tượng được TGPL tại các địa phương; xây dựng tài liệu và tổ chức tập huấn chuyên sâu 02 đợt trong năm 2019…

Kết quả thực hiện TGPL cuối năm 2019 của tỉnh cho thấy: tổng số vụ việc thực hiện TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng của tỉnh là 234 vụ việc, so với năm 2018 tăng 7,3%. Thống kê cũng cho thấy số vụ, việc TGPL trong lĩnh vực tố tụng dân sự năm 2019 là 131 vụ, việc, so với năm 2018 tăng 9,1%. Bước đầu thực hiện giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng dân sự của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL tỉnh đã mang lại các dấu hiệu đáng mừng, đúng hướng theo mục tiêu đề ra.

Ngay từ cuộc họp đầu năm của Hội đồng, cũng đã có nhiều ý kiến lo lắng về cơ chế phối hợp này. Bởi lẽ trong hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng là thành viên Hội đồng phối hợp về TGPL có cơ chế kiểm soát, phát hiện đối tượng được TGPL để thông tin về Trung tâm TGPL và các chi nhánh của Trung tâm thực hiện TGPL cho đối tượng tương đối thuận lợi. Riêng trong tố tụng dân sự, vì đương sự khi có tranh chấp chỉ yệu cầu trực tiếp cơ quan Tòa án thụ lý giải quyết, nên nhiệm vụ phát hiện và thông tin về TGPL cho đối tượng được đặt trên vai của cơ quan Tòa án. Một thực tế là cán bộ Tòa án, Thẩm phán hiện rất nhiều việc, đặc biệt là sức ép về lượng vụ việc án, chỉ tiêu xét xử; nếu chỉ tập trung vào hệ thống này thì việc bỏ lọt đối tượng TGPL trong tố tụng dân sự là điều không tránh khỏi. Qua một năm triển khai thực hiện Kế hoạch 331/KH-HĐPHLN, có thể thấy Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre đã có những giải pháp đúng đắn nhằm đảm bảo quyền bào chữa, quyền tranh tụng đối với người thuộc diện TGPL, là những người khó khăn về tài chính, người có công, người yếu thế cần sự bảo trợ XH. Thực hiện theo Kế hoạch, Hội đồng đã chỉ đạo sát và yêu cầu các cơ quan thành viên luôn bám chặt vào các quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự, vào Thông tư liên tịch số 10 để nâng cao hiệu quả phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng dân sự.

 Để đảm bảo quyền được TGPL nói chung, quyền tranh tụng tại phiên tòa của người được TGPL nói riêng, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 lần đầu tiên đã ghi nhận về trách nhiệm của Nhà nước, của Thẩm phán trong việc bảo đảm quyền được TGPL của người thuộc diện được TGPL tại Khoản 3 Điều 9 với nguyên tắc đó là "Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm TGPL cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án". Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 còn quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tại khoản 6 Điều 48 về giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu TGPL theo quy định; quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại Điều 75 đối với Trợ giúp viên pháp lý. Đồng thời để cụ thể tổ chức thực hiện các quyền vừa nêu cho đối tượng được TGPL, Thông tư liên tịch số 10 cũng đã quy định rõ về việc thông báo, thông tin về TGPL. Với trường hợp đương sự tự nhận mình là người được TGPL và có yêu cầu thì các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Tòa án nói riêng phải có trách nhiệm thông báo (bằng Thông báo, mẫu số 3 Thông tư liên tịch10) cho Trung tâm và Chi nhánh của Trung tâm TGPL biết để xác minh đối tượng, thực hiện theo yêu cầu của đối tượng. Nếu đương sự tự nhận mình là người được TGPL và không có yêu cầu thì các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông tin (bằng Thông tin, mẫu số 4) cho Trung tâm và Chi nhánh của Trung tâm TGPL nắm. Tuy nhiên việc thực hiện các quy định trên không phải lúc nào cũng thuận lợi, không phải được tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều thực hiện chặt chẽ. Trong tố tụng dân sự, qua số liệu cuối năm cho thấy số vụ việc TGPL mà Tòa án giới thiệu đến cơ quan thực hiện TGPL vẫn còn ít so với vụ việc mà Tòa đã thụ lý.

Từ thực tế trên, từ đầu tháng 5 năm 2019 vừa qua, thực hiện theo Khoản 9, Điều 8 của Thông tư liên tịch 10 "Khuyến khích cơ quan điều tra, Tòa án các cấp tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL trực tại các cơ quan này phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để người được TGPL biết và sử dụng dịch vụ TGPL kịp thời", Bến Tre đã thí điểm việc cử Trợ giúp viên đến trụ sở tiếp công dân của Tòa án huyện Ba Tri để trực tiếp tiếp nhận và thực hiện hồ sơ trong ngày làm việc cho các đối tượng được TGPL khi người dân tự liên hệ tại Tòa án. Theo phản ánh của Chi nhánh TGPL số 01 đặt tại huyện Ba Tri, qua 6 tháng thí điểm trực tiếp nhận yêu cầu TGPL tại Tòa án huyện đã có 20 trường hợp đối tượng yêu cầu, Trợ giúp viên tiến hành thực hiện TGPL trong lĩnh vực dân sự. Tỷ lệ này chiếm 62,5% so với tổng vụ việc Chi nhánh số 1 thực hiện trong 6 tháng qua. Kết quả trên cho thấy việc thực hiện cử Trợ giúp viên đến trụ sở tiếp công dân của Tòa án để trực tiếp tiếp nhận và thực hiện hồ sơ TGPL là cần thiết, nhanh chóng, cần tiếp tục phát huy nhân rộng.

Thiết nghĩ, thời gian tới để đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL của người dân, thực hiện tốt các giải pháp không bỏ lọt đối tượng được TGPL trong tố tụng dân sự, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, người tiến hành tố tụng về vị trí, vai trò của công tác TGPL đối với những người có công, người khó khăn, yếu thế trong xã hội, góp phần hỗ trợ kịp thời những trường hợp cần TGPL trong quá trình thực hiện tố tụng nói chung, tố tụng dân sự nói riêng; cần tổ chức các cuộc họpcủa các cơ quan tố tụng địa phương để tháo gỡ, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện TGPL cho đối tượng; nghiên cứu đưa nội dung hoạt động về TGPL vào công tác trọng tâm của Ngành, cơ quan thành viên Hội đồng - xem như đây là nhiệm vụ chính, chứ không chỉ là nhiệm vụ phối hợp.

02/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 237, tờ bản đồ số 28; thửa đất số 2710, tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Hòa A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 237, tờ bản đồ số 28; thửa đất số 2710, tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Hòa A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến Tre
14/05/2018 3:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC GIÁO DỤCDANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC GIÁO DỤC
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Nghị định138/2013/NĐ-CP22/10/2013Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Hết hiệu lực 1 phần


Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2015/NĐ-CP ngày 07/8/2015; sửa đổi bởi Nghị định 79/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015.
02Nghị định65/2015/NĐ-CP07/8/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp đưa tin, công bố thông tin sai sự  thậtCòn hiệu lực  
 Nghị định 79/2015/NĐ-CP​14/9/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệpCòn hiệu lực 
12/05/2016 4:00 CHĐã ban hành
Thực hiện quy trình trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi một cách thân thiện Thực hiện quy trình trợ giúp pháp lý cho người dưới 18 tuổi một cách thân thiện

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản pháp luật hiện nay không có quy định riêng nào về quy trình thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người dưới 18 tuổi thuộc diện được TGPL, tuy nhiên, từ quy định trong các văn bản pháp luật và thực tiễn, thông lệ TGPL thì việc thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi cần phải được thực hiện một cách thân thiện, hiệu quả theo đúng quy định của pháp luật. Người thực hiện TGPL không chỉ có kiến thức pháp luật mà còn phải am hiểu tâm lý, hoàn cảnh của người dưới 18 tuổi, cân nhắc những biện pháp bảo vệ tốt nhất quyền của. Một vấn đề hết sức quan tâm khi thực hiện quy trình TGPL cho người dưới 18 tuổi đó là phải bảo đảm các nguyên tắc thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi trong suốt quá trình thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi.

Theo quy định của pháp luật về TGPL thì người dưới 18 tuổi thuộc diện được TGPL đó là trẻ em; người bị buộc tội người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự có khó khăn về tài chính. Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình. Do đó, độ tuổi này các em dễ bị chi phối bởi tác động bên ngoài và thực hiện các hành vi thiếu suy nghĩ chín chắn. Từ đặc điểm về lứa tuổi, các đặc thù nêu trên của người chưa thành niên nên pháp luật nước ta có những quy định phù hợp để bảo vệ, giáo dục, phòng ngừa các hành vi xâm phạm các em hoặc xử lý đối với các em vi phạm pháp luật. Trong thực hiện TGPL cho lứa tuổi này cũng vậy, rất cần một quy trình thân thiện để bảo đảm quyền lợi các em một cách tốt nhất.

tgpl-duoi-18-tuoi.gif

Khi tiếp nhận yêu cầu TGPL đối với người dưới 18 tuổi thuộc diện được TGPL cần quan tâm bố trí địa điểm thuận lợi, dễ tiếp cận cho người có yêu cầu TGPL, cần chú ý đến những người có nhu cầu đặc biệt như người khuyết tật, trẻ em hoặc trẻ chưa thành niên bị xâm hại, vi phạm pháp luật..... Địa điểm tiếp nhận yêu cầu TGPL cần có bảng niêm yết về các giấy tờ cần nộp để chứng minh đủ điều kiện TGPL. Nếu người dưới 18 tuổi có yêu cầu được tiếp riêng hoặc nhận thấy nội dung yêu cầu có tính chất nhạy cảm,... người tiếp nhận yêu cầu bố trí địa điểm tiếp phù hợp nhằm nhằm giúp họ dễ dàng trình bày yêu cầu và các thông tin liên quan. Một vấn đề chúng tôi cho rằng rất tế nhị, cần thiết đó là hạn chế sự có mặt của những người không liên quan khi tiếp nhận yêu cầu TGPL của người dưới 18 tuổi và bố trí người có kinh nghiệm hoặc kỹ năng giao tiếp với dưới 18 tuổi để tiếp nhận yêu cầu TGPL của người dưới 18 tuổi.

Tại trụ sở Trung tâm TGPL nhà nước Bến Tre vấn đề này luôn được chú ý quan tâm thực hiện. Trung tâm dành một phòng tư vấn tiếp công dân riêng biệt, đảm bảo sự an toàn và bảo vệ riêng tư cho khách hàng cao nhất. Khi tiếp nhận diện đối tượng đặc biệt này, các Trợ giúp viên pháp lý luôn tạo điều kiện cho người dưới 18 tuổi trình bày vướng mắc pháp luật và yêu cầu TGPL, bảo đảm ngay từ ban đầu, người tiếp nhận yêu cầu tư vấn, cung cấp thông tin cho cho người dưới 18 tuổi theo đúng quy định của pháp luật về đối tượng, phạm vi, hình thức lĩnh vực,...

Để có quy trình TGPL thân thiện với các em, ngay từ khâu tiếp nhận yêu cầu TGPL trực tiếp tại trụ sở của tổ chức thực hiện TGPL, đơn vị đã  tạo tâm lý thoải mái, tránh ngại ngùng cho người dưới 18 tuổi, tránh nhiều người biết chuyện của họ nếu họ không muốn, bảo đảm cho người dưới 18 tuổi cảm thấy tin tưởng, thoải mái khi trình bày nội dung, yêu cầu được dễ dàng. Người tư vấn hay tiếp cận thực hiện TGPL không chỉ hiểu đặc trưng tâm lý lứa tuổi của trẻ theo nhóm đối tượng, độ tuổi để có ứng xử phù hợp mà còn dùng tình cảm chân thành, tôn trọng tự do và nhu cầu của trẻ.

Cụ thể hóa các nguyên tắc thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi, trong thời gian tới Trung tâm TGPL, các Trợ giúp viên tỉnh nhà rèn luyện và thực hiện nhuần nhuyễn các kỹ năng đặc thù khi tham gia thực hiện với các em:

Khi thụ lý yêu cầu TGPL và phân công người thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi luôn bảo đảm quyền thông tin cho người dưới 18 tuổi, bảo vệ tối đa quyền của người chưa thành niên trong lựa chọn người thực hiện TGPL. Người thực hiện TGPL khi được phân công thực hiện TGPL phải thật sự có năng lực, có kỹ năng thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi và nhất là bảo mật và riêng tư, tạo an toàn cho người dưới 18 tuổi. Khi được phân công thực hiện, người thực hiện cần thực hiện nhanh chóng, kịp thời, thuận lợi tránh phiền hà cho các em. Cần cân nhắc kỹ các trường hợp thụ lý ngay theo quy định để tiến hành thực hiện thụ lý ngay. Khi có sự thay đổi người thực hiện TGPL hoặc khi đối tượng rút yêu cầu TGPL, Trung tâm và người thực hiện TGPL cần trực tiếp gặp người dưới 18 tuổi, giải thích cụ thể lý do cho người dưới 18 tuổi hiểu việc không tiếp tục thực hiện là lý do khách quan, tránh để người dưới 18 tuổi hiểu nhầm và mất lòng tin về TGPL; thông tin, giải thích cho người dưới 18 tuổi về người thực hiện mới sẽ tiếp tục công việc mình đang làm và động viên họ tin tưởng vào công tác TGPL. Một việc không thể thiếu đó là nhắc lại quyền lựa chọn người thực hiện TGPL cho các em nghe; đưa các em đọc danh sách người thực hiện TGPL trên địa bàn địa phương. Nếu cần thiết, có thể tư vấn cho người được TGPL về năng lực, trình độ, uy tín của người thực hiện TGPL, đặc biệt là kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, thực hiện những vụ việc cho người dưới 18 tuổi. Đối với người được TGPL là người dưới 18 tuổi thì nên cử người khác thay thế ngay để duy trì lòng tin với người được TGPL, chỉ để hết thời hạn 03 ngày trong trường hợp bất khả kháng.

Có thể nói hướng đến lợi ích của các em là mục tiêu cần quan tâm, cân nhắc hàng đầu trong toàn bộ quá trình thực hiện TGPL cho người dưới 18 tuổi. Vì thế người thực hiện TGPL là Trợ giúp viên, luật sư công tác viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc cân nhắc đến quyền của người dưới 18 tuổi (có thể là trực tiếp, gián tiếp). Cân nhắc đến ý kiến của người dưới 18 tuổi, sức khỏe của người dưới 18 tuổi, vấn đề dễ bị tổn thương của người dưới 18 tuổi, đến môi trường gia đình của người dưới 18 tuổi, đến sự an toàn của người dưới 18 tuổi để có kỹ năng hành nghề tốt nhất, thân thiện nhất.

02/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
tăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý  tại các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biểntăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý  tại các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, thực hiện Kế hoạch công tác năm 2019, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tập huấn về tăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tại các xã đặc biệt vùng bãi ngang ven biển năm 2019 theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

tap-huan-tgpl1.gif

 Hội nghị đã được ông Nguyễn Biên Thùy – Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, là thành viên Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL tỉnh Bến Tre tham gia Báo cáo viên Hội nghị với chuyên đề kỹ năng thực hiện việc hòa giải bắt buộc đối với tranh chấp đất đai và hướng dẫn đương sự khởi kiện, lập hồ sơ chuyển Tòa án đối với các trường hợp hòa giải không thành; ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tập huấn kỹ năng TGPL đối với người dưới 18 tuổi. Hội nghị cũng đưa ra các tình huống trên thực tế để cùng với các học viên là người thực hiện TGPL nghiên cứu, thảo luận trình bày những nhận định của cá nhân mình, góp phần nâng cao năng lực thực hiện TGPL.

Qua hội nghị tập huấn, các học viên được trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng khi tham gia tố tụng dân, nhất là các tranh chấp đất đai vốn đang rất phức tạp trong tình hình hiện nay tại địa phương và kỹ năng TGPL thân thiện cho người dưới 18 tuổi, từ đó góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL tại tỉnh nhà.

tap-huan-tgpl2.gif

Để thực hiện Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 2944/QĐ-UBND ngày 06/12/2016 nhằm triển khai Quyết định trên của Thủ tướng trên địa bàn tỉnh. Được biết toàn tỉnh Bến Tre có 30 xã thuộc 6 huyện thuộc các xã thực hiện TGPL theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

VVL

02/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo việc xóa đăng ký hành nghề và thu hồi thẻ công chứng viên của ông Mai Văn HảiThông báo việc xóa đăng ký hành nghề và thu hồi thẻ công chứng viên của ông Mai Văn Hải
15/11/2019 11:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019Hướng dẫn tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019

Thực hiện Công văn số 2213/BTP-PBGDPL ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre hướng dẫn tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019 với các nội dung cụ thể như sau:

Về nội dung tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019

Tập trung quán triệt, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới, nhất là nội dung các luật được Quốc hội thông qua trong năm 2019; phổ biến, tuyên truyền các lĩnh vực pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, lao động, bảo vệ môi trường, bảo đảm vệ sinh, an ninh, an toàn trường học; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xâm hại phụ nữ và trẻ em, bạo lực học đường, bạo lực gia đình, tội phạm, "tín dụng đen", các tệ nạn xã hội, cháy nổ; khiếu nại, tố cáo; bảo đảm trật tự đô thị, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm; Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh; mục tiêu, yêu cầu, nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông và các vấn đề khác của xã hội được dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội…

ngay-phap-luat-2019.gif

Phổ biến, thông tin về cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, thực hiện đồng bộ các biện pháp đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; hoàn thiện pháp luật về đầu tư công, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, chính sách người có công, bảo trợ xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; cải cách chính sách pháp luật về đất đai, bảo hiểm xã hội… góp phần xây dựng Chính phủ "kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả".

Đẩy mạnh giáo dục ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật; tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật; các mô hình hay, cách làm hiệu quả trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trong chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Về hình thức tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019: Cần xác định hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cơ quan, tổ chức, địa phương, cán bộ, công chức, viên chức và người dân.

Các cơ quan, tổ chức, địa phương chủ động lựa chọn hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật phù hợp, thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; chú trọng đổi mới, đa dạng các hình thức hưởng ứng một cách linh hoạt, tiết kiệm và có sức lan tỏa sâu rộng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường xã hội hóa trong thực hiện, tập trung vào một số hoạt động như sau:

Tổ chức mít-tinh hưởng ứng Ngày Pháp luật hoặc lồng ghép hưởng ứng thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, qua hoạt động chính trị, chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn; lồng ghép trong triển khai hoạt động xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật; đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổ động trực quan, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, Trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị, địa phương...

Tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân và tổng kết 05 năm triển khai Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật bằng hình thức phù hợp.

Tổng kết, đánh giá, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động Nhân dân tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật; xây dựng, phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới, hiệu quả phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương. Bên cạnh đó có thể lồng ghép các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật với việc thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh" và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"…

Trong tháng cao điểm tổ chức hưởng ứng Ngày Pháp luật, khuyến khích các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức hoạt động đối thoại chính sách - pháp luật, tư vấn pháp luật miễn phí cho người dân và doanh nghiệp…

Về khẩu hiệu hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2019: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực được giao quản lý và tình hình thực tế, chủ động lựa chọn khẩu hiệu tuyên truyền, phổ biến về Ngày Pháp luật (có thể tham khảo và sử dụng một số khẩu hiệu do Bộ Tư pháp cung cấp tại chuyên mục "Hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp từ ngày 30/8/2019).

Về thời gian thực hiện: Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, đặc biệt trong tháng cao điểm bắt đầu từ ngày 10/10 đến ngày 10/11/2019. Trong tuần lễ cao điểm từ ngày 04/11 đến ngày 10/11/2019, tổ chức tuyên truyền, cổ động trực quan chủ đề, khẩu hiệu về Ngày Pháp luật năm 2019 qua hệ thống áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên các tuyến đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; chú ý lựa chọn khẩu hiệu phù hợp với đối tượng, địa bàn.

26/07/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 31/3/2020NewThông báo bán đấu giá tài sản ngày 31/3/2020

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 58 (KÈM QC)

          Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản thanh lý 40 cây dầu dưới dạng lấy gỗ. Người mua tự đốn hạ và phải đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện.

          - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 22.000.000đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

  - Tài sản được quản lý tại: đoạn từ Km01+020 đến Km01-300 (lý trình ĐH.173) thuộc ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản nhà nước thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tài sản nằm trong dự án ĐH.173 buộc giải tỏa bán nộp ngân sách nhà nước.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc) tại ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, Bến Tre.

- Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Thời gian khách hàng tham gia đấu giá nộp tiền đặt trước: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 14/15/16/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 17/4/2020 tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 61 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản tịch thu thu sung công quỹ nhà nước tài sản sung công quỹ nhà nước, cụ thể như sau:

 

SttTên tài sản

Đvt

SLĐơn giáGiá khởi điểm (đồng)
IGhe gỗ123.540.000
1

Ghe gỗ không biển số đã qua sử dụng

- Xuất xứ: Việt Nam

- Mẫu thiết kế: Dân gian

-Trọng tải (sức chở tối đa): Khoảng 20 tấn

Chiếc1123.540.000123.540.000
1.1

Phần vỏ ghe và trang thiết bị

- Hệ thống kết cấu: Ngang; Khoảng sườn 500mm

- Vật liệu: Gỗ Sao

Kích thước:

+ Chiều dài: Lmax =15,70m

+ Chiều rộng: Bmax = 3,30m

+ Chiều cao mạn (D):1,05m

+Chiều chìm (d): 0,95m

+ Mạn khô (f): 0,20m

- Vỏ ghe được quét một lớp ximăng bên ngoài

- Hệ thống điện: 02 bình acquy

Bộ188.140.00088.140.000
1.2Động cơ35.400.000
 

1/ Động cơ

-Nhãn hiệu động cơ: KIA

-Động cơ: Diesel

-Công suất: Khoảng 80CV

Số máy: HO7C-003740

-Loại: 6 máy

Cái121.600.00021.600.000
 

2/ Hộp số

-Xuất xứ: Trung Quốc

-Kiểu: Cơ khí

-Loại: 3 tua

Cái19.000.0009.000.000

 

 

3/Thiết bị đẩy ghe (chân vịt), lái ghe.

-Hệ trục: Bằng thép phi 60

-Chân vịt: Vật liệu thau, 03 cánh

-Kiểu máy lái: Vô lăng cơ khí

-Bánh lái: Kiểu tấm, vật liệu thép.

- Hiện trạng: Tại thời điểm thẩm định hiện trạng,  khung sườn và be gỗ của ghe còn tương đối, kín

nước, be gỗ phía trên nhiều

chỗ bị nứt; Vỏ ghe bị trầy xước nhiều. Động cơ chạy ghe, hộp số còn tương đối, động cơ đã ngưng hoạt động từ lâu. Hiện tại ghe đang được cơ quan chức năng tạm giữ

Bộ14.800.0004.800.000
IIDụng cụ bơm cát đã qua sử dụng22.065.444
1

Máy bơm cát

-Nhãn hiệu: KIA

-Động cơ: Diesel.

-Công suất: Khoảng 80CV

-Số máy: HO7C-023234

-Loại: 6 máy

-Hiện trạng: Thân máy rỉ sét nhiều chỗ; Động cơ đã ngưng hoạt động từ lâu.

Cái114.400.00014.400.000
2

Đầu hút cát lên ghe

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,89m; Rộng 0,4m; Cao 0,55m

-Nối với ống nhựa hút cát dài: 16m; Đường kính ống: 14cm

-Ống sắt: 1,2m; Đường kính: 1,4cm

-Nối với ống đầu ra có chiều dài: 0,62m; Đường kính ống: 14cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Bộ12.480.0002.480.000
3

Đầu bơm cát lên bờ

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,69m;

Rộng 0,28m; Cao 0,55m

-Nối với ống nhựa hút cát dài: 4,5m; Đường kính ống: 8cm

-Nối với ống bố đầu ra dài: 4,3m; Đường kính ống: 9cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Bộ11.800.0001.800.000
4

Đầu bơm nước

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,55m; Rộng 0,24m; Cao 0,29m

-Nối với ống nhựa dài: 4,5m; Đường kính ống: 8cm

-Nối với ống nhựa đầu ra dài: 0,9m; Đường kính ống: 8cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Cái1480.000480.000
5

Động cơ diesel (Bơm nước)

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,72m; Rộng 0,49m; Cao 0,8m

-Hiện trạng: Động cơ bị gỉ sét nhiều, thiếu nhiều bộ phận, chi tiết máy. Đã lâu không hoạt động

Cái11.400.0001.400.000
6

Bộ tời dây

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Loại: Khung sườn, hệ trục bằng thép

-Kích thước: Dài 0,59m; Rộng 0,35m; Cao 0,45m

-Hiện trạng: Bên ngoài bị

gỉ sét nhiều, đã lâu không

sử dụng

Bộ1320.000320.000
7

Ống sắt

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 3,9m; Đường kính: 6cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Mét3,936.000140.400
8

Cát sông đã khai thác

- Loại cát đen dùng trong san lấp

Hiện trạng: Đã được bơm lên bờ

Khối15,83466.0001.045.044
 Tổng cộng145.605.000

      - Tài sản đang được quản lý tại: Bến bãi Công ty Lam Sơn, ấp Thanh Sơn 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc (bến phà Hàm Luông Cũ).

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước theo Quyết định số 443/QĐ-UBND ngày 09/3/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc xác lập quyền sở hữu toàn dân và phê duyệt phương án bán tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân do Sở Tài chính tỉnh Bến Tre chuyển giao, bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 145.605.000 đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ năm ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 29.100.000 đ/hồ sơ nộp vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc), tại Bến bãi Công ty Lam Sơn,  địa chỉ: ấp Thanh Sơn 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre (bến phà Hàm Luông cũ).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 14, 15, 16/4/2020 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 17/4/2020.

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.

31/03/2020 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 26/3/2020NewThông báo bán đấu giá tài sản ngày 26/3/2020

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 51 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 148,2m2;

- Thuộc thửa đất số 320, tờ bản đồ số 01 (thửa mới 07, tờ bản đồ số 31);

- Loại đất: ở nông thôn.

2. Công trình xây dựng trên đất:  

a) Nhà chính:

- Diện tích xây dựng là 44,62 m2.

- Kết cấu: Nhà trệt độc lập. Móng, khung, cột; BTCT, nền lát gạch men, tường xây gạch, cửa đi và cửa sổ gỗ lá sách, đòn tay gỗ, mái tole, trần nhựa, nhà có ngăn phòng riêng, toilet trong, điện nước sinh hoạt đầy đủ.

- Hiện trạng: Nhà đã cũ, lỗi thời, kết cấu chung đều xuống cấp. Hiện tại đang sử dụng.

b) Nhà phụ:

- Diện tích 54,45m2.

- Kết cấu: Nhà tạm dưới cấp, khung gỗ tạp, nền gạch men, không vách, không cửa, mai lợp tole, đòn tay gỗ.

- Hiện trạng: Nhà đã cũ, lỗi thời, kết cấu chung đều xuống cấp. Hiện tại đang sử dụng.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 692.673.500đ (Sáu trăm chín mươi hai triệu, sáu trăm bảy mươi ba ngàn, năm trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Người mua trúng đấu giá phải nộp tất cả các khoản thuế, phí và lệ phí phát sinh trong quá trình làm thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 138.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 28/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 28/4/2020 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 28, 29/4 và 04/5/2020 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 9 giờ ngày 05/5/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 53 (KÈM QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là tàu cá của ông Đặng Minh Trí và bà Lê Ngọc Yến, hiện cư ngụ tại: 296/TĐ, ấp Tân Định, xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

Tàu cá biển số đăng ký BT-92868-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-92868-TS

- Tên tàu: MINH TRÍ 2

- Chủ tàu: Đặng Minh Trí

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2013, tại Ba Tri, Bến Tre

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 59,7tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ     

- Chiều dài Lmax: 23,80m

- Chiều rộng Bmax: 5,80m

- Chiều cao mạn: 3,40m

- Chiều chìm: 2,90m

- Mạn khô: 0,50m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu Hino V26C,

- Số máy B10389

- Tổng công suất động cơ: 450 sức ngựa

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

* Tài sản được quản lý tại: Xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Minh Trí và bà Lê Ngọc Yến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm tài sản đấu giá: 1.320.565.275đ (Một tỷ, ba trăm hai mươi triệu, năm trăm sáu mươi lăm ngàn, hai trăm bảy mươi lăm đồng)

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 260.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 07, 08, 09/4/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 10/4/2020. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 55 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô, nhãn hiệu: Toyota, số loại: Hiace; màu sơn: ghi, biển số: 71T-7457, số máy: 2RZ-3099754; số khung: RZH115-3001080; sản xuất năm 2003, tại Việt Nam, số chỗ ngồi: 15, loại nhiên liệu: xăng. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: đến hết ngày 28/4/2019. Xe bán dạng đăng ký lại.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 73.325.416đ (Bảy mươi ba triệu, ba trăm hai mươi lăm ngàn, bốn trăm mười sáu đồng). Giá trên đã bao gồm thuế VAT, khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

* Lưu ý:

- Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá 30 ngày Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết.           

 - Tài sản được quản lý tại: Nhà xe của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre (địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Thời gian khách hàng xem tài sản từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Nhà xe của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre; địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (Xem tài sản liên hệ đ/c Hưng, số điện thoại: 0918.557.624).

  * Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham  gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào tài khoản của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 07,08,09/4/2020 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 14.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào tài khoản của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/4/2020 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 57 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sở hữu là quyền sỡ hữu 02 (hai) tàu cá của ông Văn Công Nguyên và bà Lê Thị Thanh Đùm, địa chỉ thường trú tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tên tàu Thanh Nguyên, số đăng ký: BT-93859-TS

1.1. Đặc điểm tài sản:

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm đóng: 2009

- Nơi đóng: Ba Tri

- Chiều dài lớn nhất: 20,15m

- Chiều rộng lớn nhất: 4,75m

- Chiều cao mạn: 2,20m

- Chiều chìm: 1,70m

- Mạn khô: 0,50m

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Tổng dung tích: 45

- Sức chở tối đa: 26,8 tấn

- Máy chính: Hiệu Hino F20C; Số máy: B17634; Công suất: 365CV; Nơi chế tạo: Nhật Bản

1.2. Giấy tờ pháp lý:  Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 1847/09 do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản tỉnh Bến Tre cấp ngày 28/12/2009.

* Giá khởi điểm tài sản (1): 476.836.000đ (Bốn trăm bảy mươi sáu triệu, tám trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

2. Tên tàu Thanh Nguyên, số đăng ký: BT-92160-TS

2.1. Đặc điểm tài sản:

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm đóng: //

- Nơi đóng: //

- Mẫu thiết kế: Dân gian

- Chiều dài lớn nhất: 16,70m

- Chiều rộng lớn nhất : 4,70m

- Chiều cao mạn: 1,40m

- Chiều chìm: 1,00m

- Mạn khô: 0,40 m

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Tổng dung tích: 23m3

- Sức chở tối đa: 13,98 tấn

- Tốc độ tự do hải lý/h: 6

- Máy chính: Hiệu Hino F20C; Số máy: A16218; Công suất: 365CV; Nơi chế tạo: Nhật Bản

2.2. Giấy tờ pháp lý: Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 72/17 do Chi cục Thủy sản Bến Tre cấp ngày 02/02/2017.

 * Giá khởi điểm tài sản (2): 224.905.000đ (Hai trăm hai mươi bốn triệu, chín trăm lẻ năm ngàn đồng).

* Tài sản (1+2) đã ngưng hoạt động và đang neo đậu tại: Bến Tuấn Râu (Bến Nhà Thờ) huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

  * Lưu ý:  Tài sản bán từng chiếc theo nhu cầu người sử dụng. Giá khởi điểm trên chưa bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế, các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sỡ hữu của ông Văn Công Nguyên và bà Lê Thị Thanh Đùm do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn Việt Nam- Chi nhánh huyện Ba Tri Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

 - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 701.741.000đ (Bảy trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).

  - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 200.000 đ/hồ sơ (Tàu BT -93859), (BT-92160), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào tài khoản số 72110000200470 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 95.300.000đ/hồ sơ (Tàu BT -93859), 44.900.000 đ/hồ sơ (BT-92160), nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.   

    - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc) tại: Bến Tuấn Râu (Bến Nhà Thờ) huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

   - Thời gian kham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 07, 08, 09/4/2020 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/4/2020.

   * Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản, tham gia và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

30/03/2020 9:00 SAĐã ban hành
Cha mẹ được nghỉ làm bao nhiêu ngày khi con ốmCha mẹ được nghỉ làm bao nhiêu ngày khi con ốm

Ngày nay, việc cha mẹ cùng làm việc để trang trãi kinh tế gia đình và cùng chăm lo cho con cái rất phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh việc cùng nhau san sẽ, gánh vác kinh tế gia đình, chăm lo cho đời sống tốt hơn còn những khó khăn trong việc chăm sóc con khi cả cha và mẹ đều phải đi làm, đặc biệt là khi các con bị đau ốm. Như vậy, trong trường hợp cha mẹ cùng đi làm, khi con đau ốm thì cha mẹ có được nghỉ làm? Nghỉ làm trong vòng bao nhiêu ngày là đúng theo quy định của pháp luật? Đó là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm liên quan đến chế độ của người lao động khi đi làm và có tham gia bảo hiểm xã hội, cũng như biết để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì người được hưởng chế độ khi con ốm đau là người làm việc theo hợp đồng lao động, thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cụ thể như sau:

Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

Cán bộ, công chức, viên chức;

Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;

Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

Nếu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nêu trên và đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì khi con đau ốm sẽ được hưởng chế độ theo quy định tại Điều 27 Luật Bảo hiểm xã hội như sau:

Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của mỗi người cha hoặc người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi con ốm đau quy định tại Điều này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

 Đồng thời, theo Điều 5 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian hưởng chế độ khi con đau ốm được tính như sau:

Thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hằng tuần theo quy định. Thời gian này được tính kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động.

Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ 2 con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa người lao động nghỉ việc trong một năm cho mỗi con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì tùy theo điều kiện của mỗi người để luân phiên nghỉ việc chăm sóc con ốm đau, thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, cùng nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì cả cha và mẹ đều được giải quyết hưởng chế độ khi con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội.

03/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn