Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 58 (KÈM QC)          Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản thanh lý 40 cây dầu dưới dạng lấy gỗ. Người mua tự đốn hạ và phải đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện.          - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 22.000.000đồng (Hai mươi ha... 
 
  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 51 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:1. Quyền sử dụng đất:  - Diện tích: 148,2m2;- Thuộc thửa đất số 320, tờ bản đồ s... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 54 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ Nhà làm việc cũ, nhà công vụ, tường rào của Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bến Tre quản lý; tài sản cụ thể như sau:1. Nhà Văn phòng công ty: Kết cấu: Nhà 02 tầng nền lát gạch caramic, vách tường gạch dày 200, cột pêtông cốt thép, mái pêtông cốt thép + lợp tole giả ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 49 (KÈM QC)Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Ngọ và bà Nguyễn Thị Đẹt, hiện cư ngụ tại: Quí Thuận A, xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:- Diện tích: 2.018,6m2;- Mục đích sử dụng: Đất lúa;- Thửa đất số: 144A, tờ bản đồ số 3.* Tài sản toạ lạc tại:... 
 
​THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 40 (KÈM 40)   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 05 (năm) tàu cá của ông Nguyễn Văn Ngươn và bà Huỳnh Thị Cuốn, hiện cư ngụ tại: 17/III ấp 3, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:1. Tàu cá biển số đăng ký BT-95571-TS:- Tên tàu: THANH HOÀNG        &#16... 
 
  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 34 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Huyền, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:1. Quyền sử dụng đất:  - Diện tích: 2000,5m2; trong đó 947,9m2 (có 147,2m2 đất hành lan... 
 
​THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 31 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là 01 (một) chiếc ô tô tải của ông Nguyễn Văn Cường; hiện cư ngụ tại: 176 ấp Hàm Luông, xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:- 01 (một) Xe ôtô tải Thaco K165 đời 2016, biển số đăng ký: 71C-051.24;         ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 36 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản thanh lý sắt thu hồi của cầu Thành Triệu 02 và Cầu Đò xã Thành Triệu, cụ thể như sau:          - Khối lượng sắt ước tính khoảng 5.500kg. Sau khi trúng đấu giá, người mua sẽ tự cắt, tháo dỡ và cân theo số lượng thực tế. Trường hợp khối lượng có ... 
 
​    THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 29 (KÈM QC)    Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 02 (hai) tàu cá của ông Nguyễn Văn Chánh và bà Võ Thị Thu Thảo, hiện cư ngụ tại: ấp An Thuận, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:1. Tàu cá biển số đăng ký BT-97073-TS:* Về đặc điểm tàu:- Số đăng ký: BT-97073-TS- T... 
 
​DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN TẠI BẾN TRE1. Danh sách các tổ chức hành nghề luật sưSTTTên tổ chức hành nghề luât sưĐịa chỉ trụ sởNgười đại diện theo pháp luật của Văn phòng luật sư/Công ty luậtGhi chú01Văn phòng Luật sưNguyễn Nghệ AnSố 197/3 Nguyễn Huệ, tổ 6, khu phố 3, phường IV, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreNguyễn Nghệ An 02Văn phòng Luậ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/3/2020Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/3/2020

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 49 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Ngọ và bà Nguyễn Thị Đẹt, hiện cư ngụ tại: Quí Thuận A, xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích: 2.018,6m2;

- Mục đích sử dụng: Đất lúa;

- Thửa đất số: 144A, tờ bản đồ số 3.

* Tài sản toạ lạc tại: xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Ngọ và bà Nguyễn Thị Đẹt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 181.090.681đ (Một trăm tám mươi mốt triệu, không trăm chín mươi ngàn, sáu trăm tám mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Người mua trúng đấu giá phải nộp các khoản thuế, phí và lệ phí phát sinh trong quá trình  làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở (trừ thuế thu nhập).

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 36.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 20/3/2020 đến 17 giờ ngày 20/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hoà Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 20/3/2020 đến 17 giờ ngày 20/4/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ  ngày 20, 21 và 22/4/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 23/4/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 50 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Hiếu và bà Trà Thị Tuyết Xuân, cư ngụ tại: 5/3 ấp An Ngãi A, xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Quyền sử dụng đất diện tích: 1.441,10m2;

- Mục đích sử dụng: Đất trồng lúa nước còn lại;

- Thuộc thửa đất số: 02, tờ bản đồ số 21.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp An Ngãi A, xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Hiếu và bà Trà Thị Tuyết Xuân, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 205.034.000đ (Hai trăm lẻ năm triệu, không trăm ba mươi bốn ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Người mua trúng đấu giá phải nộp các khoản thuế, phí và lệ phí phát sinh trong quá trình  làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở (trừ thuế thu nhập).

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 40.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 20/3/2020 đến 17 giờ ngày 20/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 20/3/2020 đến 17 giờ ngày 20/4/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ  ngày 20, 21, 22/4/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 23/4/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

 

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, (địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667 và website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết./.

23/03/2020 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 26/3/2020NewThông báo bán đấu giá tài sản ngày 26/3/2020

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 51 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 148,2m2;

- Thuộc thửa đất số 320, tờ bản đồ số 01 (thửa mới 07, tờ bản đồ số 31);

- Loại đất: ở nông thôn.

2. Công trình xây dựng trên đất:  

a) Nhà chính:

- Diện tích xây dựng là 44,62 m2.

- Kết cấu: Nhà trệt độc lập. Móng, khung, cột; BTCT, nền lát gạch men, tường xây gạch, cửa đi và cửa sổ gỗ lá sách, đòn tay gỗ, mái tole, trần nhựa, nhà có ngăn phòng riêng, toilet trong, điện nước sinh hoạt đầy đủ.

- Hiện trạng: Nhà đã cũ, lỗi thời, kết cấu chung đều xuống cấp. Hiện tại đang sử dụng.

b) Nhà phụ:

- Diện tích 54,45m2.

- Kết cấu: Nhà tạm dưới cấp, khung gỗ tạp, nền gạch men, không vách, không cửa, mai lợp tole, đòn tay gỗ.

- Hiện trạng: Nhà đã cũ, lỗi thời, kết cấu chung đều xuống cấp. Hiện tại đang sử dụng.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 692.673.500đ (Sáu trăm chín mươi hai triệu, sáu trăm bảy mươi ba ngàn, năm trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Người mua trúng đấu giá phải nộp tất cả các khoản thuế, phí và lệ phí phát sinh trong quá trình làm thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 138.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 28/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 28/4/2020 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 28, 29/4 và 04/5/2020 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 9 giờ ngày 05/5/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 53 (KÈM QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là tàu cá của ông Đặng Minh Trí và bà Lê Ngọc Yến, hiện cư ngụ tại: 296/TĐ, ấp Tân Định, xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

Tàu cá biển số đăng ký BT-92868-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-92868-TS

- Tên tàu: MINH TRÍ 2

- Chủ tàu: Đặng Minh Trí

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2013, tại Ba Tri, Bến Tre

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 59,7tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ     

- Chiều dài Lmax: 23,80m

- Chiều rộng Bmax: 5,80m

- Chiều cao mạn: 3,40m

- Chiều chìm: 2,90m

- Mạn khô: 0,50m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu Hino V26C,

- Số máy B10389

- Tổng công suất động cơ: 450 sức ngựa

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

* Tài sản được quản lý tại: Xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Minh Trí và bà Lê Ngọc Yến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm tài sản đấu giá: 1.320.565.275đ (Một tỷ, ba trăm hai mươi triệu, năm trăm sáu mươi lăm ngàn, hai trăm bảy mươi lăm đồng)

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 260.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 07, 08, 09/4/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 10/4/2020. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 55 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô, nhãn hiệu: Toyota, số loại: Hiace; màu sơn: ghi, biển số: 71T-7457, số máy: 2RZ-3099754; số khung: RZH115-3001080; sản xuất năm 2003, tại Việt Nam, số chỗ ngồi: 15, loại nhiên liệu: xăng. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: đến hết ngày 28/4/2019. Xe bán dạng đăng ký lại.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 73.325.416đ (Bảy mươi ba triệu, ba trăm hai mươi lăm ngàn, bốn trăm mười sáu đồng). Giá trên đã bao gồm thuế VAT, khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

* Lưu ý:

- Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá 30 ngày Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết.           

 - Tài sản được quản lý tại: Nhà xe của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre (địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Thời gian khách hàng xem tài sản từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Nhà xe của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre; địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (Xem tài sản liên hệ đ/c Hưng, số điện thoại: 0918.557.624).

  * Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham  gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào tài khoản của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 07,08,09/4/2020 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 14.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào tài khoản của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/4/2020 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 57 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sở hữu là quyền sỡ hữu 02 (hai) tàu cá của ông Văn Công Nguyên và bà Lê Thị Thanh Đùm, địa chỉ thường trú tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tên tàu Thanh Nguyên, số đăng ký: BT-93859-TS

1.1. Đặc điểm tài sản:

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm đóng: 2009

- Nơi đóng: Ba Tri

- Chiều dài lớn nhất: 20,15m

- Chiều rộng lớn nhất: 4,75m

- Chiều cao mạn: 2,20m

- Chiều chìm: 1,70m

- Mạn khô: 0,50m

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Tổng dung tích: 45

- Sức chở tối đa: 26,8 tấn

- Máy chính: Hiệu Hino F20C; Số máy: B17634; Công suất: 365CV; Nơi chế tạo: Nhật Bản

1.2. Giấy tờ pháp lý:  Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 1847/09 do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản tỉnh Bến Tre cấp ngày 28/12/2009.

* Giá khởi điểm tài sản (1): 476.836.000đ (Bốn trăm bảy mươi sáu triệu, tám trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

2. Tên tàu Thanh Nguyên, số đăng ký: BT-92160-TS

2.1. Đặc điểm tài sản:

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm đóng: //

- Nơi đóng: //

- Mẫu thiết kế: Dân gian

- Chiều dài lớn nhất: 16,70m

- Chiều rộng lớn nhất : 4,70m

- Chiều cao mạn: 1,40m

- Chiều chìm: 1,00m

- Mạn khô: 0,40 m

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Tổng dung tích: 23m3

- Sức chở tối đa: 13,98 tấn

- Tốc độ tự do hải lý/h: 6

- Máy chính: Hiệu Hino F20C; Số máy: A16218; Công suất: 365CV; Nơi chế tạo: Nhật Bản

2.2. Giấy tờ pháp lý: Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 72/17 do Chi cục Thủy sản Bến Tre cấp ngày 02/02/2017.

 * Giá khởi điểm tài sản (2): 224.905.000đ (Hai trăm hai mươi bốn triệu, chín trăm lẻ năm ngàn đồng).

* Tài sản (1+2) đã ngưng hoạt động và đang neo đậu tại: Bến Tuấn Râu (Bến Nhà Thờ) huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

  * Lưu ý:  Tài sản bán từng chiếc theo nhu cầu người sử dụng. Giá khởi điểm trên chưa bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế, các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sỡ hữu của ông Văn Công Nguyên và bà Lê Thị Thanh Đùm do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn Việt Nam- Chi nhánh huyện Ba Tri Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

 - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 701.741.000đ (Bảy trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).

  - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 200.000 đ/hồ sơ (Tàu BT -93859), (BT-92160), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào tài khoản số 72110000200470 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 95.300.000đ/hồ sơ (Tàu BT -93859), 44.900.000 đ/hồ sơ (BT-92160), nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.   

    - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc) tại: Bến Tuấn Râu (Bến Nhà Thờ) huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

   - Thời gian kham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 26/3/2020 đến 17 giờ ngày 07/4/2020 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 07, 08, 09/4/2020 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/4/2020.

   * Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản, tham gia và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

30/03/2020 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/3/2020NewThông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/3/2020

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 54 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ Nhà làm việc cũ, nhà công vụ, tường rào của Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bến Tre quản lý; tài sản cụ thể như sau:

1. Nhà Văn phòng công ty: Kết cấu: Nhà 02 tầng nền lát gạch caramic, vách tường gạch dày 200, cột pêtông cốt thép, mái pêtông cốt thép + lợp tole giả ngói. Diện tích 412,5m2. Tỷ lệ còn lại 7%. Giữ lại 07 tấm vách nhôm.       

2. Nhà công vụ 07 căn (Nhà tập thể phía sau VP Công ty): Kết cấu: nền lát gạch bông, vách tường gạch dày 100, cột pêtông cốt thép, mái lợp tole ximăng. Diện tích 216,49m2. Tỷ lệ còn lại 7%.

3. Tường rào gạch kho VTNB: Kết cấu: cột pêtông cốt thép, tường gạch dày 100, cổng thép 10m2. Diện tích 238m2.

- Tài sản được quản lý tại: 199B Nguyễn Đình Chiểu, Phường 8, thành phố Bến Tre.

          - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bến Tre, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Lưu ý:

- Ngoài việc thanh toán tiền mua tài sản trúng đấu giá, khách hàng trúng đấu giá còn phải đặt trước số tiền 40.000.000 đồng cho Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bến Tre tạm giữ. Sau khi khách hàng đập phá, tháo dở tài sản đấu giá xong và được xác nhận đã hoàn thành công việc đúng như các yêu cầu trong hợp đồng thì Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bến Tre sẽ hoàn trả lại số tiền tạm giữ cho khách hàng.

- Khách hàng trúng đấu giá chỉ được đập phá, tháo dở phần tài sản từ mặt đất trở lên, không đào móng, đà bêtông nằm dưới mặt đất (để tránh ảnh hưởng phần còn lại); sau khi phá dở phải thu gom phế liệu, giải phóng nhanh ra khỏi khuôn viên văn phòng của bên bán và trả lại mặt bằng sạch cho bên bán; thời gian đập phá, tháo dỡ trong vòng 30 ngày, kể từ ngày bàn giao.

- Để đảm bảo an toàn khi đập phá, tháo dỡ khách hàng trúng đấu giá phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

+ Ngắt nguồn điện, đóng nguồn nước trong phạm vi khi tháo dở;

+ Sử dụng phương tiện, dụng cụ che chắn để đảm bảo cho phế liệu, bê-tông, gạch vỡ phá ra không gây nguy hiểm cho khối nhà còn lại và người làm việc của bên bán.

+ Dùng thiết bị cầm tay (máy cắt) để phá dở nhằm cách ly giữa phần phá dở và phần còn lại (một đoạn rộng 1 mét), đảm bảo khối nhà còn lại không bị hư hỏng, có thể tiếp tục sử dụng.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 206.000.000đ (Hai trăm lẻ sáu triệu đồng). Giá khởi điểm trên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.

          * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 30/3/2020 đến 17 giờ ngày 10/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Phường 8, thành phố Bến Te, tỉnh Bến Tre. (mua tài sản liên hệ đ/c Long, số điện thoại: 0979790121).

 * Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 30/3/2020 đến 17 giờ ngày 10/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 * Thời gian khách hàng tham gia đấu giá chuyển tiền đặt trước: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 10,13,14/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

 * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 15/4/2020 (Thứ tư) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 56 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Võ Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Thanh Linh, cư ngụ tại: ấp Hòa Khánh, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 527,9 m2 (trong đó có 25,4m2 thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ);

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 24.        

* Tài sản toạ lạc tại: ấp Hòa Khánh, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Võ Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Thanh Linh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 117.284.500đ (Một trăm mười bảy triệu, hai trăm tám mươi bốn ngàn, năm trăm đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên đã bao gồm 02% thuế thu nhập cá nhân; các khoản phí, lệ phí khác do người mua trúng đấu giá chịu.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 30/3/2020 đến 17 giờ ngày 04/5/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 30/3/2020 đến 17 giờ ngày 04/5/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 176 giờ ngày 04,05,06/5/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 07/5/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 59 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sở hữu 01 (một) tàu cá của ông Trần Chí Trung, hiện cư ngụ tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

* Tàu cá biển số đăng ký BT-93739-TS:

- Về đặc điểm tàu:

+ Số đăng ký: BT-93739-TS

+ Tên tàu: CHÍ TRUNG 2

+ Chủ tàu: Trần Chí Trung

+ Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

+ Loại tàu: Tàu cá

+ Công dụng: Khai thác thủy sản

+ Năm/Nơi đóng: 1999, tại Trà Vinh

+ Mẫu thiết kế dân gian, cơ quan thiết kế: Dân gian

- Về đặc điểm kỹ thuật:

+ Tải trọng hàng hóa: 53,8tấn

+ Vật liệu vỏ: Gỗ

+ Chiều dài thiết kế: 22,10m

+ Chiều rộng thiết kế: 6,6m

+ Chiều cao mạn: 2,90m

+ Chiều chìm: 2,40m

+ Mạn khô: 0,50m

+ Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO 10V26C,

+ Số máy A10713

+ Tổng công suất động cơ: 450CV

+ Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

+ Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Về trang bị khai thác tàu:

+ Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa; sau lái tàu có 01 (một) bồn nhựa 1.000 lít.

+ Trên tàu không có trang thiết bị vô tuyến la bàn, định vị

+ (01 (một) máy tơi ngang (kéo cáp, lưới).

+ 01 (một) mỏ neo khoảng 150 kg.

+ 01 (một) cẩu sắt ba chân.

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu và đã được kéo lên bờ.

* Tài sản đang được ông Trần Minh Trí (cha ruột của ông Trần Chí Trung) quản lý tại: thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trần Chí Trung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá là: 958.866.345đ (Chín trăm năm mươi tám triệu, tám trăm sáu mươi sáu ngàn, ba trăm bốn mươi lăm đồng).

*Lưu ý: Giá trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí; các vấn đề có liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu do người mua trúng đấu giá chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ ngày 30/3/2020 đến 17 giờ ngày 10/4/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 30/3/2020 đến 17 giờ ngày 10/4/2020 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 10,13,14/4/2020 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 15/4/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá địa chỉ tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667 và website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết.

30/03/2020 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 31/3/2020NewThông báo bán đấu giá tài sản ngày 31/3/2020

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 58 (KÈM QC)

          Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản thanh lý 40 cây dầu dưới dạng lấy gỗ. Người mua tự đốn hạ và phải đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện.

          - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 22.000.000đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

  - Tài sản được quản lý tại: đoạn từ Km01+020 đến Km01-300 (lý trình ĐH.173) thuộc ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản nhà nước thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tài sản nằm trong dự án ĐH.173 buộc giải tỏa bán nộp ngân sách nhà nước.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc) tại ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, Bến Tre.

- Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Thời gian khách hàng tham gia đấu giá nộp tiền đặt trước: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 14/15/16/4/2020 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 17/4/2020 tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 61 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản tịch thu thu sung công quỹ nhà nước tài sản sung công quỹ nhà nước, cụ thể như sau:

 

SttTên tài sản

Đvt

SLĐơn giáGiá khởi điểm (đồng)
IGhe gỗ123.540.000
1

Ghe gỗ không biển số đã qua sử dụng

- Xuất xứ: Việt Nam

- Mẫu thiết kế: Dân gian

-Trọng tải (sức chở tối đa): Khoảng 20 tấn

Chiếc1123.540.000123.540.000
1.1

Phần vỏ ghe và trang thiết bị

- Hệ thống kết cấu: Ngang; Khoảng sườn 500mm

- Vật liệu: Gỗ Sao

Kích thước:

+ Chiều dài: Lmax =15,70m

+ Chiều rộng: Bmax = 3,30m

+ Chiều cao mạn (D):1,05m

+Chiều chìm (d): 0,95m

+ Mạn khô (f): 0,20m

- Vỏ ghe được quét một lớp ximăng bên ngoài

- Hệ thống điện: 02 bình acquy

Bộ188.140.00088.140.000
1.2Động cơ35.400.000
 

1/ Động cơ

-Nhãn hiệu động cơ: KIA

-Động cơ: Diesel

-Công suất: Khoảng 80CV

Số máy: HO7C-003740

-Loại: 6 máy

Cái121.600.00021.600.000
 

2/ Hộp số

-Xuất xứ: Trung Quốc

-Kiểu: Cơ khí

-Loại: 3 tua

Cái19.000.0009.000.000

 

 

3/Thiết bị đẩy ghe (chân vịt), lái ghe.

-Hệ trục: Bằng thép phi 60

-Chân vịt: Vật liệu thau, 03 cánh

-Kiểu máy lái: Vô lăng cơ khí

-Bánh lái: Kiểu tấm, vật liệu thép.

- Hiện trạng: Tại thời điểm thẩm định hiện trạng,  khung sườn và be gỗ của ghe còn tương đối, kín

nước, be gỗ phía trên nhiều

chỗ bị nứt; Vỏ ghe bị trầy xước nhiều. Động cơ chạy ghe, hộp số còn tương đối, động cơ đã ngưng hoạt động từ lâu. Hiện tại ghe đang được cơ quan chức năng tạm giữ

Bộ14.800.0004.800.000
IIDụng cụ bơm cát đã qua sử dụng22.065.444
1

Máy bơm cát

-Nhãn hiệu: KIA

-Động cơ: Diesel.

-Công suất: Khoảng 80CV

-Số máy: HO7C-023234

-Loại: 6 máy

-Hiện trạng: Thân máy rỉ sét nhiều chỗ; Động cơ đã ngưng hoạt động từ lâu.

Cái114.400.00014.400.000
2

Đầu hút cát lên ghe

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,89m; Rộng 0,4m; Cao 0,55m

-Nối với ống nhựa hút cát dài: 16m; Đường kính ống: 14cm

-Ống sắt: 1,2m; Đường kính: 1,4cm

-Nối với ống đầu ra có chiều dài: 0,62m; Đường kính ống: 14cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Bộ12.480.0002.480.000
3

Đầu bơm cát lên bờ

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,69m;

Rộng 0,28m; Cao 0,55m

-Nối với ống nhựa hút cát dài: 4,5m; Đường kính ống: 8cm

-Nối với ống bố đầu ra dài: 4,3m; Đường kính ống: 9cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Bộ11.800.0001.800.000
4

Đầu bơm nước

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,55m; Rộng 0,24m; Cao 0,29m

-Nối với ống nhựa dài: 4,5m; Đường kính ống: 8cm

-Nối với ống nhựa đầu ra dài: 0,9m; Đường kính ống: 8cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Cái1480.000480.000
5

Động cơ diesel (Bơm nước)

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 0,72m; Rộng 0,49m; Cao 0,8m

-Hiện trạng: Động cơ bị gỉ sét nhiều, thiếu nhiều bộ phận, chi tiết máy. Đã lâu không hoạt động

Cái11.400.0001.400.000
6

Bộ tời dây

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Loại: Khung sườn, hệ trục bằng thép

-Kích thước: Dài 0,59m; Rộng 0,35m; Cao 0,45m

-Hiện trạng: Bên ngoài bị

gỉ sét nhiều, đã lâu không

sử dụng

Bộ1320.000320.000
7

Ống sắt

-Nhãn hiệu: Không rõ

-Xuất xứ: Việt Nam

-Kích thước: Dài 3,9m; Đường kính: 6cm

-Hiện trạng: Bên ngoài bị gỉ sét nhiều, đã lâu không sử dụng

Mét3,936.000140.400
8

Cát sông đã khai thác

- Loại cát đen dùng trong san lấp

Hiện trạng: Đã được bơm lên bờ

Khối15,83466.0001.045.044
 Tổng cộng145.605.000

      - Tài sản đang được quản lý tại: Bến bãi Công ty Lam Sơn, ấp Thanh Sơn 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc (bến phà Hàm Luông Cũ).

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước theo Quyết định số 443/QĐ-UBND ngày 09/3/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc xác lập quyền sở hữu toàn dân và phê duyệt phương án bán tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân do Sở Tài chính tỉnh Bến Tre chuyển giao, bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 145.605.000 đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ năm ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 29.100.000 đ/hồ sơ nộp vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc), tại Bến bãi Công ty Lam Sơn,  địa chỉ: ấp Thanh Sơn 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre (bến phà Hàm Luông cũ).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ ngày 01/4/2020 đến 17 giờ ngày 14/4/2020 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 14, 15, 16/4/2020 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 17/4/2020.

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường An Hội, thành phố Bến Tre, Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.

31/03/2020 9:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
Quy định về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ướcQuy định về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước

Ngày 08/5/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Quy định này áp dụng đối với cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và tương đương (sau đây gọi là thôn, tổ dân phố) và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.

Theo quy định, hương ước, quy ước là văn bản quy định các quy tắc xử sự do cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố tự nguyện thỏa thuận và thiết lập nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của cộng đồng dân cư và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định.

Mục đích xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước: Phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở; bảo vệ, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp; hạn chế và từng bước loại bỏ phong tục, tập quán lạc hậu; xây dựng nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư.

Nguyên tắc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước: Phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư; bảo đảm tự nguyện, trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất của cộng đồng dân cư; phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân; dựa trên nhu cầu tự quản của cộng đồng dân cư; bảo vệ, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng các giá trị văn hóa mới phù hợp với đặc điểm tình hình của cộng đồng dân cư; không vi phạm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm bình đẳng giới; không đặt ra các khoản phí, lệ phí, phạt tiền, phạt vật chất.

Nội dung của hương ước, quy ước do cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố quyết định, bao gồm một hoặc một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà pháp luật chưa quy định hoặc quy định nguyên tắc; ghi nhận các phong tục, tập quán tốt đẹp và biện pháp hạn chế, tiến tới xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan; phù hợp với yêu cầu tự quản của cộng đồng dân cư và mục đích, nguyên tắc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.

Hương ước, quy ước được thể hiện dưới hình thức văn bản, có chữ ký xác nhận của Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố. Hương ước, quy ước sau khi được công nhận có đóng dấu giáp lai của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban nhân dân cấp huyện).

Ngôn ngữ trong hương ước, quy ước là tiếng Việt, được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, phù hợp với cộng đồng dân cư.

Việc lựa chọn tên gọi “Hương ước” hoặc “Quy ước” do công đồng dân cư quyết định.

 Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền công nhận hương ước, quy ước. Hương ước, quy ước đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện công nhận phải được thông tin, phổ biến kịp thời, rộng rãi đến các hộ gia đình, cá nhân trong thôn, tổ dân phố để biết, thực hiện bằng một trong các hình thức: Hội nghị của thôn, tổ dân phố; niêm yết công khai tại nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng; thông tin trên mạng lưới thông tin cơ sở; sao gửi hương ước, quy ước đến từng hộ gia đình, cá nhân; hình thức khác phù hợp với điều kiện thực tế của cộng đồng dân cư.

Hương ước, quy ước bị bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau: Bị tạm ngừng thực hiện theo quy định nhưng đã hết thời hạn quy định trong quyết định tạm ngừng thực hiện mà thôn, tổ dân phố không tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế; đã được công nhận nhưng không bảo đảm điều kiện thông qua theo quy định.

Quyết định quy định đối với các bản hương ước, quy ước đã được công nhận hoặc phê duyệt theo Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ trước ngày Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2018) mà không phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Quyết định này hoặc không đúng thẩm quyền công nhận phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc tiến hành thủ tục công nhận theo quy định tại Quyết định này trước ngày trước ngày 31/12/2018. Các bản hương ước, quy ước đã được công nhận hoặc phê duyệt mà phù hợp với nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Quyết định này được tiếp tục thực hiện. Kể từ ngày 01/7/2018, hương ước, quy ước chưa được công nhận phải được tiến hành thủ tục công nhận theo quy định tại Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg.

25/05/2018 9:00 SAĐã ban hành
Các Luật có hiệu lực ngày 01/01/2016 và các Luật mới được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa 13Các Luật có hiệu lực ngày 01/01/2016 và các Luật mới được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa 13

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Căn cước công dân, Luật Hộ tịch, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt. Các Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.

* Luật Căn cước công dân có 6 chương, 39 điều quy định về căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; quản lý, sử dụng thẻ Căn cước công dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

  * Luật Hộ tịch gồm có 7 chương và 77 điều, quy định về hộ tịch; quyền, nghĩa vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; Cơ sở dữ liệu hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch.

*Luật Bảo hiểm xã hội gồm có 9 chương, 125 điều, quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH); quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH.

* Luật Tổ chức Quốc hội gồm có 7 chương, 102 điều, theo đó vị trí, chức năng của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

* Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đã sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 1 Điều 2; Khoản 3 Điều 3; Đoạn đầu Điều 6 và Điều 7 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008.

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua các Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Ngân sách nhà nước, Luật An toàn, vệ sinh lao động, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Thú y.

* Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 gồm 9 chương, 62 điều, quy định về nghĩa vụ quân sự; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân và chế độ, chính sách trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật nghĩa vụ quân sự ngày 30 tháng 12 năm 1981; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 21 tháng 12 năm 1990; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 22 tháng 6 năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự số 43/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

*Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 gồm 8 chương, 41 điều, quy định về quyền, trách nhiệm, tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước, Nhân dân và các tổ chức; điều kiện bảo đảm hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 thay thế Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999.

*Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 gồm 10 chương, 81 điều, quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam; Hoạt động bảo vệ môi trường, quản lý, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo thực hiện theo quy định của các luật có liên quan và bảo đảm phù hợp với các quy định tại Luật này. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Riêng quy định tại khoản 1 Điều 79 (điều khoản chuyển tiếp) được áp dụng từ thời điểm Luật được công bố.

*Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 với 8 chương, 143 Điều, quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 142 của Luật này. Và tại quy định về điều khoản chuyển tiếp (Điều 142): Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 - 2021, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11. Chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11, Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến khi bầu ra chính quyền địa phương ở huyện, quận, phường theo quy định của Luật này.

*Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 gồm 7 chương, 50 điều, theo đó quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016, thay thế Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001.

*Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 gồm có 10 chương, 98 điều. Theo đó tại Điều 96 của Luật về quy định chuyển tiếp: Trong việc tổ chức bầu cử tại các huyện, quận, phường thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường quy định tại các điều 4, 9 và 51 của Luật này trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường có liên quan. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 có hiệu lực thi hành ngay từ ngày 01/9/2015. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10 và Luật số 63/2010/QH12, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 63/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

*Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 17 chương, 173 điều, quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; Luật này không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Những quy định về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

*Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 gồm 7 chương, 77 Điều  quy định về lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước. Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, thay thế Luật Ngân sách nhà nước năm 2012. Tại Điều 75 về điều khoản chuyển tiếp quy định: Đối với quyết toán ngân sách các năm 2015, 2016, áp dụng theo các quy định của Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11. Thời kỳ ổn định ngân sách 2011 - 2015 được kéo dài đến hết năm 2016. Thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo được tính từ năm 2017 đến năm 2020. Đối với dự toán ngân sách năm 2016 của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương thực hiện như sau:

Đối với dự toán ngân sách chi thường xuyên, áp dụng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ;

Đối với dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển, áp dụng các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển năm 2016 phải nằm trong khung kế hoạch đầu tư trung hạn 2016 - 2020 và được bố trí cân đối phù hợp với tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước năm 2016 so với năm 2015.

*Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 gồm 7 chương, 93 điều, quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Các quy định về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Mục 3 Chương III, khoản 4 Điều 84, điểm b khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 86, các điều 104, 105, 106, 107, 116 và 117 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành tiếp tục hoạt động cho đến hết thời hạn của giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động đã được cấp.

*Luật Kiểm toán năm 2015 gồm có 9 chương, 73 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng Kiểm toán nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán viên nhà nước; quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đối với hoạt động kiểm toán nhà nước. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 thay thế Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005. Việc kiểm toán đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đã có trong kế hoạch kiểm toán năm 2015 được tiếp tục thực hiện cho đến khi hoàn thành kế hoạch kiểm toán.

*Luật Thú y năm 2015 gồm 7 chương, 116 điều, quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ trong lĩnh vực thú y đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa hết thời hạn thì vẫn có giá trị sử dụng cho đến khi hết thời hạn.

22/09/2015 5:00 CHĐã ban hành
​  Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019​  Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019

Chiều ngày 28/12/2018,  Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Công đoàn cơ quan tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019 nhằm tổng kết, đánh giá những thành tích đã đạt được, những tồn tại, khó khăn cần khắc phục trong năm qua đồng thời đề ra Nghị quyết cho năm 2019. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, bà Dương Thị Nhanh, Chủ tịch Công đoàn, các đồng chí trong Ban Giám đốc và hơn 50 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham dự Hội nghị. Hội nghị đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 03 đồng chí: Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp và bà Dương Thị Nhanh, Chủ tịch Công đoàn.

hoi-nghi-cbcc2.gif

Hội nghị đã thông qua các dự thảo Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2018; Báo cáo đánh giá tổng kết và kiểm điểm trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc thực hiện kế hoạch công tác năm; Báo cáo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; Quy chế thực hiện dân chủ; Quy chế làm việc; Quy chế chi tiêu nội bộ và Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm 2019.

hoi-nghi-cbcc1.gif

Hội nghị có nhiều ý kiến bàn các biện pháp cải tiến điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, dự thảo Quy chế chi tiêu nội bộ. Trong hoạt động công đoàn năm 2018, có nhiều tập thể và cá nhân xuất sắc được Công đoàn cơ sở trao giấy khen và đề nghị Công đoàn Viên chức tỉnh và Liên đoàn Lao động tỉnh khen thưởng. Trên cơ sở đánh giá kết quả trong năm 2018, thực hiện ký kết giao ước thi đua giữa người đứng đầu cơ quan với tổ chức công đoàn.

Hội nghị cũng đã bầu lại Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2019-2020 gồm 03 đồng chí và 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019.

08/01/2019 11:00 SAĐã ban hành
Việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội trong tình hình hiện nayViệc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội trong tình hình hiện nay

Từ khi con người sinh sống thành cộng đồng thì các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng phức tạp và phong phú hơn. Trong quá trình phát sinh và phát triển các mối quan hệ xã hội này, làm nảy sinh các vấn đề xã hội cần được quan tâm giải quyết. Để giải quyết những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của một quốc gia là phải xây dựng những chính sách xã hội nói chung, chính sách về an sinh xã hội (ASXH) nói riêng.

Cuối năm, với người Việt Nam đó là truyền thống sum vầy, chia sẻ. Để mỗi người có cái Tết ấm áp, đầy đủ, Nhà nước và cộng đồng đã thực hiện nhiều giải pháp, nhiều hành động cụ thể để làm sao mang đến cái Tết thật sự ý nghĩa với mọi người, như tặng quà người khó khăn, chuyến xe cho công nhân xa quê được về nhà ăn tết, tặng áo lạnh cho người già, cho bà con vùng cao, thăm hỏi gia đình chính sách…

Đó cũng chỉ là một phần trong chính sách ASXH ở nước ta. Sâu xa hơn, chăm lo ASXH phải là các quy định cụ thể của pháp luật trong từng lĩnh vực, như là bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động; trợ giúp xã hội đối với mọi thành viên của xã hội khi họ gặp phải rủi ro; chăm sóc sức khỏe và các chương trình bảo hiểm y tế… Trong các nội dung này của ASXH, thực hiện pháp luật về BHXH là vấn đề lớn nhất, cơ bản và ổn định nhất của chính sách ASXH ở nước ta. Bởi lẽ BHXH có đối tượng rất lớn là toàn bộ người lao động, đó là những người tạo ra của cải vật chất cơ bản cho xã hội.

Luật BHXH đã được thông qua năm 2014. Theo đó, nguồn tài chính của BHXH được hình thành và sử dụng thông qua quỹ BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành và tích lũy dần từ sự đóng góp theo luật định của các bên tham gia BHXH. BHXH càng hoạt động tốt, quỹ này càng ngày càng phát triển, góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền ASXH quốc gia. Cùng với các bộ phận khác, BHXH góp phần tích cực tạo ra  mạng lưới an toàn xã hội đối với mọi tầng lớp dân cư. Điều này cho thấy chính sách BHXH có vai trò to lớn trong hệ thống ASXH nói riêng và hệ thống chính sách xã hội nói chung của quốc gia.

Trong nền kinh tế mở cửa và cạnh tranh như hiện nay, con người có nguy cơ gặp phải rủi ro, bất lợi cao trong đời sống xã hội, làm cho con người luôn có nhu cầu về ASXH càng cao. Người lao động làm việc trên cơ sở hợp đồng lao động, họ được trả công lao động trên cơ sở giá cả của thị trường và trên cơ sở thỏa thuận. Việc cam kết bảo đảm cho người lao động về tiền lương khi làm việc và bảo đảm trả cho những rủi ro được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Đây là nền tảng của BHXH hiện đại, bởi BHXH trong nền kinh tế thị trường tồn tại, hoạt động và phát triển dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua bên thứ ba, ổ chức BHXH. Về mặt tài chính, mối quan hệ này thể hiện ở sự đóng góp có tính chất bắt buộc (đóng phí BHXH) của người sử dụng lao động và người lao động để hình thành và phát triển quỹ BHXH. Quỹ BHXH được dùng chủ yếu cho các đối tượng thụ hưởng BHXH. Song song với BHXH, trong hệ thống ASXH còn có các bộ phận khác do các quỹ công cộng hoặc cộng đồng đảm nhận như trợ giúp xã hội, trợ cấp gia đình, các dịch vụ khác được cung cấp bởi ngân sách Nhà nước hoặc của cộng đồng. Mặc dù những quỹ này có tính xã hội nhiều hơn, nhưng chỉ có thể phát huy được trong điều kiện pháp luật điều chỉnh đầy đủ và dưới sự tập trung quản lý chung của Nhà nước.

Thực tế các hoạt động mang tính ASXH ở nước ta đã được thực hiện trong dân từ khá lâu. Những câu thành ngữ “áo lành đùm áo rách”, “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”…, đã thể hiện tính cộng đồng ở nước ta và đã góp phần điều chỉnh các hành vi trong xã hội về các hoạt động mang nội dung ASXH, dần dần đã được Nhà nước xây dựng thành các chính sách về ASXH.

Bộ phận quan trọng khác trong hệ thống ASXH ở Việt Nam đó là các hoạt động cứu trợ, trợ giúp xã hội. Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nên lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi và năm nào cũng xảy ra làm một bộ phận dân cư lâm vào tình cảnh túng quẫn đã hình thành một bộ phận người dân cần được cứu trợ hay trợ giúp xã hội. Nếu như việc cứu trợ, trợ giúp này trước đây chủ yếu do Nhà nước thực hiện với những “định mức” cả về tiền và hiện vật rất mang tính bình quân, thì hiện nay, các hoạt động này đã được “xã hội hóa”, đa dạng hơn. Nguồn lực cho cứu trợ, trợ giúp xã hội đã được đa dạng hóa từ Nhà nước, người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội từ thiện và kể cả nguồn lực quốc tế. Điều cơ bản nhất, đó là Nhà nước đã tạo ra “hành lang pháp lý” và tạo điều kiện hết sức thuận lợi để phát huy các nguồn lực này nhằm hỗ trợ cho những người không may bị thiệt thòi có cơ hội vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Nhà nước vẫn giữ vai trò rất lớn trong các hoạt động cứu trợ, trợ giúp xã hội này thông qua việc xây dựng cơ chế chính sách và định hướng hoạt động.

Dịp cuối năm cũng là lúc các hoạt động trợ giúp xã hội diễn ra nhộn nhịp nhất, hông chỉ các cơ quan Nhà nước mà cả cộng đồng, các doanh nghiệp cùng chung tay thực hiện. Điều đó cho thấy ASXH ở Việt Nam còn được thực hiện phù hợp môi trường văn hóa truyền thống, đã đem lại cho nền ASXH ở nước ta một sắc thái riêng mà không phải nơi nào cũng có được. Trong sự phát triển đó pháp luật về ASXH ở nước ta có những đóng góp quan trọng. Bằng những biện pháp của mình, pháp luật ASXH tạo ra hành lang pháp lý an toàn nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong cộng đồng được bảo đảm quyền và lợi ích. Pháp luật về ASXH ngày càng thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang phấn đấu xây dựng, đó là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Đối tượng tinh giản biên chếĐối tượng tinh giản biên chế
Ngày 20/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.
23/12/2014 11:00 SAĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN TẠI BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN TẠI BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ LUẬT SƯ HÀNH NGHỀ VỚI TƯ CÁCH CÁ NHÂN TẠI BẾN TRE


1. Danh sách các tổ chức hành nghề luật sư

STTTên tổ chức hành nghề luât sưĐịa chỉ trụ sởNgười đại diện theo pháp luật của Văn phòng luật sư/Công ty luậtGhi chú
01

Văn phòng Luật sư

Nguyễn Nghệ An

Số 197/3 Nguyễn Huệ, tổ 6, khu phố 3, phường IV, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreNguyễn Nghệ An 
02

Văn phòng Luật sư

Phạm Chí Trung

504C, ấp Bình Công, xã Bình Phú, TP. Bến TrePhạm Chí Trung 
03

Văn phòng Luật sư

Nguyễn Hoàng Việt

299A1, khu phố 3, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến TreNguyễn Hoàng Việt 
04

Văn phòng Luật sư

Trần Minh Vũ

381, lộ Hàng Keo, khu phố 5, phường Phú Khương, TP. Bến Tre, tỉnh Bến TreTrần Minh Vũ 
05

Văn phòng Luật Sư

Nguyễn Hữu Dũng

427C4 khu phố 6, phường Phú Khương, TP. Bến Tre, tỉnh Bến TreNguyễn Hữu Dũng 
06

Văn phòng Luật sư

Chiến Ly

196 đường Hùng Vương, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến TreLê Văn Ly 
07

Văn phòng Luật sư

Huy Nguyên

137C, Hùng Vương (nối dài), phường 7, TP. Bến Tre, tỉnh Bến TreTrần Nhật Long Huy 
08

Văn phòng Luật sư

Bách Hợp

394/AĐ2 ấp An Định 2, xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến TreNguyễn Thị Kim Thoa 
09Văn phòng Luật sư BT49/AĐ1 ấp An Định, xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến TreĐỗ Thị Hoàng Yến 
10

Văn phòng Luật sư

Trương Văn Trọn

ấp Mỹ An C, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreTrương Văn Trọn 
11Công Ty Luật Hợp Danh Liên ĐoànSố 51/1, đường 30 tháng 4, khu phố 1, phường 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Trương Thị Xem

 

 
12

Văn phòng luật sư

Đinh Mười

105D, ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreĐinh Thị Bé MườiTam ngưng hoạt động 02 năm (01/2/2018-01/2/2020)
13

Văn phòng luật sư

Võ Tấn Thành

Số 183B, khu phố 1, phường 8, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.Võ Tấn Thành 
14

Văn phòng luật sư

Nguyễn Tấn Đức

Ấp An Hòa, xã An Bình Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến TreNguyễn Tấn Đức 
15

Văn phòng luật sư

Nguyễn Văn Tặng

104A3, Võ Văn Phẩm, khu phố Bình Khởi, phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TrerNguyễn Văn Tặng 
16

Văn phòng luật sư

Xuân Diệu

289/10A, khu phố I, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến TrePhòng Xuân Diệu 
17Cty luật TNHH một thành viên A&P306C9, tổ 16A, khu phố 6, đường Nguyễn Huệ, phường Phú Khương, thành phố Bến TreNguyễn Thị Hà Thanh 
18

Văn phòng luật sư

Lê Vũ Hồng Huệ

559A, ấp Phú Chánh, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreLê Vũ Hồng Huệ 


          2. Danh sách Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư

         

STTTên Chi nhánh VPLSĐịa chỉ trụ sở Chi nhánhTrưởng Văn Chi nhánh`Ghi chú
01

Chi nhánh VPLS

Nguyễn Thanh Lương

78A, quốc lộ 60, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến TreTrần Thị Ánh 
02

Chi nhánh VPLS

Lê Sua

Số 13A, Quốc lộ 60, khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến TreLê Văn Sua 
03Chi nhánh số 01 VPLS Lê Thùy VânSố 2/1C khu phố 3, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến TreLê Thị Thùy Vân 
04

Chi nhánh VPLS

Nguyễn Hoàng Việt

Khu phố 4, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến TreNguyễn Hoàng Việt 
05

Chi nhánh VPLS

Trần Minh Vũ

Quốc lộ 60, ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreTrần Minh Vũ 
06

Chi nhánh VPLS

BT

Số 105A, đường Đồng Văn Cống, ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreĐỗ Thị Hoàng Yến 
07

Chi nhánh VPLS

Võ Tấn Thành

Số 105B, đường Trương Định, khu phố Bình Nghĩa, phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreLê Tấn Diệu 
08

Chi nhánh VPLS

Thịnh Trí

Lô HP 1.26, đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TrePhạm Quốc Cường 
09VPLS Chấn Lai Chi nhánh Bến Tre3E1, đường Đồng Văn Cống, khu phố Mỹ Tân, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreLê Nhật Hoàng 
10Chi nhánh VPLS Nguyễn Văn TặngẤp Bình Hòa, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến TreNguyễn Đức Dũng 
11Chi nhánh Công ty luật TNHH Hồng và Cộng sự05B, tổ 2B, ấp 2, xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến TreHuỳnh Thị Thanh Hồng 

                                                                                                               

3. Danh sách luật sư hành nghề với tư cách cá nhân

STTHọ và tên luật sư hành nghề với tư cách cá nhânNơi hành nghềGhi chú
01Nguyễn Thị Bạch ĐiệpTrung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia tỉnh Bến Tre 
02Đào Thị NamTrung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia tỉnh Bến Tre 
03Nguyễn Thị BiếtTrung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia tỉnh Bến Tre 
04Trịnh Thị Thanh BìnhTrung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia tỉnh Bến Tre 
05Nguyễn Thị Ngọc PhượngHội Luật gia huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre 
06Trương Văn DũTrung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh Bến Tre 
07Võ Thành ĐượcTrung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh Bến Tre 

 

02/03/2020 3:00 CHĐã ban hành
Giám định tư pháp Bến Tre từng bước phát triển Giám định tư pháp Bến Tre từng bước phát triển

Thực hiện Nghị định số 117/HĐBT ngày 21 tháng 7 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng về giám định tư pháp, năm 1991 Bến Tre đã bổ nhiệm 05 giám định viên tư pháp đầu tiên, trong đó lĩnh vực pháp y 02, pháp y tâm thần 01, kỹ thuật hình sự 01 và thuế 01. Từ năm 1995 đến cuối năm 2004 đã bổ nhiệm thêm 14 giám định viên tư pháp. Trong giai đoạn này, một số tổ chức giám định tư pháp được thành lập như Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự, Tổ chức giám định pháp y, Tổ chức giám định pháp y tâm thần và Tổ chức giám định khoa học - kỹ thuật.

Khi Pháp lệnh về giám định tư pháp năm 2004 được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua, đặc biệt từ khi Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp" được ban hành, hoạt động giám định tư pháp được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan tư pháp và nhận được sự quan tâm sâu sát từ các cấp, các ngành, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp được chú trọng. Từ đó hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Bến Tre có những khởi sắc mới.

Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp" của tỉnh và Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo được thành lập theo Quyết định số 1995/QĐ-UBND ngày 30 tháng 01 năm 2010. Trong đó, Ban Chỉ đạo gồm 14 thành viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban, Phó Giám đốc Sở Tư pháp làm Phó Trưởng ban và thành viên là đại diện lãnh đạo các sở, ngành liên quan. Để Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án hoạt động có hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ký Quyết định số 265/QĐ-UBND ngày 30 tháng 01 năm 2011 về việc ban hành Quy chế làm việc Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án "Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp".

Ngay khi được thành lập, Ban Chỉ đạo đã tham mưu củng cố và kiện toàn các tổ chức giám định tư pháp: Trung tâm giám định pháp y, Trung tâm giám định pháp y tâm thần và Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh được thành lập thay Tổ chức giám định pháp y, Tổ chức giám định pháp y tâm thần và Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự trước đây; Tổ chức giám định khoa học - kỹ thuật được giải thể theo quy định của Pháp lệnh; cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ hoạt động giám định của các Tổ chức giám định tư pháp bước đầu cũng được quan tâm và trang bị; số lượng giám định viên tư pháp tăng nhanh, từ 19 giám định viên lên 60 giám định viên và 11 người làm giám định tư pháp theo vụ việc, số vụ việc trưng cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng và các tổ chức, cá nhân khác cũng ngày càng tăng cao, chất lượng hoạt động giám định tư pháp đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hoạt động tố tụng.

Hiện nay, thực hiện Luật Giám định tư pháp năm 2012 và các văn bản liên quan, Bến Tre có 02 tổ chức giám định tư pháp công lập là Trung tâm pháp y và Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh; 85 giám định viên tư pháp thuộc các lĩnh vực pháp y, kỹ thuật hình sự, thuế, nội vụ, tài chính, xây dựng, công thương, giao thông vận tải, kế hoạch và đầu tư, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, thông tin và truyền thông, văn hóa, thể thao và du lịch, lao động - thương binh và xã hội, nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đội ngũ giám định viên tư pháp cơ bản đáp ứng yêu cầu, phục vụ tốt theo sự trưng cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng và yêu cầu của các cá nhân, tổ chức; chất lượng hoạt động giám định ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.

Công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các tổ chức giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh hiện nay được đảm bảo tổ chức thực hiện theo Quy chế phối hợp số 156/QC-CQĐT-PKTHS-TTGĐPY ngày 04/12/2015 giữa Cơ quan điều tra, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh trong hoạt động trưng cầu và thực hiện việc giám định tư pháp. Hoạt động giám định tư pháp ngày càng khẳng định được tầm quan trọng trong hoạt động tố tụng khi mà số lượng vụ việc trưng cầu, yêu cầu ngày càng tăng. Tính từ năm 2010 đến nay, số lượng vụ việc trưng cầu, yêu cầu giám định trên địa bàn tỉnh Bến Tre là 8.547 vụ việc, riêng năm 2016 là 934 vụ việc. Kết quả giám định là một trong những chứng cứ để xem xét, giải quyết vụ án, các giám định viên phải không ngừng phấn đấu, học tập, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, hoàn thiện bản thân trong thực hiện hoạt động giám định nhằm đem lại kết luận chính xác, khách quan nhất, tạo niềm tin, uy tín đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng và người dân trên địa bàn tỉnh nói chung.

Từ những bước phát triển trên, hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh hứa hẹn sẽ có những bước chuyển biến, không ngừng phát triển, góp phần quan trọng trong công cuộc bảo vệ pháp chế, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nguyễn Hướng

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 15/11/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 15/11/2018
16/11/2018 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/10/2016Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/10/2016

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 327/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản thanh lý 24 (Hai mươi bốn) cây cọc pêtông cốt thép, kích thước mỗi cọc là: 11m x 0,25 x 0,25 đã đúc sẵn để sử dụng vào thi công xây dựng công trình nhưng không sử dụng hết.

- Tài sản tọa lạc: tại Chi Cục Thuế huyện Giồng Trôm; thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Cục Thuế tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

        - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 28.800.000đ (Hai mươi tám triệu, tám trăm ngàn đồng).

        * Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

        * Khoản tiền đặt trước: 3.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 19/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2016 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 01/11/2016 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 328/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô con 05 chỗ màu xanh, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: COLLAGLI, biển số  71B-0449, số máy: 4AH536740; số khung: AE111-9560639; sản xuất năm 1999, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại.

 * Lưu ý:

- Khách hàng trúng đấu giá khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định thì các loại thuế và phí liên quan thì người mua phải chịu.

- Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Bảo hiểm xã hội tỉnh Bến Tre để được xuất hóa đơn theo quy định, nếu quá 30 ngày thì Trung tâm đấu giá và Bảo hiểm xã hội tỉnh Bến Tre không giải quyết cho khách hàng.         

- Tài sản tọa lạc tại: Bảo hiểm xã hội tỉnh Bến Tre; (địa chỉ: phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, Bến Tre).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

            - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng).

            * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

            * Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 19/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2016 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 01/11/2016 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 325/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của hộ ông Lê Văn Lục, hiện cư ngụ tại: ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

           - Diện tích: 1.315 m2 đất trồng lúa nước còn lại;

           - Thuộc thửa 224, tờ bản đồ số 05;

2) Tài sản gắn liền với đất:

- Dừa khoản 4 năm tuổi: 27 cây

- Dừa khoản 1 năm tuổi: 25 cây

- Sơri khoản 1 năm tuổi: 10 gốc

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Bình Thành, xả Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Lê Văn Lục, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 293.050.000đ (hai trăm chín mươi ba triệu, không trăm năm mươi ngàn đồng).

 Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/11/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 24/11/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 44.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 320/2016 (Kèm nội quy)

      Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (công trình xây dựng và cây trồng) của ông Dương Thanh Phong và bà Đỗ Thị Kim Dung, địa chỉ tại: ấp 5, xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Diện tích: 3.477,0 m2 (theo số liệu đo đạc chính quy), ( trong đó: 300,0m2 đất ONT và 3.177,0m2 đất CLN).

      - Thuộc thửa số 72, 73, 74, tờ bản đồ số 01 (số liệu chính quy thửa đất 01, tờ bản đồ số 05);

     * Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB241638, AB241637 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 28/12/2004 và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB796574 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 12/4/2005 cho ông Dương Thanh Phong và bà Đỗ Thị Kim Dung.

       2. Tài sản trên đất:

       a) Công trình xây dựng:

       - Nhà ở: diện tích xây dựng 69,03 m2. Kết cấu: nhà 01 tầng; móng cột bê tông cốt thép; vách tường xây gạch dày 10cm, có ngăn phòng tường bao che chưa tô; nền lát gạch ceramic, mái lợp tole prôximăng, không trần; khung cửa sắt (loại cửa kéo).

       - Nhà kho: diện tích xây dựng 52,2 m2. Kết cấu: nhà 01 tầng; móng cột bê tông cốt thép; vách tường xây gạch dày 10cm, không có ngăn phòng tường bao che chưa tô và có một vách hướng Bắc sử dụng chung với nhà ở; nền tráng ximăng, mái lợp tole tráng kẽm, không trần.

       - Nhà tiền chế: diện tích xây dựng 8,75 m2. Kết cấu: cây gỗ tạp, mái tole kẽm, nền tráng ximăng.

       - Nhà vệ sinh: diện tích 6,0 m2. Kết cấu: Vách tường xây gạch 10cm, tường bao che chưa tô; nền tráng ximăng, mái tole kẽm.

      b) Cây trồng: 01 cây dừa khoảng 06 năm tuổi và 02 cây dừa khoảng 04 năm tuổi.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (công trình xây dựng, cây trồng) của ông Dương Thanh Phong và bà Đỗ Thị Kim Dung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 613.716.931đ (Sáu trăm mười ba triệu, bảy trăm mười sáu ngàn, chín trăm ba mươi mốt đồng).

       Thời gian xem, tham khỏa hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/11/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 24/11/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/ 01 hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 326/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

           - Diện tích: 500,1 m2 đất CLN;

           - Thuộc tờ bản đồ 5, một phần thửa số 182;

2) Cây trồng trên đất: cây dừa, sakê, cây cau, cây chuối.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy và bà Ngô Thị Ra, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 43.727.871đ (bốn mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi bảy ngàn, tám trăm bảy mươi mốt đồng).

 Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/11/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 24/11/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 4.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 322/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà gắn liền trên đất của ông Võ Văn Phúc và bà Nguyễn Bé Thủy, hiện cư ngụ tại: ấp Phú Hòa, xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản có các đặc điểm sau:

1) Về đất: Diện tích: 300,4 m2 (trong đó có  60 m2 đất ONT và 240,4 m2 đất CLN); Thửa số 276, tờ bản đồ số 12;

2) Nhà trên đất:

- Nhà ở + nhà phụ:

* Cấu trúc:

+ Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

+ Diện tích xây dựng: nhà chính (6 x 9,1)m + (7,18 x 7,4)m = 107,7 m2; nhà phụ (3,55 x 9,1) = 32,3 m2;

+ Dạng nhà; cấp IV;

+ Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10cm, trần trang trí thạch cao, mái lợp tole sóng vuông;

* Kết cấu:

+ Phòng khách: nền lát gạch ceramic (40 x 40)cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, sơn nước, trần trang trí thạch cao. Đòn tay thép, mái tole sóng vuông. Cửa đi chính bằng gỗ, 04 cánh, cửa sổ bằng khung nhôm + kính, 02 cánh (dạng cửa lùa);

+ Phòng khách chữ L: Có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa đi bằng gỗ, 04 cánh, cửa sổ bằng khung nhôm + kính, 02 cánh (dạng cửa lùa);

+ Phòng ngủ (02 phòng): Có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa phòng bằng khung sắt + kính, 01 cánh, cửa sổ bằng khung nhôm + kính, 02 cánh (dạng cửa lùa);

+ Khu nhà bếp (nhà phụ): Có kết cấu tương tự như phòng khách, không trần, bếp bằng bêtông cốt thép, tường ốp gạch men, bề mặt bếp lát gạch men, cửa sau bằng sắt + kính, 01 cánh;

+ Hiện trạng: Nhà ở đang sử dụng bình thường.

- Nhà vệ sinh: Kích thước (D x R): (2,1 x 1,75)m;

* Kết cấu:

+ Nền lát gạch ceramic nhám (25 x 25)cm, tường ốp gạch men cao khoảng 1,2 m, cửa bằng nhựa 01 cánh. Trang thiết bị vệ sinh: xí bệt, vòi nước, chậu rửa...

+ Hiện trạng: Nhà vệ sinh đang sử dụng bình thường.

- Mái che: Kích thước (D x R): (7,86 x 2,1) + (11,45 x 2,4)m;

* Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền láng ximăng, khung thép, đòn tay gỗ, mái lợp tole sóng vuông;

+ Hiện trạng: Mái che đang sử dụng bình thường.

- Cổng + tường rào:

     + Cổng rào: Kích thước 4 md; Trụ cổng bằng bêtông cốt thép (40 x 40) cm, ốp gạch nước trang trí;

+ Tường rào: Kích thước 9,15 md; Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,2m, tường xây gạch dày 10 cm, cao < 0,8 m, trên lắp khung thép hình, cao 1,95m.

+ Tường rào: Kích thước 29,6 md; Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,2m, tường xây gạch dày 10 cm, cao < 0,8 m, trên lắp khung lưới B40, cao 1,95m.

+ Tường rào: Kích thước 11,45 md; Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8m, tường xây gạch dày 10 cm, cao 1,95m;

     + Hiện trạng: Cổng + tường rào đang sử dụng bình thường.

- Sân nền: Kích thước: (7,18 x 4,5) + (5,25 x 12) m;

* Kết cấu: sân bêtông đan, bêtông không cốt thép;

+ Hiện trạng: Sân nền hiện đang sử dụng bình thường.

- Hồ nước tròn: Dung tích 03 m3;

* Kết cấu: Hồ dạng cống tròn, khung trụ bêtông, thành xây gạch dày 100 mm;

+ Hiện trạng: Hồ nước đang sử dụng bình thường.

- Giếng hộc: Kích thước đường kính 0,75m, sâu 04 m;

* Kết cấu: Khung trụ bêtông đá, dày 70 mm;

+ Hiện trạng: Giếng hộc đang sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) tọa lạc xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng và nhà gắn liền trên đất của ông Võ Văn Phúc và bà Nguyễn Bé Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 441.545.159đ (bốn trăm bốn mươi mốt triệu, năm trăm bốn mươi lăm ngàn,một trăm năm mươi chín đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 30.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/11/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 24/11/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 337/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản là quyền sử dụng 08 (tám) thửa đất và cho thuê 01 (một) thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (bảng kê chi tiết kèm theo). Tài sản cụ thể như sau:

1. Đất bán đấu giá giao đất:

 - Tổng diện tích: 1.397,9 m2 (gồm 08 thửa); Loại đất: ODT và ONT.

 - Tài sản tọa lạc tại: xã Sơn Định và Thị trấn Chợ Lách, Huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Giá khởi điểm tài sản (1) là: 1.114.774.000đ (Một tỷ, một trăm mười bốn triệu, bảy trăm bảy mươi bốn ngàn đồng).

 2. Đất đấu giá cho thuê (thời gian thuê 50 năm):

  - Diện tích: 4.062,2 m2 (gồm 01 thửa); Loại đất: NKH.

  - Tài sản tọa lạc tại: xã Vĩnh Thành, Huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  - Giá khởi điểm tài sản (2) là: 2.596.000đ/năm (Hai triệu, năm trăm chín mươi sáu ngàn đồng).

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Trung tâm Phát triển quỹ đất Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng.

* Lưu ý: Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng (có bảng chi tiết từng thửa đất, lệ phí hồ sơ và khoản tiền đặt trước kèm theo).

 - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá và cho thuê (1+2) là: 1.117.370.000đ (Một tỷ, một trăm mười bảy triệu, ba trăm bảy mươi ngàn đồng).

            - Thời gian xem, tham khảo hồ sơ tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 19/10/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/11/2016 (trong giờ làm việc).

            - Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 13 giờ 30 phút đến 17 giờ ngày 21/11/2016 tại Hội trường Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  - Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 23/11/2016 tại Hội trường Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

21/10/2016 4:00 CHĐã ban hành
Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp làm việc tại Sở Tư pháp tỉnh Bến TreCục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp làm việc tại Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre
 Ngày 05 tháng 6 năm 2013, Đoàn công tác Cục Trợ giúp pháp lý (TGPL), Bộ Tư pháp đã có buổi làm việc với Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre về khảo sát tình hình tổ chức và hoạt động TGPL trên địa bàn tỉnh. Ông Cù Thu Anh, Phó Cục trưởng Cục TGPL làm Trưởng đoàn; đến dự buổi làm việc có ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đạ...

Ngày 05 tháng 6 năm 2013, Đoàn công tác Cục Trợ giúp pháp lý (TGPL), Bộ Tư pháp đã có buổi làm việc với Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre về khảo sát tình hình tổ chức và hoạt động TGPL trên địa bàn tỉnh. Ông Cù Thu Anh, Phó Cục trưởng Cục TGPL làm Trưởng đoàn; đến dự buổi làm việc có ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đại diện Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Trung tâm TGPL, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội luật gia tỉnh, Đoàn luật sư tỉnh; các Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, các công tác viên pháp lý; đại diện Ban chủ nhiệm các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý: An Đức, Bảo Thuận (Ba Tri), Thạnh Phong, Thạnh Hải (Thạnh Phú), Thạnh Trị (Bình Đại).

Tại cuộc họp các đại biểu đã nghe lãnh đạo Trung tâm TGPL báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL; tình hình tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL ở địa phương; có 14 ý kiến của các cơ quan Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Đoàn Luật sư, Hội Luật gia, các công tác viên, trợ giúp viên, Ban chủ nhiệm các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý góp ý thẳng thắn và phân tích khá sâu về kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn trong công tác phối hợp hoạt động TGPL; trong đó nhấn mạnh, qua hơn 15 năm, hoạt động TGPL đã có những bước phát triển mạnh mẽ, thực hiện hàng nghìn vụ việc TGPL cho hàng nghìn đối tượng được TGPL trên địa bàn tỉnh, hoạt động TGPL đã thực sự đi vào chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu của các đối tượng được TGPL cũng như công tác quản lý nhà nước về TGPL. Thông qua hình thức tham gia tố tụng đã trực tiếp góp phần cùng các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhiều vụ án hình sự, vụ việc dân sự, hành chính được kịp thời, khách quan, đúng pháp luật; thông qua phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn pháp luật, đã góp phần tích cực vào quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền con người, tăng cường dân trí, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thông qua hoạt động TGPL, nhận thức của các cơ quan, tổ chức và người dân được nâng lên, tạo thuận lợi cho người nghèo, đối tượng chính sách và những đối tượng khác có điều kiện tiếp cận với dịch vụ TGPL miễn phí ngay tại địa bàn; giảm bớt tốn kém và chi phí đi lại.

Đạt được kết quả nêu trên, là do được sự quan tâm chỉ đạo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Cục Trợ giúp pháp lý; lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, trực tiếp, thường xuyên của Đảng uỷ, Ban lãnh đạo Sở Tư pháp; sự phối hợp chặt chẽ giữa các các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể địa phương, cơ sở và các phòng, trung tâm trực thuộc Sở; các phòng Tư pháp huyện, thành phố; sự nỗ lực, phấn đấu, đoàn kết, thống nhất và đề cao tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo và cán bộ, viên chức Trung tâm TGPL; trong đó vai trò hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL; đã góp phần tạo nên những kết quả rất đáng trân trọng.

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, Phó Cục trưởng Cù Thu Anh ghi nhận những ý kiến đóng góp của quý đại biểu; đồng thời cũng trao đổi một số vấn đề có liên quan về cơ cấu tổ chức của Chi nhánh TGPL, tùy tình hình thực tế của từng địa phương sẽ kiến nghị tổ chức theo hướng như hiện nay hoặc tổ chức trợ giúp viên ở phòng Tư pháp; về chức danh Trợ giúp viên pháp lý hay Luật sư công sẽ tiếp tục nghiên cứu kỷ và có đề xuất sửa đổi luật TGPL vào thời điểm thích hợp; về mô hình Câu lạc bộ TGPL, hiện nay ở địa phương, cơ sở đang có nhiều loại hình câu lạc bộ tồn tại và hoạt động đa dạng. Tuy nhiên, mỗi loại mô hình có tổ chức, điều lệ, đối tượng khác nhau nên việc sáp nhập hay duy trì hoạt động như hiện tại vẫn phải chờ ý kiến của các ngành trung ương; việc phụ cấp công vụ đối với đơn vị sự nghiệp Cục TGPL, Bộ Tư pháp cũng đã có kiến nghị về Bộ Nội vụ và đặc biệt sẽ liên hệ với Ban dự thảo sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự sẽ kiến nghị đưa chức danh Trợ giúp viên pháp lý vào Bộ luật Tố tụng Hình sự.

10/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/01/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/01/2019

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 06 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý vật tư thu hồi cầu thép không gian, cụ thể như sau:

1. Thanh giằng dọc dưới thép tròn phi 130: dài 34m, dầy 12mm, số lượng 03 thanh =  3.561,84kg.

2. Thanh giằng chéo thép tròn phi 50: dài 1,2m, dầy 5mm, số lượng 210 thanh =  1.398,09kg

3. Thanh giằng ngang thép tròn phi 50: dài 0,7m, dầy 5mm, số lượng 126 thanh =  489,33kg.

4. Thanh giằng chéo dưới thép tròn phi 50: dài 1,5m, dầy 5mm, số lượng 42 thanh =  349,52kg.

5. Thanh giằng dọc trên thép tròn phi 90: dài 34m, dầy 8mm, số lượng 04 thanh =  1.126,89kg.

6. Thép liên kết bêtông sàn cầu (8mm x 80mm): dài 34m, dầy 8mm, số lượng 08 miếng =  1.366,52kg.

7. Thép liên kết lan can: rộng 130mm, cao 300mm, dầy 10mm, số lượng 44 tấm =  134,68kg.

8. Thép tròn lan can phi 34: dài 34m, dầy 3mm, số lượng 04 thanh =  311,84kg.

9. Thép đứng lan can chữ C (40mm x 80mm): dầy 2mm, số lượng 44 thanh =  110,52kg

   - Tài sản được quản lý tại: ấp Long Quới, xã Long Thới, huyện Chợ Lách.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ủy ban nhân dân xã Long Thới, huyện Chợ Lách, không có nhu cầu sử dụng bán nộp ngân sách nhà nước.

* Lưu ý: Tài sản đã được tháo gỡ xong và bán theo số lượng danh mục trên không thực hiện việc cân lại.

  - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1->9): 44.246.150đ (Bốn mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi sáu ngàn, một trăm năm mươi đồng).

* Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc) tại ấp Long Quới, xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (Liên hệ đ/c Hà, Số điện thoại 0987047010).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 8.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 15/02/2019 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 09 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 148,2m2;

- Thuộc thửa đất số 320, tờ bản đồ số 01 (thửa mới 07, tờ bản đồ số 31);

- Loại đất: ở nông thôn.

2. Công trình xây dựng trên đất:  

a) Nhà chính:

- Diện tích xây dựng là 44,62 m2.

- Kết cấu: Nhà trệt độc lập. Móng, khung, cột; BTCT, nền lát gạch men, tường xây gạch, cửa đi và cửa sổ gỗ lá sách, đòn tay gỗ, mái tole, trần nhựa, nhà có ngăn phòng riêng, toilet trong, điện nước sinh hoạt đầy đủ.

- Hiện trạng: Nhà đã cũ, lỗi thời, kết cấu chung đều xuống cấp. Hiện tại đang sử dụng.

b) Nhà phụ:

- Diện tích 54,45m2.

- Kết cấu: Nhà tạm dưới cấp , khung gỗ tạp, nền gạch men, không vách, không cửa, mai lợp tole, đòn tay gỗ.

- Hiện trạng: Nhà đã cũ, lỗi thời, kết cấu chung đều xuống cấp. Hiện tại đang sử dụng.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 985.639.200đ (Chín trăm ba tám mươi lăm triệu, sáu trăm ba mươi chín ngàn, hai trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 197.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2019 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2019 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 05/3/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 14 (Kèm QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 02 (hai) tàu cá của ông Nguyễn Văn Chánh và bà Võ Thị Thu Thảo, hiện cư ngụ tại: ấp An Thuận, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tàu cá biển số đăng ký BT-97073-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-97073-TS

- Tên tàu: Phước tiến

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Chánh

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2007, tại Tiền Giang

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 51,5tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài Lmax: 22,05m

- Chiều rộng Bmax: 6,04m

- Chiều cao mạn: 3,25m

- Chiều chìm: 2,80m

- Mạn khô: 0,45m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu Mitsibishi S6R,

- Số máy 65545

- Tổng công suất động cơ: 898 sức ngựa

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

- Giá khởi điểm tài sản (1): 1.483.000.000đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi ba triệu đồng)

1. Tàu cá biển số đăng ký BT-97037-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-97037-TS

- Tên tàu: Phước tiến

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Chánh

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2000, tại Bến Tre

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 19,6tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài Lmax: 17,20m

- Chiều rộng Bmax: 4,60m

- Chiều cao mạn: 1,95m

- Chiều chìm: 1,50m

- Mạn khô: 0,45m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu Hino 10V26C,

- Số máy A10160

- Tổng công suất động cơ: 450 sức ngựa

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

- Giá khởi điểm tài sản (2): 504.000.000đ (Năm trăm lẻ bốn triệu đồng)

* Tài sản (1+2) được quản lý tại: Vựa Quang Bình, khóm 11, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Chánh và bà Võ Thị Thu Thảo, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.987.000.000đ (Một tỷ, chín trăm tám mươi bảy triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng mục 1, 2 và chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ từng tài sản 1, 2 nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 280.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1, và 100.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 15/02/2019. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 15 (Kèm QC)

 

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là tàu cá của ông Đặng Minh Trí và bà Lê Ngọc Yến, hiện cư ngụ tại: 296/TĐ, ấp Tân Định, xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

Tàu cá biển số đăng ký BT-92868-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-92868-TS

- Tên tàu: MINH TRÍ 2

- Chủ tàu: Đặng Minh Trí

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2013, tại Ba Tri, Bến Tre

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 59,7tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ     

- Chiều dài Lmax: 23,80m

- Chiều rộng Bmax: 5,80m

- Chiều cao mạn: 3,40m

- Chiều chìm: 2,90m

- Mạn khô: 0,50m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu Hino V26C,

- Số máy B10389

- Tổng công suất động cơ: 450 sức ngựa

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

- Giá khởi điểm tài sản: 2.075.000.000đ (Hai tỷ, không trăm bảy mươi lăm triệu đồng)

* Tài sản được quản lý tại: Vựa Quang Bình, khóm 11, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Minh Trí và bà Lê Ngọc Yến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu: 2.075.000.000đ (Hai tỷ, không trăm bảy mươi lăm triệu đồng)

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 400.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 15/02/2019. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 17 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý vật tư thu hồi cầu thép không gian, cụ thể như sau:

I. Tài sản thanh lý tháo dỡ:

1. Hội trường: Kết cấu: nền gạch bông, cột pêtông cốt thép, tường xây gạch, trần nhựa, mái lợp ngói, diện tích 364,18m2.  Tỷ lệ còn lại 8%.        

2. Nhà làm việc hành chính: Kết cấu: nền gạch bông, cột pêtông cốt thép, tường xây gạch, trần thạch cao + ván ép, mái lợp ngói, diện tích 421,8m2.  Tỷ lệ còn lại 10%.

3. Nhà nghỉ công an bảo vệ: Kết cấu: nền gạch bông, cột pêtông cốt thép, tường xây gạch, trần ván ép, mái lợp tole, diện tích 79,2m2.  Tỷ lệ còn lại 8%.

4. Nhà phát xạ phát thanh: Kết cấu: nền gạch bông, cột gạch, tường xây gạch, trần ván ép, mái lợp tole, diện tích 105,73m2.  Tỷ lệ còn lại 5%.

5. Nhà xe ôtô: Kết cấu: nền ximăng, cột pêtông cốt thép, tường xây gạch, không trần, mái lợp tole, diện tích 85,8m2.  Tỷ lệ còn lại 5%.

II. Máy móc thiết bị:

 

TTTên tài sảnĐVTSố lượngHiện trạng
1Bộ máy vi tính PC E5500  (P.HCTC Nguyệt)Bộ1

Hư hỏng.

 

2Máy vi tính Intel E2180   (Thủ quỹ)Bộ1"
3Bộ máy vi tính PC E5300  (P.VNGT)Bộ1"
4Máy vi tính p4 (CSBV)Bộ1"
5Máy vi tính p4 của dự án 2006 (Psong)Bộ1"
6Máy vi tính Intel E2180  (Tin TG)Bộ1"
7Bộ dựng hình (Capture thời sự)Bộ1"
8Máy vi tính Intel E2180   (VHXH+Nội chính)Bộ2"
9Máy vi tính p4 ROBO (QLKT)Bộ1"
10Bộ máy vi tính Core I3 (TSCM-N.Yến)Bộ1"
11Máy vi tính  P4 (H.Vũ)Bộ1"
12Khuyết đại  phân đường âm thanh cân bằng  (p.sóng FM)  cái1"
13Màn hình SamSung 32" kiểm tra video/Audio (VNGT)Cái1"
14Tivi  JVC 21 inch (Tư liệu)Cái1"
15Đầu phát băng VS30E (P.dựng 1)cái1"
16Đầu thu phát băng SR-DVM700E (Dựng 1+ Tư liệu)cái2"
17Đầu phát băng AG-DV 2500 (P.CT Tâm)cái1"
18Đầu ghi đĩa DVD DRM200 (QLKT)cái1"
19Thiết bị thu vệ tinh CCTV9Cái1"
20Thiết bị thu vệ tinh CCTV9 (UBC Streeming reader access for Thaicomsat)Cái1"
21Thiết bị thu vệ tinh kỹ thuật số UBCCái1"
22Micro Wireless cho Camera  (QLKT)Cái1"
23Máy đọc/ghi băng chuyên dụng Sony (QLKT)Cái1"
24Đèn máy quay phim PVCái1"
25Pin dự phòng cho camera Sony (3c)Cái3"
26Đầu đọc thẻ nhớ  ổ cứng lưu độngCái1"

 

* Lưu ý:

- Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá, tháo dỡ bắt buộc phải lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bến Tre; khi thực hiện việc tháo dỡ phải bảo đảm các yêu cầu về an toàn lao động theo quy định tại Thông tư số 04/2017/TT-BXD ngày 30 tháng 3 năm 2017 của Bộ Xây dựng và có lưới bao để đảm bảo an toàn cho người dân qua lại và các khu vực xung quanh.

          - Tài sản được quản lý tại: Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 1/3 đường Trần Quốc Tuấn, phường 4, thành phố Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 95.366.000đ (Chín mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

* Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc) tại ấp Long Quới, xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (Liên hệ đ/c Hà, Số điện thoại 0987047010).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/01/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 150.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian lập phiếu thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 19.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 15/02/2019 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 - 02753512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

28/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Đảm bảo về quyền được trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế của xã hộiĐảm bảo về quyền được trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế của xã hội

Qua gần 9 năm triển khai pháp luật về Trợ giúp pháp lý (TGPL) tại Bến Tre đã góp phần thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về TGPL cho các đối tượng là người nghèo, đối tượng chính sách, góp phần thực hiện an sinh, bảo đảm công bằng xã hội. Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng của tỉnh, thông qua hoạt động TGPL đã bảo đảm được nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ tố tụng, góp phần cải cách tư pháp, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, tạo niềm tin trong nhân dân và ổn định tình hình chính trị.

Trong năm 2015, cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh và huyện, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ của ngành Công an đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để đối tượng TGPL được hưởng quyền TGPL. Cơ quan điều tra hai cấp đã cấp 100 giấy chứng nhận tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật; không có trường hợp phải thu hồi, chưa phát hiện trường hợp nào bỏ sót đối tượng thuộc diện TGPL. Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và các huyện, thành phố đã cấp cho 105 đối tượng, Tòa án 02 cấp có 201 trường hợp số vụ việc án có sự tham gia TGPL. Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh đã cử Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên tham gia trong lĩnh vực tố tụng là 158 vụ việc TGPL cho đối tượng. Tuy nhiên, hoạt động phối hợp TGPL cũng còn nhiều khó khăn, một số đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, người có hoàn cảnh khó khăn chưa được tiếp cận với hoạt động TGPL, chưa biết được quyền được TGPL, nhất là quyền được bảo vệ ở hình thức tố tụng; tại một vài huyện còn trường hợp chưa thật sự quan tâm đến công tác truyền thông về quyền được TGPL cho các đối tượng, cho nên còn có trường hợp đối tượng không hiểu nên đã từ chối quyền được TGPL.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án đổi mới về công tác TGPL giai đoạn 2015-2025, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL tỉnh cũng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động TGPL trong năm 2016 sẽ tập trung thực hiện vụ việc tham gia tố tụng; đặc biệt là vụ việc tố tụng hình sự, hôn nhân và gia đình, các vụ việc ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở và tư vấn pháp luật tiền tố tụng,  góp phần nâng cao chất lượng hoạt động TGPL nhằm đảm bảo quyền được TGPL cho các đối tượng yếu thế của xã hội.

tgpl-xuan2.gif

Quyền được TGPL là quyền cơ bản trong hệ thống quyền con người nói chung, là một quyền cụ thể của quyền tiếp cận công lý nói riêng, đây là quyền Hiến định. Thể chế hóa quyền được TGPL, Đảng và nhà nước ta đã ban hành chính sách về TGPL, thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với những người yếu thế, góp phần xóa đói giảm nghèo về pháp luật, bảo vệ quyền bình đẳng về pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân. Người yếu thế hay nói cách khác đó là đối tượng trong chế định về người được hưởng quyền về TGPL. Đảm bảo quyền đó, thời gian qua TGPL trong lĩnh vực tố tụng, tại Bến Tre có thuận lợi là đã ban hành Kế hoạch nhằm không bỏ lọt đối tượng TGPL khi họ có yêu cầu. Tuy nhiên vấn đề vẫn còn đối tượng TGPL vẫn chưa tiếp cận được thông tin, chưa biết được quyền TGPL của mình, thực tế là vẫn còn. Đó là vấn đề mà các cơ quan quản lý, cơ quan liên quan trong lĩnh vực TGPL quan tâm, khắc phục ngay từ năm mới.

Tại Thông tư liên tịch số 11/2013 có quy định "khi tiến hành hoạt động tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và các đương sự biết về quyền và nghĩa vụ của họ theo pháp luật tố tụng; quyền được TGPL và hướng dẫn họ tiếp cận các thông tin về TGPL", và việc giải thích này phải được ghi trong biên bản tố tụng để lưu trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên các văn bản luật tố tụng lại không quy định việc giải thích quyền được TGPL là bắt buộc, vì vậy việc không giải thích quyền được TGPL cũng không thể xem là vi phạm thủ tục tố tụng. Đối với đối tượng TGPL là bị hại, người có quyền, lợi ích liên quan thì việc biết về các thông tin về quyền được TGPL lại càng khó khăn hơn. Ngoài ra còn trường hợp bị can, bị hại là đối tượng TGPL từ chối được TGPL (tham gia bào chữa, bảo vệ). Việc từ chối này đều được lập thành biên bản giữa bị can (bị hại) với Điều tra viên. Tuy nhiên, trong thực tế sau đó vẫn có những trường hợp bị hại, bị can hoặc người nhà bị can (trường hợp bị can đang bị tạm giam), thông qua các kênh truyền thông khác đã biết tìm đến với Trung tâm TGPL (hoặc Chi nhánh của Trung tâm) để yêu cầu được TGPL cho đối tượng. Nguyên nhân là khi tiếp xúc với đối tượng TGPL, những người tiến hành tố tụng chỉ hỏi đối tượng một cách chung chung"có cần luật sư không?". Vì không biết được quyền của mình, vì sợ tốn kém chi phí cho dịch vụ luật sư, nên nhiều đối tượng TGPL trả lời là không có yêu cầu. Như vậy ở đây, còn có trường hợp người tiến hành tố tụng giải thích, hướng dẫn đối tượng không rõ, còn chung chung. Mặt khác cũng do vị thế của Trợ giúp viên pháp lý trong văn bản pháp luật về tố tụng chưa được ghi nhận, nên chưa để lại được dấu ấn và sự lựa chọn trong đời sống pháp lý của người dân.

tgpl-xuan1.gif

Về mặt quy định của pháp luật trong việc đảm bảo quyền TGPL thì việc đầy đủ về thể chế, được luật định cụ thể sẽ tạo thuận lợi lớn trong thời gian tới, không chỉ thuận lợi cho đối tượng TGPL mà cả các cơ quan tố tụng. Tín hiệu vui là trong các ngày 25 và 27/11/2015 vừa qua, Quốc hội đã thông qua các Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS), Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015. Theo nội dung các Bộ luật, luật nêu trên thì quyền được TGPL miễn phí trong tố tụng đã được bảo đảm. Đặc biệt, Bộ luật TTHS đã ghi nhận Trợ giúp viên là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự  (Điều 72, Điều 83 và Điều 84 của Bộ luật TTHS). Bộ luật TTHS cũng chia sẻ trách nhiệm thực hiện bào chữa theo án chỉ định cho Trung tâm TGPL nhà nước. Theo đó tại Điều 72 của Bộ luật thì đối với người thuộc diện được TGPL là: Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên thì Trung tâm TGPL phải cử người bào chữa cho họ theo chỉ định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS quy định trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền được TGPL: trong trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho họ quyền được TGPL; nếu họ đề nghị được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước. Việc thông báo, giải thích phải được ghi vào biên bản (Điều 71 của Bộ luật TTHS). Ngoài ra, trường hợp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì đã được Bộ luật TTHS quy định rõ, chính là điểm mới quan trọng khắc phục khó khăn thời gian qua, như chúng ta đã đề cập. Điều 77 Bộ luật TTHS quy định: Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận việc từ chối - nhằm bảo đảm tính minh bạch, khách quan khi người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thể hiện nguyện vọng đồng ý hoặc từ chối người bào chữa.

Lần đầu, tại Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 9 và Điều 48), Luật tố tụng hành chính (Điều 19 và Điều 38), Luật thi hành tạm giữ, tạm giam cũng (Điều 8 và Điều 9) đều đã quy định nguyên tắc bảo đảm quyền được TGPL, nghiêm cấm cản trở quyền được TGPL, giải thích hướng dẫn cho người bị tạm giữ, tạm giam, các đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu TGPL bên cạnh việc tiếp tục khẳng định Trợ giúp viên pháp lý và người tham gia TGPL làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Qua các Điều luật bảo đảm quyền được TGPL tại các văn bản pháp luật về tố tụng và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 đã khẳng định vị trí, vai trò của công tác TGPL trong đời sống xã hội, là một công cụ quan trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Phù hợp với định hướng đổi mới công tác TGPL lấy nhiệm vụ thực hiện TGPL trong lĩnh vực tố tụng là trọng tâm, là khâu đột phá. Với việc giải thích quyền được TGPL, thông báo, chỉ định thực hiện TGPL sẽ khắc phục tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL của người thuộc diện được TGPL như thời gian qua, nhất là với người sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí pháp lý hạn chế chưa thể nhận biết, tiếp cận với thông tin, hoạt động TGPL. Thật sự đây là tín hiệu vui đầu năm trong hoạt động TGPL tại tỉnh nhà.

05/01/2016 9:00 SAĐã ban hành
Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi trong nướcHệ quả pháp lý của nuôi con nuôi trong nước
p&#160;/p
p class="MsoNormal" style="text-align&#58; justify;"span style="font-size&#58; small;" “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Đây là nội dung của khoản 1, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi về hệ quả của nuôi con nuôi trong nước. Như vậy, Luật Nuôi con nuôi đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi, đồng thời xác định rõ một số quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi sẽ chấm dứt nhằm tránh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa hai gia đình cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi./span/p

“Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Đây là nội dung của khoản 1, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi về hệ quả của nuôi con nuôi trong nước. Như vậy, Luật Nuôi con nuôi đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi, đồng thời xác định rõ một số quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi sẽ chấm dứt nhằm tránh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa hai gia đình cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi.

Thứ nhất: Về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Chương IV của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Cha mẹ nuôi có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục, yêu thương, đại diện cho con nuôi trước pháp luật, quản lý tài sản của con nuôi, bồi thường thiệt hại cho con nuôi chưa thành niên gây ra. Về phía con nuôi có trách nhiệm yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ nuôi, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ nuôi, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ nuôi.

Ngoài ra, con nuôi còn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em trong gia đình cha mẹ nuôi theo các quy định tại Chương V của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các quy định pháp luật khác có liên quan. Theo đó, ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu; Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.

Về quan hệ giữa anh chị em thì anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Mặt khác, nhằm bảo đảm sự hòa nhập một cách thực sự và toàn diện của con nuôi với gia đình cha mẹ nuôi, Luật Nuôi con nuôi quy định con nuôi được thay đổi họ theo họ của cha mẹ nuôi.

Thứ hai: Về quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con thì theo quy định tại khoản 4, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi là kể từ thời điểm giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng (nếu có) của con đã cho làm con nuôi, nếu cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác. Thỏa thuận khác ở đây là cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi được thỏa thuận về việc cha mẹ đẻ sẽ giữ lại một số quyền, nghĩa vụ đối với con đã cho làm con nuôi và cách thức thực hiện các quyền này. Việc thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi phải được thể hiện bằng văn bản và được cán bộ Tư pháp - Hộ tịch xác định rõ khi lấy ý kiến của những người có liên quan về việc nuôi con nuôi. Việc thỏa thận này được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật, để tránh những tranh chấp có thể xảy ra giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi.

 

05/03/2012 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE  (Tính đến tháng 3 năm 2019)DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE  (Tính đến tháng 3 năm 2019)

DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

Tính đến tháng 7 năm 2019


STTHọ và tên Nơi hành nghềChứng chỉ hành nghề

Điện Thoại

 

Ghi chú
01

Dương Thị Nhanh

 

Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

224/TP-ĐGV

02/11/2006

02753.823.667 
02Nguyễn Thị Như NgọcTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre397/TP/ĐG-CCHN02753.823.667 
03Nguyễn Thị Bích ThủyTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

1732/TP/ĐG-CCHN

20/3/2017

02753.823.667 
04Đào Minh ChíTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre826/TP/ĐG-CCHN02753.823.667 


26/07/2019 3:00 CHĐã ban hành
Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?

Vợ chồng chung sống với nhau là tình nghĩa, là trách nhiệm, là cùng nhau vun đấp, xây dựng cho tổ ấm hạnh phúc của mình. Vợ chồng cùng nhau chăm lo cho gia đình và tạo ra của cải, vật chất để phục vụ đời sống gia đình và ai cũng mong ước gia đình mình luôn được vui vẽ, hạnh phúc, kinh tế được vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm đẹp, mọi việc luôn thuận lợi, khi bước vào đời sống hôn nhân, ai cũng mong muốn hạnh phúc nhưng không phải ai cũng đạt được và có những trường hợp vì lý do nào đó vợ chồng dẫn đến việc chia tay, có người chia tay trong êm đẹp, nhưng cũng có người chia tay trong mâu thuẫn, tranh cãi và tranh giành một cách gay  gắt, hầu hết những trường hợp chia tay mang tính "ầm ĩ" ấy là có liên quan về tài sản.

Có trường hợp, tại thời điểm ly hôn có tranh chấp với nhau về tài sản, nhưng cũng có trường hợp khi ly hôn, chỉ yêu cầu giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết về tài sản mặc dù có tài sản chung. Đối với trường hợp này, một số cặp vợ chồng vì muốn ly hôn nhanh nên muốn giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết tài sản để tránh tình trạng kéo dài, một số cặp vợ chồng vì lý do thỏa thuận được vấn đề về tài sản nên không yêu cầu giải quyết nhưng sau khi đã ly hôn thì phần lớn các cặp vợ chồng lại không thỏa thuận được, hoặc một bên không thực hiện những thỏa thuận ban đầu về việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng ly hôn, trước đây thỏa thuận được về việc phân chia tài sản là đất đai, nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi đã ly hôn thì không thỏa thuận được và tài sản trên vẫn là tài sản chung do chồng hoặc vợ đứng tên. Một số người không hiểu quy định pháp luật nên cho rằng khi ly hôn không yêu cầu chia thì ly hôn xong rồi không có quyền yêu cầu giải quyết; hoặc một bên vợ hoặc chồng đứng tên thì tài sản thuộc về người đó, không thể chia được là một ví dụ.

Theo quy định tại hhoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn thuộc một trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, khi có tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn, các bên vợ hoặc chồng đều có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân năm 2014 và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Song song đó, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều như: Điều 60 quy định về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn; Điều 61 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình; Điều 62 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn; Điều 63 quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn và Điều 64 quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 như đã nêu trên của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối với vấn đề chia tài sản là quyền sử dụng đất thì Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.

Từ những quy định pháp luật đã nên trên, thì việc chia tài sản khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều có thể thực hiện được, vì tùy từng thời điểm phát sinh tranh chấp mà vợ, chồng hoặc các bên vợ hoặc chồng có yêu cầu giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, và sẽ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và các luật khác có liên quan. Do đó, việc cho rằng tài sản do ai đứng tên sẽ thuộc về người đó và sau khi đã ly hôn, nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng thì sẽ không được giải quyết, đó hoàn toàn là những quan điểm chưa đúng, người dân cần suy nghĩ kỹ trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng đặc biệt là đối với hôn nhân, đồng thời cũng cần tìm hiểu thêm những quy định pháp luật để làm đúng, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh tình trạng hiểu sai lệch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bản thân.

30/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Việc thực hiện quy định về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:

- Xây dựng nội dung chính sách

          - Đánh giá tác động của chính sách

          - Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết.

          - Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân.

Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.

Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị (thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị)

Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực HĐND chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên  cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.

Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng gép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định "đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên". Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị sửa đổi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hướng dẫn cụ thể, làm cơ sở để địa phương áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

b) Về ban hành văn bản bãi bỏ

Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:

Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp.

Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.

Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện VBQPPL thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.

Từ những lý do trên, kiến nghị cơ quan Trung ương xem xét điều chỉnh lại nội dung này theo hướng văn bản chỉ có nội dung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy trình rút gọn tại Điều 146 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đồng thời điều chỉnh lại mức chi kinh phí cho phù hợp với loại văn bản này).

c) Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật)

Khoản 4 Điều 14 Luật quy định cấm quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật."

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau:

Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 14 Luật theo hướng mở rộng thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

d) Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện và cấp xã.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật thì Hội đồng cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp được luật giao.

Tuy nhiên, thực tiễn văn bản Luật hầu như không giao thẩm quyền một cách rõ ràng cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Mặt khác, trong một số trường hợp văn bản dưới Luật giao hoặc cấp huyện và cấp xã (nhất là cấp huyện) phát sinh vấn đề cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương; trong trường hợp này nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lại trái với quy định tại Điều 30 Luật, không ban hành thì cấp huyện và cấp xã gặp khó khăn trong thực hiện chức năng quản lý của mình.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị sửa đổi Điều 30 Luật theo hướng cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã, ngoài trường hợp được Luật giao còn được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp văn bản dưới luật giao. (Còn tiếp kỳ sau)

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Quy định về việc tặng quà và nhận quà tặngQuy định về việc tặng quà và nhận quà tặng

          Ngày 01 tháng 7 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng, bao gồm 11 Chương và 89 điều.

Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng; Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức này thực hiện các quy định tại Chương VII của Nghị định. Trong đó các nội dung về việc tặng quà, nhận quà, báo cáo nộp lại quà tặng, xử lý quà tặng, xử lý vi phạm quy định về tặng quà và nhận quà tặng được quy định trong Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được xem là nổi bật với nội dung cụ thể như sau:

          Thứ nhất, quy định về việc tặng quà

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn chỉ được sử dụng tài chính công, tài sản công để làm quà tặng vì mục đích từ thiện, đối ngoại và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật; Việc tặng quà phải thực hiện đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định của pháp luật; cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị mình theo đúng quy định của pháp luật.

          Thứ hai, quy định về việc nhận quà tặng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp không từ chối được thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định về xử lý quà tặng.

Thứ ba, quy định về báo cáo, nộp lại quà tặng

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải giao lại quà tặng cho bộ phận chịu trách nhiệm quản lý quà tặng của cơ quan, đơn vị đó để xử lý theo quy định về xử lý quà tặng.

           Người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và nộp lại quà tặng để xử lý quy định về xử lý quà tặng trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng. Nghị định quy định cụ thể báo cáo được thể hiện bằng văn bản và có đầy đủ các nội dung: Họ, tên, chức vụ, cơ quan, địa chỉ của người tặng quà; loại và giá trị của quà tặng; thời gian, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể khi nhận quà tặng; mối quan hệ với người tặng quà.

          Thứ tư, quy định về xử lý quà tặng

Đối với quà tặng bằng tiền, giấy tờ có giá thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp nhận, bảo quản và làm thủ tục nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Đối với quà tặng bằng hiện vật, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, bảo quản và xử lý bằng cách xác định giá trị của quà tặng trên cơ sở giá của quà tặng do cơ quan, đơn vị, cá nhân tặng quà cung cấp (nếu có) hoặc giá trị của quà tặng tương tự được bán trên thị trường. Trong trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì có thể đề nghị cơ quan có chức năng xác định giá; Quyết định bán quà tặng và tổ chức công khai bán quà tặng theo quy định của pháp luật; Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu được sau khi trừ đi chi phí liên quan đến việc xử lý quà tặng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán quà tặng.

Đối với quà tặng là dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục - đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước hoặc ngoài nước, dịch vụ khác thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ về việc không sử dụng dịch vụ đó.

Đối với quà tặng là động vật, thực vật, thực phẩm tươi, sống và hiện vật khác khó bảo quản thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể và quy định của pháp luật về xử lý tang vật trong các vụ việc vi phạm hành chính để quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xử lý quà tặng, cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý quà tặng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người tặng quà hoặc Cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tặng quà để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Thứ năm, quy định về xử lý vi phạm quy định về tặng quà và nhận quà tặng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng cho Nhà nước. Cá nhân sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng thẩm quyền, không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nhà nước.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm quy định về nhận quà tặng, xử lý quà tặng, người có chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định về nhận quà tặng, báo cáo, nộp lại quà tặng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nhà nước.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2019.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Quy định về nhân viên khuyến nông xã trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy định về nhân viên khuyến nông xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Ngày  13  tháng 4 năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 14/2018/QĐ-UBND về việc quy định về nhân viên khuyến nông xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quyết định này quy định về số lượng, tiêu chuẩn, cách thức tuyển chọn, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ, chính sách đối với nhân viên khuyến nông xã, thị trấn (sau đây gọi tắt là nhân viên khuyến nông xã) có sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Số lượng, tiêu chuẩn, cách thức tuyển chọn nhân viên khuyến nông xã:

Nhân viên khuyến nông xã là lao động hợp đồng trực tiếp làm việc ở xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Mỗi xã, thị trấn có sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được bố trí 01 nhân viên khuyến nông xã.

Tiêu chuẩn tuyển chọn nhân viên khuyến nông xã: Là công dân Việt Nam;  có trình độ học vấn tốt nghiệp cấp 2 trở lên, ưu tiên những người có trình độ chuyên môn về nông nghiệp; hiểu biết và có kinh nghiệm về nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có khả năng tiếp thu, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; có khả năng truyền đạt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (đặc biệt là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp) cho nông dân; có uy tín với nhân dân tại địa phương; có tinh thần gương mẫu trong việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; thực hiện tốt các chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; có sức khỏe tốt, tự nguyện tham gia và phục vụ lâu dài tại địa phương.

Cách thức tuyển chọn nhân viên khuyến nông xã: Trạm Khuyến nông huyện, thành phố (sau đây gọi tắt là Trạm Khuyến nông cấp huyện) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã) đề xuất nhân viên khuyến nông xã đủ tiêu chuẩn đến Trung tâm Khuyến nông tỉnh;  Trung tâm Khuyến nông tỉnh xét tuyển và thông báo kết quả đến Trạm Khuyến nông cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thời hạn hợp đồng thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động.

Nhiệm vụ của nhân viên khuyến nông xã:

Hướng dẫn, cung cấp thông tin đến người sản xuất, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn, tiến bộ khoa học và công nghệ, thông tin thị trường, giá cả, phổ biến điển hình trong sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;

 Bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo truyền nghề cho người sản xuất để nâng cao kiến thức, kỹ năng sản xuất, quản lý kinh tế; tổ chức tham quan, khảo sát, học tập cho người sản xuất;

Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với địa phương, nhu cầu của người sản xuất và chuyển giao kết quả từ mô hình trình diễn ra diện rộng;

Tiếp thu và phản ánh lên cấp có thẩm quyền nguyện vọng của nông dân về khoa học công nghệ, cơ chế chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn;

Tư vấn và dịch vụ trong các lĩnh vực: Tư vấn, hỗ trợ chính sách, pháp luật về thị trường, khoa học công nghệ, áp dụng kinh nghiệm tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh, phát triển nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn; Tư vấn phát triển, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông, lâm sản, thủy sản và nghề muối; Tư vấn, hỗ trợ cải tiến, hợp lý hoá sản xuất, hạ giá thành sản phẩm của tổ chức kinh tế tập thể và tư nhân trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trên địa bàn cấp xã; Dịch vụ trong các lĩnh vực pháp luật, tập huấn, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại, thị trường giá cả, xây dựng dự án, cung cấp kỹ thuật, thiết bị và các hoạt động khác có liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn theo quy định của pháp luật.

Thực hiện các nhiệm vụ khác do Trạm Khuyến nông cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã giao.

 Quyền hạn của nhân viên khuyến nông xã:

Được tham dự các Hội nghị của xã bàn về sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và phát triển nông thôn;

Được thông tin ý kiến của Trạm Khuyến nông cấp huyện với chính quyền xã trong công tác khuyến nông và cùng chính quyền bàn biện pháp tổ chức thực hiện;

Được tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã việc tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và cùng chính quyền địa phương tổ chức thực hiện kế hoạch có hiệu quả;

 Được báo cáo và đề xuất với Trạm Khuyến nông cấp huyện những biện pháp nhằm giúp xã thực hiện kế hoạch sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, khắc phục thiên tai và các nội dung khác có liên quan.

Quản lý và sử dụng nhân viên khuyến nông xã:

Trạm Khuyến nông cấp huyện chịu trách nhiệm trực tiếp hướng dẫn, quản lý về chuyên môn nghiệp vụ và thực hiện chế độ chính sách theo quy định đối với nhân viên khuyến nông xã.

Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm quản lý, đánh giá chất lượng, hiệu quả và thời gian làm việc của nhân viên khuyến nông xã theo quy định.

Điều kiện làm việc đối với nhân viên khuyến nông xã:

Nhân viên khuyến nông xã được chính quyền địa phương nơi công tác tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ khuyến nông trên địa bàn.

Được cung cấp tài liệu kỹ thuật khuyến nông phục vụ cho công tác tuyên truyền phổ biến khoa học kỹ thuật.

Được tham gia các khoá đào tạo, tham quan, hội thảo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ do Trung tâm Khuyến nông tỉnh, Trạm Khuyến nông cấp huyện tổ chức.

Được ưu tiên tham gia các chương trình, mô hình khuyến nông triển khai trên địa bàn xã.

Chế độ thù lao và nguồn kinh phí thực hiện:

Nhân viên khuyến nông xã được hưởng chế độ thù lao bằng 1.0 lần mức lương cơ sở/người/tháng.

Nguồn kinh phí thù lao cho nhân viên khuyến nông xã chi từ nguồn ngân sách tỉnh được tổng hợp vào dự toán sự nghiệp nông nghiệp hàng năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2018.

25/05/2018 9:00 SAĐã ban hành
Một số điểm hạn chế, bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hànhMột số điểm hạn chế, bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình đã được ban hành từ năm 1959 và chỉ được áp dụng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sau ngày hòa bình lập lại đã được Quốc hội điều chỉnh lại và thay thế từ năm 1986. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã góp phần rất lớn trong việc xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, kinh tế ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp; vì vậy ngày 9 tháng 6 năm 2000, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Luật có 13 chương 110 điều và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2001. Qua 12 năm thực hiện, Luật Hôn nhân và gia đình đã chứng tỏ được nhiều ưu điểm tích cực, góp phần phát huy vai trò trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật vẫn còn một số hạn chế bất cập, không phù hợp với thực tiễn như sau:

1. Vấn đề áp dụng tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội: “Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 Luật đã khẳng định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật  thì được tôn trọng và phát huy”. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng phong tục, tập quán để giải quyết vẫn còn nhiều kẻ hở, hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập trong việc áp dụng phong tục tập quán trong quá trình xét xử giữa các Tòa án với nhau; chưa có quy định thống nhất về quan điểm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng phong tục, tập quán

2. Quy định về điều kiện kết hôn (điều kiện về tuổi kết hôn, về sự tự nguyện trong kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn)

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn đối với nam từ hai mươi tuổi trở lên, đối với nữ từ mười tám tuổi trở lên. Như vậy, theo quy định này thì chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi 18 là đủ tuổi kết hôn. Việc quy định độ tuổi kết hôn trong Luật là chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên. Người từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn không những tạo ra sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật mà còn hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch, hạn chế quyền yêu cầu ly hôn (phải có người đại diện).

3. Quy định về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng, quyền của các bên trong giao dịch có đối tượng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

- Luật Hôn nhân và gia đình quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng. Sự không minh bạch này gây hậu quả không an toàn cho các giao dịch dân sự liên quan đến người thứ ba. Luật chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

- Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Quy định này chưa đảm bảo về quyền lợi của người thứ ba. Trên thực tế phát sinh nhiều giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện, không phải thực hiện nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình nhưng lợi ích thu được cũng phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình như: tiền thu được từ chơi hụi (họ) được dùng để mua nhà, đất cho gia đình.

4. Quy định về quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình

- Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì ông bà, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng. Con cháu có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Mặc dù các chế định này được quy định trong nhiều văn bản khác nhau nhưng trong thực tế không ít trường hợp ông bà, cha mẹ ngược đãi con cháu và ngược lại nhưng lại không có chế tài đủ mạnh để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong vấn đề này. Do đó, đề nghị nên có quy định xử phạt mang tính nghiêm khắc hơn để điều chỉnh vấn đề này.

- Luật Hôn nhân và gia đình chưa phân định rõ đâu là quyền đâu là nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình. Việc quy định như trong Luật là chưa chặt chẽ, khó có thể xác định nghĩa vụ bắt buộc cần phải thực hiện.

5. Quy định về căn cứ xác lập quan hệ cha mẹ con (dựa trên sự kiện sinh và nhận nuôi con nuôi), vấn đề mang thai hộ

- Khi người phụ nữ yêu cầu xác định cha cho con; về nguyên tắc họ phải chứng minh một người đàn ông nào đó là cha của đứa bé, họ có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, nếu cần thiết có thể yêu cầu giám định gen và họ phải chịu chi phí giám định gen. Quy định này chưa thật sự phù hợp, chưa đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới. Bởi khi sinh con ngoài giá thú, người phụ nữ đã chịu rất nhiều sự thiệt thòi từ khi mang thai, sinh con và nuôi con một mình, bên cạnh đó là sự trốn tránh trách nhiệm của người cha đứa trẻ. Việc họ yêu cầu xác định cha cho con là một quyền chính đáng. Nếu họ không xuất trình được đầy đủ chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con và phải yêu cầu giám định gen, trong trường hợp này nếu người đàn ông nào đó được xác định là cha của đứa trẻ thì người đó phải trả chi phí giám định hoặc ít nhất thì là một phần chi phí giám định vì đó là trách nhiệm chung của hai người với tư cách là cha, là mẹ của đứa trẻ.

- Trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản là nhận tinh trùng của người khác để người vợ sinh con thì sau này người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Quy định này cần được quy định cụ thể trong Luật hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đảm bảo quyền lợi của người vợ và con.

- Vấn đề mang thai hộ: Pháp luật nước ta chưa công nhận việc mang thai hộ. Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề mang thai hộ đã diễn ra. Xét về mặt pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Chưa có quy định nào điều chỉnh vấn đề này.

6. Quy định về ly hôn (căn cứ ly hôn, đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn)

- Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tình trạng ly hôn xảy ra ngày càng nhiều gây ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội. Đồng thời, việc hòa giải ở cơ sở cũng góp phần hạn chế tình trạng ly hôn. Do đó, thủ tục hòa giải ở cơ sở nên là thủ tục bắt buộc khi ly hôn.

7. Quy định về hôn nhân có yếu tố nước ngoài (đặc biệt quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài)

- Để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ cần có quy định về cơ chế bảo vệ các cô dâu Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, quy định thêm vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội, vai trò của gia đình, quy định về trang bị kiến thức cơ bản cho các cô gái kết hôn với người nước ngoài.

Mặt khác, hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân diễn ra dưới nhiều hình thức trá hình tinh vi. Nhiều trường hợp môi giới kết hôn đã hạ thấp phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng thuần phong, mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Phần lớn những người phụ nữ Việt Nam trước khi ra nước ngoài sống cùng chồng đều chưa được tư vấn đầy đủ, thiếu những hiểu biết cần thiết về pháp luật, ngôn ngữ, phong tục tập quán của nước sở tại. Do đó, cần có những chế tài mạnh để xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân.

- Vấn đề công nhận việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài trong thời gian qua khá nhiều, đặc biệt là các trường hợp kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc. Thực tế trong quá trình giải quyết hồ sơ, qua phỏng vấn hai bên nam nữ yêu cầu công nhận việc kết hôn không giao tiếp được với nhau bằng một ngôn ngữ chung, không biết gì về hoàn cảnh của nhau, thậm chí mới gặp gỡ một lần... Qua đó cho thấy việc kết hôn còn gượng ép, chưa nhằm mục đích xây dựng gia đình nhưng không có cơ sở từ chối do chưa có căn cứ pháp lý để từ chối không ghi chú kết hôn.

- Về thủ tục đăng ký kết hôn: Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (được sửa đổi tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 69/2006/NĐ-CP) thì đối với người kết hôn là công dân Việt Nam đang định cư tại nước ngoài thì giấy tờ chứng minh còn độc thân là xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền mà người xin kết hôn đang cư trú cấp. Như vậy, trong trường hợp trước khi xuất cảnh họ đã đủ tuổi kết hôn, thì pháp luật hiện hành không có quy định người đăng ký kết hôn cần phải có xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh. Do đó, thực tế đã có trường hợp họ đã kết hôn trước khi xuất cảnh, hay có hôn nhân thực tế, sau đó quay về tuyên thệ là chưa kết hôn để tiếp tục kết hôn. Do đó, cần phải có quy định đối với trường hợp kết hôn là công dân Việt Nam đang định cư tại nước ngoài trước khi xuất cảnh đã đủ tuổi kết hôn thì phải có xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ có hộ khẩu thường trú. Trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3 tháng 01 năm 1987 ở Việt Nam thì phải có giấy tờ chứng minh đã chấm dứt quan hệ hôn nhân đó bằng bản án hay quyết định ly hôn đã có có hiệu lực pháp luật (nếu đã ly hôn) hoặc Giấy chứng tử (nếu vợ hoặc chồng của họ đã chết).

Từ những bất cập trong việc thực hiện Luật như trên, Luật Hôn nhân và gia đình cần sớm được tiến hành sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế chưa phù hợp, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển gia đình Việt Nam sau này./.

03/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/3/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/3/2019

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 31 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri quản lý đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, đấu giá nộp ngân sách, cụ thể như sau:

 

Số

TT

Số thửaSố tờ bản đồ
Tổng diện tích
(m2)
Diện tích lộ giới
(m2)
Diện tích
đấu giá
(m2)
Loại đất đấu giáGiá khởi điểm (đồng)

 

Lệ phí tham gia đấu giá (đồng)

 

Tiền đặt trước (đồng)

1. Xã Mỹ Thạnh1.136,998,51.038,4 880.140.000  
150512345,698,5247,1ONT247.100.000200.00049.000.000
222813261,1 261,1ONT208.880.000200.00041.000.000
372213263,4 263,4ONT210.720.000200.00042.000.000
472313266,8 266,8ONT213.440.000200.00042.000.000
2/ Xã Mỹ Nhơn589,5171,3418,2 250.920.000  
1262297,285,7211,5ONT126.900.000100.00025.000.000
27262292,385,6206,7ONT124.020.000100.00024.000.000
3/ Xã An Đức1.351,9400,5951,4 1.141.680.000  
12624108,629,878,8ONT94.560.000100.00018.000.000
2272410730,176,9ONT92.280.000100.00018.000.000
32824105,730,575,2ONT90.240.000100.00018.000.000
42924104,430,973,5ONT88.200.000100.00017.000.000
53024189,166,7122,4ONT146.880.000100.00029.000.000
63124102,230,871,4ONT85.680.000100.00017.000.000
73224105,230,974,3ONT89.160.000100.00017.000.000
83324108,231,177,1ONT92.520.000100.00018.000.000
93424111,231,379,9ONT95.880.000100.00019.000.000
103524114,231,582,7ONT99.240.000100.00019.000.000
113624196,156,9139,2ONT167.040.000100.00033.000.000
4/ Xã An Ngãi Trung1.722,6186,51.536,1 2.728.810.000  
124122781,3106,4674,9ONT472.430.000200.00094.000.000
284418466,314,9451,4ONT1.805.600.000500.000360.000.000
38451847565,2409,8ONT450.780.000200.00090.000.000
5/ Xã An Phú Trung420,0 420,0 684.000.000  
15191060 60,0ONT90.000.000100.00018.000.000
25201060 60,0ONT90.000.000100.00018.000.000
35211060 60,0ONT90.000.000100.00018.000.000
45221060 60,0ONT90,000,000100.00018.000.000
55271060 60,0ONT102.000.000100.00020.000.000
65181060 60,0ONT102.000.000100.00020.000.000
75171060 60,0ONT120.000.000100.00024.000.000
6/ Tân Thủy668,0 668,0ONT3.592.400.000  
1372975 75,0ONT450.000.000200.00090.000.000
2382975 75,0ONT495.000.000200.00099.000.000
3392970 70,0ONT287.000.000200.00057.000.000
4402970 70,0ONT287.000.000200.00057.000.000
5412970 70,0ONT287.000.000200.00057.000.000
6442970 70,0ONT406.000.000200.00081.000.000
7452970 70,0ONT406.000.000200.00081.000.000
8472984 84,0ONT487.200.000200.00097.000.000
9482984 84,0ONT487.200.000200.00097.000.000
7/ Vĩnh An460,0109,6350,4          588.672.000   
12523460109,6350,4ONT         588.672.000

 

500.000

 

117.000.000

Tổng cộng (37 thửa)6.348,9966,45.382,50 9.866.622.000  

 

- Tài sản tọa lạc tại: Xã Mỹ Thạnh, Mỹ Nhơn, An Đức, An Ngãi Trung, An Phú Trung, Tân Thủy và Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri quản lý, không có nhu cầu sử dụng đấu giá nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá 9.866.622.000đ (Chín tỷ, tám trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá từng thửa (như bảng kê phía trên), nộp tiền mặt hoặc chuyển vào số tài khoản số 72910000091403 của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.  Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

            * Khoản tiền đặt trước đối với từng thửa (như bảng kê phía trên), nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Xã Mỹ Thạnh, Mỹ Nhơn, An Đức, An Ngãi Trung, An Phú Trung, Tân Thủy và Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 8 giờ ngày 16/4/2019 tại: Hội trường Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Ba Tri.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 34 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lý Văn Bí, hiện cư ngụ tại: ấp Thanh Đông, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 907,90 m2;

- Loại đất: CLN (trồng cây lâu năm);

- Thuộc tờ bản đồ 08, thửa đất số 250.

2. Cây trồng các loại trên đất: 

- Dừa Loại 3 (2 năm): 03 cây

- Quít loại 2 (2 năm): 02 cây

- Cam mới trồng (dưới 1 năm): 07 cây

* Tài sản toạ lạc tại: ấp Thanh Đông, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Lý Văn Bí, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 88.259.169đ (Tám mươi tám triệu, hai trăm năm mươi chín ngàn, một trăm sáu mươi chín đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ ngày 16/4/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 - Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

 - Khoản tiền đặt trước: 17.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ đấu giá số 72910000091403 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 35 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, địa chỉ tại: ấp 4 xã Bình Thắng và khu phố 1, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

Về đất:

- Diện tích: 584,9 m2 (trong đó có 96,5m2 đất trong hành lang lộ giới);

- Mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m). Nhà 02 tầng, móng cột bê tông, cốt thép, tường xây gạch 100mm hoàn thiện sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm (chất lượng còn lại 40%).

- Nhà trệt (phía sau nhà chính): Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m), cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng xây gạch 100mm, nền lót gạch ceramic, mái lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Nhà sau: Diện tích 39,16m2 (4,4m x 8,9m), cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền tráng xi măng, mai lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía sau: Diện tích 21,9m2 (7,3m x 3m), cột bê tông cốt thép và gỗ tạp, nền tráng xi măng, mái lợp tole xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Mái che bên trong: Diện tích 44,1m2 (4,9m x 9m), mái lợp tole xi măng, nền tráng xi măng, tường xây gạch 100mm (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía trước: Diện tích 48,8m2 (3,5m x 4,2m) + (5,5m x 6,2m), mái lợp tole thiếc, cột bê tông cốt thép, nền tráng xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Cửa rào: Gồm 02 cánh cửa bằng Inox, mỗi cánh dài 190cm, cao 2,5m; 01 khung sắt cao 2,5m, dài 02m (chất lượng còn lại 30%).

* Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.467.483.191đ (Một tỷ, bốn trăm sáu mười bảy triệu, bốn trăm tám mươi ba ngàn, một trăm chín mươi một đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 293.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 16/4/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 36 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, hiện cư ngụ tại: ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1. Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 101,6m2;

- Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng gắn liền với đất

a) Nhà ở: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích: 89,98m2.

- Kết cấu chủ yếu: Nhà kiên cố cấp 4; Móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch men có lớp vữa lót; Tường xây gạch có trát vữa xi măng sơn nước hoàn thiện, phần tường mặt tiền trước nhà được ốp gạch men toàn bộ lên đến mái; Mái lợp tole sóng vuông + xà gồ gỗ; Cửa đi chính là cửa sắt kéo; Nhà không xây trần; Phòng ngủ: nền lót gạch men, cửa đi chính là cửa gỗ; Nhà vệ sinh: nền và tường ốp gạch men toàn bộ, cửa đi là cửa nhựa. Hệ thống điện, nước sinh hoạt được lắp đắt hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: Công trình đã qua sử dụng và có một số dấu hiệu hư hỏng như: sơn tường bị bong tróc nhẹ, tường xuất hiện vết nứt; nền gạch men bị trầy xước; cửa sắt, mái tole bị gỉ sét nhẹ,… Hiện các kết cấu vẫn ổn định và đang dược sử dụng bình thường.

b) Mái che: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích 11,62m2 (4,15m x 2,8m)

- Kết cấu chủ yếu: Cột sắt tròn, kèo và xà gồ bằng gỗ, mái lợp tole tráng kẽm sóng vuông.

- Hiện trạng: Mái tole và cột sắt bị gỉ sét, các kết cấu vận ổn định và sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Thành triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 763.709.712đ (Bảy trăm sáu mươi ba triệu, bảy trăm lẻ chín ngàn, bảy trăm mười hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 152.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Ấp Chợ, Xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/4/2019 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667; website: stp.bentre.gov.vn và thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết./.

 


12/03/2019 10:00 SAĐã ban hành
Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp thực hiện nghiêm quy định về tổ chức lễ tang, không viếng vòng hoaCán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp thực hiện nghiêm quy định về tổ chức lễ tang, không viếng vòng hoa
Thời gian qua, việc tổ chức lễ tang, viếng vòng hoa, rắc vàng mã, đốt đồ mã ngày càng phổ biến; nhất là tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức từ trần (kể cả đang làm việc hoặc nghỉ hưu). Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của từng gia đình, nhưng nhìn chung, phần lớn việc tổ chức lẽ tang đối với những người hoặc gia đình có “chức sắc”, giữ vị thế quan trọng trong xã hội thường được tổ ...

Thời gian qua, việc tổ chức lễ tang, viếng vòng hoa, rắc vàng mã, đốt đồ mã ngày càng phổ biến; nhất là tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức từ trần (kể cả đang làm việc hoặc nghỉ hưu). Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của từng gia đình, nhưng nhìn chung, phần lớn việc tổ chức lẽ tang đối với những người hoặc gia đình có “chức sắc”, giữ vị thế quan trọng trong xã hội thường được tổ chức với quy mô lớn, diễn ra nhiều ngày; trong đó tổ chức viếng vòng hoa, rắc vàng mã, đốt đồ mã không ít; gây tốn kém tiền của, công sức, thời gian cho xã hội.

Ngày 17/12/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 105/2012/NĐ-CP quy định việc tổ chức lễ tang đối với cán bô, công chức, viên chức đang làm việc hoặc nghỉ hưu từ trần.

Nghị định nêu rõ, các đoàn đến viếng không viếng vòng hoa, chỉ mang băng đen, có kích thước 1,2m x 0,2m, ghi vòng chữ trắng “Kính viếng”, dưới có dòng chữ nhỏ ghi tên cơ quan, tổ chức, cá nhân để gắn vào vòng hoa do ban tổ chức tang lễ chuẩn bị.

Ban tổ chức lễ tang sẽ chuẩn bị 2 vòng hoa đặt cố định 2 bên bàn thờ; chuẩn bị 5 vòng hoa luân chuyển. Đồng thời, trong thông báo tin buồn phải ghi: "Các đoàn đến viếng không mang vòng hoa, chỉ mang băng vải đen, kích thước 1,2m x 0,2m".

Việc tổ chức lễ tang đối với người từ trần phải trang trọng, văn minh, kế thừa nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, tiết kiệm, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, gia đình. Hạn chế, từng bước loại bỏ những tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, phô trương, lãng phí.

Trường hợp tổ chức Lễ viếng tại gia đình thì tùy theo phong tục địa phương và gia đình, thi hài người từ trần phải được khâm liệm vào linh cữu và bảo đảm vệ sinh, nhất là đối với người có bệnh lây nhiễm. Linh cữu được để không quá 48 giờ, kể từ khi khâm liệm đến khi tổ chức Lễ an táng.

Không rắc vàng mã, không đốt đồ mã tai nơi an táng và các loại tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành và ngoại tệ trong quá trình đưa tang từ nhà tang lễ hoặc gia đình đến nơi an táng. Khuyến khích tổ chức an táng theo các hình thức hỏa táng, điện táng, an táng tại quê hương.

Để thực hiện nghiêm Nghị định số 105/2012/NĐ-CP của Chính phủ, việc tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp đang làm việc hoặc nghỉ hưu từ trần, không viếng vòng hoa, không rắc vàng mã, không đốt đồ mã tại nơi an táng.

Từ ngày 1/2/2013, các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định trên sẽ bị phê bình hoặc xử phạt vi phạm hành chính. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2013.

14/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khai trương Văn phòng công chứng Thạnh phú Khai trương Văn phòng công chứng Thạnh phú
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.


Văn phòng công chứng Thạnh Phú do Công chứng viên Nguyễn Văn Mộng làm Trưởng Văn phòng, được thành lập theo Quyết định 905/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động số 09/TP- ĐKHĐ ngày 23 tháng 5 năm 2014. Văn phòng công chứng Thạnh Phú có chức năng, thực hiện công chứng các loại hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại; công chứng di chúc, khai nhận di sản thừa kế… theo quy định của Luật Công chứng.

Đây là Văn phòng Công chứng thứ 08 được thành lập, đưa tổng số tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre lên 09 tổ chức; hoàn thành trên 90 %  lộ trình quy hoạch phát triển các văn phòng công chứng của tỉnh giai đoạn 2010-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.


Phát biểu tại buổi lễ khai trương, ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã khẳng định việc thành lập Văn phòng Công chứng trên địa bàn huyện Thạnh Phú là cần thiết, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự của cá nhân, tổ chức, hạn chế, phòng ngừa tranh chấp phát sinh. Đồng thời, yêu cầu Công chứng viên, nhân viên Văn phòng Công chứng Thạnh Phú tích cực nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; có tinh thần, thái độ cởi mở trong hoạt động, phục vụ tốt yêu cầu công chứng trên địa bàn huyện.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 17/5/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 17/5/2019

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 76 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, địa chỉ tại: ấp 4 xã Bình Thắng và khu phố 1, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

Về đất:

- Diện tích: 584,9 m2 (trong đó có 96,5m2 đất trong hành lang lộ giới);

- Mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m). Nhà 02 tầng, móng cột bê tông, cốt thép, tường xây gạch 100mm hoàn thiện sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm (chất lượng còn lại 40%).

- Nhà trệt (phía sau nhà chính): Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m), cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng xây gạch 100mm, nền lót gạch ceramic, mái lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Nhà sau: Diện tích 39,16m2 (4,4m x 8,9m), cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền tráng xi măng, mai lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía sau: Diện tích 21,9m2 (7,3m x 3m), cột bê tông cốt thép và gỗ tạp, nền tráng xi măng, mái lợp tole xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Mái che bên trong: Diện tích 44,1m2 (4,9m x 9m), mái lợp tole xi măng, nền tráng xi măng, tường xây gạch 100mm (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía trước: Diện tích 48,8m2 (3,5m x 4,2m) + (5,5m x 6,2m), mái lợp tole thiếc, cột bê tông cốt thép, nền tráng xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Cửa rào: Gồm 02 cánh cửa bằng Inox, mỗi cánh dài 190cm, cao 2,5m; 01 khung sắt cao 2,5m, dài 02m (chất lượng còn lại 30%).

* Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.423.458.696đ (Một tỷ, bốn trăm hai mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi tám ngàn, sáu trăm chín mươi sáu đồng.

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 284.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/6/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá). 


 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG  77 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Võ Thị Kim Liên và ông Bùi Văn Phương, cư ngụ tại: ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (hiện ông Long và bà Cúc đã chết); tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 990,9m2;

- Mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14.

2. Vật kiến trúc đã qua sử dụng:

- Chuồng heo 1: diện tích 29,6m2. Kết cấu: Trụ pê tông cốt thép đúc sẵn, nền xây bó láng xi măng; tường xây gạch D100mm cao 0,74m trát vữa xi măng mặt trong.

- Chuồng heo 2: diện tích 18,46m2. Kết cấu: Trụ pê tông cốt thép đúc sẵn, nền xây bó láng xi măng; tường xây gạch D100mm cao 0,65m trát vữa xi măng mặt trong.

3. Cây trồng trên đất:

- Tre loại 1: 01 bụi

- Dừa loại 1: 17 cây

- Dừa loại 2: 06 cây

- Dừa loại 3: 03 cây

- Bưởi da xanh loại 2: 20 cây

- Đu đủ có trái: 03 cây

- Cau có trái: 01 cây

- Mai vàng đường kính 5-10cm: 01 cây

- Mai vàng đường kính 3-5cm: 06 cây

- Chanh loại 1: 03 cây

* Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, vật kiến trúc đã qua sử dụng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Long và bà Nguyễn Thị Kim Cúc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2):  290.412.000đ (Hai trăm chín mươi triệu, bốn trăm mười hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập; riêng các khoản phí, lệ phí, liên quan thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 58.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 729100000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ 30 phút ngày 22/6/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 78 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 05 khu vực khoáng sản Quới Sơn, Cẩm Sơn, An Hiệp – An Ngãi Tây, An Đức – An Hòa Tây và An Hòa Tây đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; tài sản cụ thể như sau:

a) Mỏ cát An Đức – An Hòa Tây, thuộc xã An Đức và xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.696.818m3 (theo Quyết định số 206/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ,

kinh tuyến trục 105o45'

 

 

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.106.058587.910

 

 

 

99,9200

21.106.383588.454
31.105.722589.447
41.105.187589.010
51.105.451588.624
61.105.819587.695

 

- Giá khởi điểm: 6.432.300.000đ (Sáu tỷ, bốn trăm ba mươi hai triệu, ba trăm ngàn đồng)

b) Mỏ cát An Hiệp – An Ngãi Tây, thuộc xã An Hiệp và xã An Ngãi Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.463.610m3 (theo Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ, kinh tuyến trục 105o45'

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.109.047581.255

 

 

80,0119

21.109.405581.332
31.108.979583.478
41.108.622583.396

- Giá khởi điểm: 5.548.250.000đ (Năm tỷ, năm trăm bốn mươi tám triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng)

c) Mỏ cát An Hòa Tây, thuộc xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.767.103m3 (theo Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ,

kinh tuyến trục 105o45'

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.104.453590.162

 

 

99,9339

21.105.061590.656
31.105.722589.447
41.105.187589.010

 

- Giá khởi điểm: 6.698.730.000đ (Sáu tỷ, sáu trăm chín mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng)

d) Mỏ cát Quới Sơn, thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.073.695m3 (theo Quyết định số 203/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ,

kinh tuyến trục 105o45'

 

 

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.142.379571.468

 

 

 

79.9860

21.142.613571.628
31.142.187572.343
41.141.218573.768
51.140.922573.565
61.141.509572.807

 

- Giá khởi điểm: 4.296.280.000đ (Bốn tỷ, hai trăm chín mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng)

e) Mỏ cát Cẩm Sơn, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 510.740m3 (theo Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ, kinh tuyến trục 105o45'

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.106.282565.875

 

 

70,2181

21.106.496566.118
31.105.510567.316
41.105.118566.871

 

- Giá khởi điểm: 2.043.680.000đ (Hai tỷ, không trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ngàn đồng)

* Lưu ý: Khoáng sản được đấu giá từng khu vực Mỏ theo thứ tự trên.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: Quyền khai thác khoáng sản đối với các khu vực khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép khai thác của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao Bên A quản lý, bán đấu giá nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

*Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (a+b+c+d+e):                      25.019.240.000đ (Hai mươi lăm tỷ, không trăm mười chín triệu, hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: Từ 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành; xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam; xã An Hiệp – An Ngãi Tây, xã An Đức – An Hòa Tây và An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (liên hệ Phòng Kế hoạch – Tài chính Sở Tài Nguyên – Môi trường, số điện thoại 0275.3839788 sẽ hướng dẫn vị trí, tọa độ cụ thể).

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc) tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian thu tiền đặt trước và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre: Sau khi có kết quả thẩm định điều kiện, năng lực các tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre, Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo sau.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ cho từng mục tài sản, khoản lệ phí này không được hoàn lại và nộp khoản tiền đặt trước tài sản (mục 1) là 960.000.000đ/hồ sơ, tài sản (mục 2) là 830.000.000đ/hồ sơ, tài sản (mục 3) là 1.000.000.000đ/hồ sơ, tài sản (mục 4) là 640.000.000đ/hồ sơ và tài sản (mục 5) là 310.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua, liên hệ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 – 0275.3512081 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.


24/05/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 01/7/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 01/7/2014

THÔNG BÁO hợp đồng 195/2014

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Của và bà Lê Thị Đèo, hiện cư ngụ tại: ấp 3, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Thửa số 283, tờ bản đồ số 27

- Diện tích: 449,5 m2 (trong đó diện tích lộ giới 20,7 m2);

- Loại đất: CLN;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Giao Hòa A, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Của và bà Lê Thị Đèo, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 108.385.737đ (một trăm lẻ tám triệu ba trăm tám mươi lăm ngàn bảy trăm ba mươi bảy đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ /01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 08/8/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre

 

THÔNG BÁO hợp đồng 198/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý thiết bị văn phòng, xe môtô, ponton và đò máy; tài sản (có bảng kê chi tiết kèm theo) cụ thể như sau:

I. Gói 1: (gồm 3 hạng mục)

1/ Hạng mục số 1: thiết bị văn phòng, xe môtô và phế liệu các loại.

2/ Hạng mục số 2: phụ tùng cũ.

3/ Hạng mục số 3: Ponton 150 tấn, Mỏ bàn phà và phao luồng.

- Giá khởi điểm tài sản (I): 598.672.000đ (năm trăm chín mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản (I) bán dưới dạng phế liệu.

II. Gói 2 (đò máy). Công dụng: Tàu khách, số đăng ký: BTr-0044, đóng năm 1990; chiều dài thiết kế: 14,1m; chiều rộng thiết kế: 3,2m, chiều cao mạn 1,00m, chiều chìm: 0,7m, mạn khô: 0,3m; vật liệu vỏ bằng gỗ; tổng công suất: 45CV; Mác, số chế tạo: GM271,2A-42418; số lượng người được phép chở 30 người; lượng hàng 1,50tấn.

- Giá khởi điểm tài sản (II): 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).

* Tài sản bán theo từng gói.

- Tài sản (I + II) tọa lạc: như trong bảng kê chi tiết;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Quản lý phà và Bến xe tỉnh Bến Tre, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (I+II): 633.672.000đ (sáu trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm bảy mươi hai ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (gói 1), 100.000 đ/01 hồ sơ (gói 2).

* Khoản tiền đặt trước: 85.000.000đ/01 hồ sơ (gói 1), 5.000.000 đ/01 hồ sơ (gói 2).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 15/7/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

BẢNG KÊ CHI TIẾT TÀI SẢN BÁN ĐẤU GIÁ

 

 

 

THÔNG BÁO hợp đồng 200/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở, nhà kho) của hộ bà Võ Thị Ngọc Lan, địa chỉ tại: 605B5, khu phố 3, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ số 14, thửa 39, 345

a. Về đất:

- Diện tích: 2.830,1 m2 ;

- Loại đất: 390 m2 đất thổ cư (T), 2.440,1 m2 đất cây lâu năm (CLN);

b. Tài sản trên đất gồm:

- Nhà ở: (nhà chính + nhà phụ + gác gỗ) có diện tích 197 m2 (dài 20 m, rộng 8,3 m) có kết cấu: cột bêtông cốt thép, tường gạch, nền gạch men, mái tol, trần nhựa.

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 309/CN-XD do Sở Xây dựng tỉnh Bến Tre cấp ngày 11/12/2002.

- Nhà: diện tích 147,5 m2, kết cấu: nền gạch men, tường bao, khung cột bêtông cốt thép, mái tole thiếc, trần nhựa (chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V745406, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 03821 QSDĐ/3274/QĐ-UB(T) do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cấp ngày 27/9/2002, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất AB 723867, số vào sổ PH/00597/QSDĐ/4464 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 07/4/2005 và Chứng nhận Quyền sở hữu nhà số 309/CN-XD

2. Nhà kho trên đất

a. Nhà kho 1+2: diện tích 1003,1 m2 nền ximăng, vách tường lửng + tol bao che, khung cột thép, mái tol thiếc

b. Nhà kho 3: diện tích 418,8 m2 vách tường bao che, khung cột bêtông cốt thép, mái tol thiếc, nền đất

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: khu phố 3, đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở, nhà xưởng, nhà kho) của bà Võ Thị Ngọc Lan do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 5.360.435.384 đ (năm tỷ ba trăm sáu mươi triệu bốn trăm ba mươi lăm ngàn ba trăm tám mươi bốn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 300.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 202/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Nguyễn Thị Thanh, địa chỉ tại: ấp Thừa Thạnh, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm như sau:

1. Về đất

- Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: Diện tích: 115 m2; thửa 629, thuộc tờ bản đồ 04; Loại đất: đất thổ cư, đất hàng năm khác;

- Theo kết quả sơ đồ địa chính mới: diện tích 103,8 m2; thửa 111,thuộc tờ bản đồ 24.

2. Tài sản trên đất (nhà ở ):

- Nhà ở: có diện tích 72 m2 (dài 16 m, rộng 4,5 m) có kết cấu: nền gạch bông, vách tường, cột bê tông, mái tole

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản đất bán theo kết quả sơ đồ địa chính mới: diện tích 103,8 m2; thửa 111,thuộc tờ bản đồ 24 và theo Đơn xin xác nhận Chủ quyền nhà ở của bà Nguyễn Thị Thanh.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Nguyễn Thị Thanh do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 90.000.000 đ (Chín mươi triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.

03/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn