Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Văn phòng Sở
Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 ... 
 
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá... 
 
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công ... 
 
Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau: 
 
Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư ... 
 
Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.  
 
Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉ... 
 
Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. 
 
Ngày 03 tháng 10 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định gồm 3 chương, 19 Điều quy định rõ chế độ quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan và người quản lý, bảo quản tang ... 
 
Nhà nước ta ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội, từ đó, xóa bỏ những định kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người phạm tội mà còn giáo dục mọi người trong xã hội rộng lượng, bao dung hơn đối với những người lầm lỗi vì sự tiến bộ, văn min... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Mục tiêu chất lượng năm 2009Mục tiêu chất lượng năm 2009


PHÒNG HỘ TỊCH

MỤC TIÊU CHẤT LƯỢNG NĂM 2009

Người soạn:



Nguyễn Thị Ngọc Huệ

Người Kiểm Tra:



Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:



Trần Lương Phổ

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Đảm bảo 70% hồ sơ kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết trước ngày hẹn.

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác văn thư lưu trữCông tác văn thư lưu trữ


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Tiếp nhận và quản lý công văn đi, đến; lưu trữ hồ sơ nhằm phục vụ cho công tác của ngành.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các đơn vị thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

1. Công tác văn thư:

Nhân viên văn thư



Thời gian:

16h cùng ngày đi công văn bình thường; công văn mang tính chất khẩn đi ngay;

trong nội ô thị xã đi trực tiếp



* Công văn đi:

- Các phòng soạn thảo văn bản theo ý kiến của Ban Giám đốc, trình Ban Giám đốc ký duyệt.

- Chuyển đến bộ phận Văn phòng đóng dấu và lấy số công văn đi.

- Đóng dấu, cho số công văn đi và ghi vào sổ theo dõi.

- Chuyển số công văn đã được đóng dấu và lấy số đến bộ phận phát hành công văn.

- Phát hành công văn đến địa chỉ theo đúng yêu cầu của các phòng nghiệp vụ (chuyển đến Bưu điện hoặc đi trực tiếp) và ghi vào sổ theo dõi.

- Trường hợp những công văn đi có tính cấp bách phải gửi đi khẩn cấp thì phải xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám đốc.

* Công văn đến:

- Nhận công văn từ bên ngoài gởi đến.

- Đóng dấu “ Công văn đến”, ghi số công văn đến, ngày nhận công văn. (số công văn được ghi theo thứ tự từ đầu năm, bắt đầu là số 01 cho đến cuối năm).

- Trình Ban Giám đốc xem xét và có ý kiến xử lý.

- Nhận lại số công văn đã có ý kiến của Ban Giám đốc.

- Giao công văn đến các phòng nghiệp vụ theo ý kiến của Ban Giám đốc (có ký nhận).

2. Lưu trữ:

- Soạn thảo “ Thông báo thu gom tài liệu” trình Ban Giám đốc duyệt gửi các phòng nghiệp vụ vào đầu tháng 11 hàng năm.

- Lập và trình duyệt Bảng dự trù văn phòng phẩm, vật dụng cần thiết cho việc chỉnh lý các tài liệu vừa thu gom.

- Soạn thảo các thủ tục giấy tờ cần thiết để tiến hành ký hợp đồng với Trung tâm Lưu trữ tỉnh về việc thuê chỉnh lý và phân loại tài liệu.

- Lập “Danh mục hồ sơ” và sắp xếp hồ sơ vào kho lưu trữ.

- Lập “Danh mục hồ sơ” những tài liệu hết giá trị sử dụng và thành lập Hội đồng tiêu huỷ hồ sơ.

- Khi có nhu cầu tìm hồ sơ tài liệu từ kho lưu trữ thì dò tìm từ bảng “ Danh mục hồ sơ”.

- Thực hiện tốt công tác bảo quản hồ sơ lưu trữ.

4. Phụ lục:

  • Sổ đăng ký công văn đi.
  • Sổ đăng ký công văn đến.

VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐẾN

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:

Trần Lương Phổ


...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐẾN


..............................................................................



Năm:............



Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số đến

Ngày tháng

vào sổ

ĐƠN VỊ GỬI CÔNG VĂN

Số và ký hiệu công văn

Ngày tháng công văn

TRÍCH YẾU NỘI DUNG

Theo dõi giải quyết công văn

Lưu hồ sơ số

 

N PHÒNG S TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐI

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:

 

 

Người duyệt:

Trần Lương Phổ

...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐI


..............................................................................



Năm:............




Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số và ký

hiệu CV

Ngày tháng

công văn

Trích yếu nội dung

Người ký công văn

Điơn vị nhận bản lưu và gửi đi

Địa chỉ phát hành (nơi nhận cv)

Lưu

hồ sơ số

Số lượng bản

Số lượng trang

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhNghị định quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính
Ngày 03 tháng 10 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định gồm 3 chương, 19 Điều quy định rõ chế độ quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan và người quản lý, bảo quản tang ...

Ngày 03 tháng 10 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định gồm 3 chương, 19 Điều quy định rõ chế độ quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan và người quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu.

Theo đó, tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu phải được quản lý, bảo quản chặt chẽ, an toàn, sắp xếp hợp lý, dễ kiểm tra, tránh nhầm lẫn, không để gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh. Tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu phải bảo đảm giữ được giá trị, chất lượng, tiêu chuẩn. Việc tiếp nhận, trả lại, chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc tiếp nhận, chuyển tang vật, phương tiện bị tịch thu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được thực hiện khi có quyết định của người có thẩm quyền.

Nghị định nghiêm cấm các hành vi chiếm đoạt, bán, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đánh tráo, thay thế tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu và các hành vi trục lợi khác; vi phạm niêm phong, mang tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu ra khỏi nơi tạm giữ, bảo quản trái phép; làm mất, thiếu hụt, hủy hoại, cố ý hư hỏng tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu.

Cũng theo Nghị định này, cơ quan, tổ chức, cá nhân có tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu được quyền: khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu kiểm tra trước khi nhận lại tang vật, phương tiện khi hết thời hạn bị tạm giữ; yêu cầu cán bộ quản lý lập biên bản về việc tài sản trong thời gian tạm giữ bị mất, đánh tráo, hư hỏng, thiếu hụt và yêu cầu cơ quan quản lý tang vật, phương tiện bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quyết định tạm giữ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; đồng thời nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo đúng thời hạn ghi trong quyết định tạm giữ và nộp phí theo quy định.

Nghị định cũng nêu rõ về việc đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính; trình tự, thủ tục khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu; việc xử lý tang vật, phương tiện hết thời hạn bị tạm giữ...

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 11 năm 2013, bãi bỏ Nghị định số 70/2006/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ quy định việc quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, Nghị định số 22/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 70/2006/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2006 quy định việc quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính.

11/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Vài vấn đề với hoạt động bán đấu giá tài sản ở Bến TreVài vấn đề với hoạt động bán đấu giá tài sản ở Bến Tre
Qua hơn một năm thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, hoạt động bán đấu giá tài sản ở địa bàn tỉnh Bến Tre ngày càng phổ biến, hoàn thiện và đi vào nề nếp hơn so với trước đây. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đã quy định rõ hơn về đối tượng tài sản phải áp dụng trình tự, thủ tục bán đấu giá bao gồm:
14/01/2012 12:00 SAĐã ban hành
Quy định của pháp luật về xóa án tíchQuy định của pháp luật về xóa án tích
Nhà nước ta ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội, từ đó, xóa bỏ những định kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người phạm tội mà còn giáo dục mọi người trong xã hội rộng lượng, bao dung hơn đối với những người lầm lỗi vì sự tiến bộ, văn min...

Nhà nước ta ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội, từ đó, xóa bỏ những định kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người phạm tội mà còn giáo dục mọi người trong xã hội rộng lượng, bao dung hơn đối với những người lầm lỗi vì sự tiến bộ, văn minh và phát triển của cộng đồng.

Theo quy định Bộ luật Hình sự năm 1999, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận.

Đương nhiên xóa án tích (Điều 64): Người được miễn hình phạt; người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và chương XXIV (các tội phá họai hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), nếu từ khi chấp hành xong bản án (về hình phạt và các khoản tiền án phí, tiền phạt hoặc khoản tiền bồi thường dân sự khác) hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau: Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo; ba năm trong trường hợp phạt tù đến ba năm; năm năm trong trường hợp phạt tù trên ba năm đến mười lăm năm; bảy năm trong trường hợp phạt tù trên mười lăm năm.

Xóa án tích theo quyết định của tòa án (Điều 65): Tòa án quyết định xoá án tích đối với những người bị kết án về các tội quy định tại Chương XI (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và chương XXIV Bộ luật Hình sự (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, trong các trường hợp sau đây: Đã bị phạt tù ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm kể từ khi chấp hành xong bản án họặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án; đã bị phạt tù trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành án; đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án.

Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 66): Trong trường hợp người bị kết án có những tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị thì có thể được Tòa án xóa án tích nếu người đó đã đảm bảo ít nhất một phần ba thời hạn quy định.

Pháp luật Nhà nước ta nghiêm trị và răn đe người phạm tội nhưng cũng luôn mang tính nhân đạo. Do đó, việc xóa án tích là con đường rộng mở cho người phạm tội hoàn lương và góp phần giảm thêm gánh nặng cho xã hội khi người từng phạm tội thật sự đã trở thành người tốt.

08/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009

 

P. CÔNG CHỨNG SỐ 1 MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG

CÔNG CHỨNG NĂM 2009

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ

 

Mục tiêu:

Giải quyết 100% hồ sơ công chứng hợp đồng giao dịch dân sự đúng theo quy định của pháp luật và cải tiến về thời gian theo quy trình của phòng Công chứng.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công ...

Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.


Qua phát động, Sở Tư pháp đã chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch, Chương trình thi đua và một số công việc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhan dân tỉnh. Trên cơ sở đó, các phòng và trung tâm thuộc Sở đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua tại đơn vị mình. Công tác thi đua đã có nhiều khởi sắc, đi vào thực chất, phát triển rộng khắp, thiết thực, hiệu quả; các hoạt động phong trào thi đua đều hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao có trọng tâm, trọng điểm, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua đợt 01/2014 đã phát huy tính thiết thực, giải quyết tốt khối lượng công việc tương đối lớn và những công việc trọng tâm, chương trình kế hoạch năm đã đề ra, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành; nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng đã từng bước được nâng cao.

Kết thúc đợt thi đua, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành quyết định tặng Giấy khen và công nhận 06 tập thể và 20 cá nhân đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc trong quá trình thực hiện phong trào thi đua đợt 1/2014. Đồng thời, tổ chức phát động và thực hiện phong trào thi đua đợt 02/2014 theo Kế hoạch và Chương trình thi đua đề ra đầu năm, kết hợp với phát động phong trào thi đua hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 394/QĐ-BTP ngày 19 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp và Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IVSở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá...

Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV.

Theo đó, việc thực hiện phong trào thi đua sẽ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và có sự phối kết hợp chặt chẽ với thực hiện phong trào thi đua thường xuyên hàng năm với công tác khen thưởng và phong trào thi đua theo chuyên đề: “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”; phong trào thi đua “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và những phong trào thi đua khác do Bộ Tư pháp phát động.

Đối tượng phát động và thực hiện phong trào thi đua bao gồm tất cả những tập thể và cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Nội dung thực hiện phong trào thi đua tập trung vào nhóm các lĩnh vực về: công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động truyền thông, kiểm tra kiểm soát thủ tục hành chính; hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức...

Theo kế hoạch, phong trào thi đua được triển khai thực hiện đến trước ngày 31 tháng 8 năm 2015. Đồng thời, giao cho Văn phòng Sở tham mưu Giám đốc Sở tổ chức triển khai, phổ biến, theo dõi và đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch; tổng hợp, báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp theo dõi, chỉ đạo.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn xây dựng nội quy, quy chế đối với học viên của Cơ sở cai nghiện bắt buộcBộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn xây dựng nội quy, quy chế đối với học viên của Cơ sở cai nghiện bắt buộc
Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 12 tháng 6 năm 2014 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH quy định biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành...

Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 12 tháng 6 năm 2014 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH quy định biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và hướng dẫn xây dựng nội quy, quy chế đối với học viên của cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi là Thông tư).

Thông tư này áp dụng đối với: Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật Xử lý vi phạm hành chính; Người nghiện ma túy bị đề nghị và phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Ban hành kèm theo Thông tư này là 16 biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi sử dụng các biểu mẫu phải thống nhất, đảm bảo đầy đủ các nội dung theo quy định tại Thông tư này.

Về việc xây dựng quy chế của Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Về nguyên tắc chung, nội dung quy định tại quy chế phải đảm bảo các quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của học viên; việc xây dựng quy chế phải có sự tham gia của học viên, đảm bảo tính khách quan, công khai minh bạch và đúng thẩm quyền.

Theo quy định tại Thông tư này, nội dung quy chế của Cơ sở cai nghiện bắt buộc phải đảm bảo thực hiện các nội dung bao gồm: quyền của học viên, trách nhiệm của học viên, hành vi bị nghiêm cấm đối với học viên, quản lý học viên của Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thăm gặp thân nhân, khen thưởng và kỷ luật.

Đây là một văn bản hết sức quan trọng phục vụ công tác cho các chức danh có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2014.

07/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thuQuy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu
Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm ...

Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 quy định việc chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh hoặc Hội đồng bán đấu giá của cấp huyện để thực hiện việc bán đấu giá; trong khi đó Doanh nghiệp bán đấu giá không được thực hiện bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tịch thu sung công đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp.

Nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc và sự bất bình đẳng trong hoạt động bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Theo đó tại điểm đ, khoản 1 Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu thì tiến hành thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm để thực hiện việc bán đấu giá; trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá thì thành lập hội đồng để bán đấu giá đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu.


Quy định trước đây về thời hạn xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu tại khoản 1, Điều 36 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP của Chính phủ thì trong thời hạn 10 ngày, cơ quan ra quyết định tịch thu phải chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để bán đấu giá, với số lượng tài sản chuyển giao rất nhỏ, không đáng kể và số tiền có được từ bán đấu giá tài sản đôi khi không đủ trả chi phí cho việc tổ chức, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Để đảm bảo tài sản chuyển giao với số lượng lớn, đủ trang trải chi phí cho quá trình định giá, chi phí chi trả cho hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; khoản 1 Điều 12 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định thời hạn kéo dài thêm là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì cơ quan ra quyết định tịch thu phải ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính.

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp và quan trọng nhất là các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp được thu phí bán đấu giá theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư số 173/TT-BTC ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính có hiệu lực ngày 05 tháng 01 năm 2014.

Để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bán đấu giá các loại tài sản trên địa bàn tỉnh nói chung, tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nói riêng, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre có Công văn số 2319/STP-BTTP ngày 26 tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính trong bán đấu giá tài sản. Sở Tư pháp đề nghị lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện tốt Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Liên thông đăng ký khai sinh, thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổiLiên thông đăng ký khai sinh, thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi
Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng lý thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi”.

Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng lý thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi”.

Mục tiêu tổng quát của Đề án là cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm thực hiện cơ chế liên thông trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch, cư trú, bảo hiểm y tế, nhằm từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ công thuộc trách nhiệm của các ngành Tư pháp, Công an, Bảo hiểm xã hội, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này.

Việc liên thông các thủ tục hành chính được thực hiện đối với các trường hợp cụ thể sau:

Đăng ký khai sinh - đăng ký thường trú - cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi: Áp dụng đối với trường hợp đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trên cùng địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); trẻ em dưới 6 tuổi có cha hoặc mẹ hoặc người nuôi dưỡng, chăm sóc có đăng ký thường trú trên địa bàn cấp huyện đó.

Đăng ký khai sinh - cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi: Áp dụng đối với trường hợp đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trên cùng địa bàn cấp huyện; trẻ em dưới 6 tuổi có cha hoặc mẹ hoặc người nuôi dưỡng, chăm sóc không có đăng ký thường trú mà chỉ có đăng ký tạm trú trên địa bàn cấp huyện đó.

Việc liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

Theo đó, người có yêu cầu thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi chỉ nộp hồ sơ một lần và nhận được nhiều kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thời hạn giải quyết liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trong thời hạn tối đa 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định, người nộp hồ sơ đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã nộp hồ sơ để nhận kết quả.

Thời hạn giải quyết liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trong thời hạn tối đa là 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định, người nộp hồ sơ đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã nộp hồ sơ để nhận kết quả.

Trong trường hợp người dân có yêu cầu nhận kết quả từng loại thủ tục trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì khi nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã phải yêu cầu cụ thể để ghi vào phiếu hẹn, người dân sẽ được trực tiếp nhận trả kết quả theo yêu cầu tại các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Nếu có nhu cầu nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính, người dân đăng ký với Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận kết quả tại nhà, người dân có trách nhiệm nộp cước phí cho cơ quan bưu chính.

11/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hạnh phúc mong manhHạnh phúc mong manh
Ngày đám cưới vốn dĩ là ngày hạnh phúc với tất cả những người yêu nhau, là kết tinh tình yêu của đôi trai gái, là ngày hai con người được gắn kết bởi một sợi dây mang tên “gia đình”. Hạnh phúc đó phải trải qua bao khó khăn mới đạt được, thế nhưng gìn giữ hạnh phúc ấy trọn quãng đời còn lại càng khó khăn biết bao.

Ngày đám cưới vốn dĩ là ngày hạnh phúc với tất cả những người yêu nhau, là kết tinh tình yêu của đôi trai gái, là ngày hai con người được gắn kết bởi một sợi dây mang tên “gia đình”. Hạnh phúc đó phải trải qua bao khó khăn mới đạt được, thế nhưng gìn giữ hạnh phúc ấy trọn quãng đời còn lại càng khó khăn biết bao.

Chị M và anh H kết hôn đã được hơn bảy năm. Anh H làm tài xế cho một công ty vận tải, còn chị M thì làm công nhân may. Hai người đã có một cậu con trai kháu khỉnh năm tuổi. Ngày ngày anh đi làm, chị cũng đi làm và quán xuyến chuyện nhà cửa, con cái. Cuộc sống gia đình vốn dĩ vẫn tốt đẹp. Nhưng khoảng nửa năm trở lại đây, anh H thường về muộn, hay cáu gắt với chị M. Rồi những cuộc cãi vả, anh bỏ nhà đi mấy ngày không về. Gần đây, tình trạng này trở nên thường xuyên hơn, có khi anh đi không về mà chẳng có lý do. Anh không còn quan tâm nhiều đến gia đình, thậm chí đứa con nhỏ cũng không cảm nhận được tình thương của cha nó. Những bữa cơm thiếu vắng nụ cười, ngôi nhà thiếu vắng bóng hình người đàn ông che chở, không khí gia đình ngày một ảm đạm. Chị M lầm lũi chăm sóc con, chăm sóc gia đình nhỏ. Hạnh phúc gia đình đang tan vỡ từng ngày.

Rồi chuyện gì đến cũng đến, một ngày, anh trở về nhà và nói muốn ly hôn, rồi bỏ nhà đi biệt. Chị M tìm đến công ty anh H để gặp anh nhưng không gặp được anh mà chỉ gặp người quản lý của anh. Vì cũng có biết nhau nên người quản lý cũng có trao đổi với chị chuyện gia đình, rằng H có người khác bên ngoài. Dù chị vẫn không làm gì có lỗi, dù chị đã luôn cố gắng vun vén hạnh phúc gia đình, chồng chị vẫn có người khác bên ngoài, không quan tâm đến vợ con. Chị vẫn tận tụy với gia đình nhỏ, với đứa con thơ, còn anh thì đi biệt. Bản thân chị M vẫn thương chồng, thương con, không muốn con thiếu vắng tình thương, nhưng còn anh, mải mê với niềm vui mới… Một bên đã không còn thiết tha gìn giữ hạnh phúc ấy, một bên lại cố níu giữ hạnh phúc vốn đã rạn nứt không cách nào hàn gắn thì ly hôn là một giải pháp. Nhưng cũng từ đó một gia đình tan rã; đứa con thơ từ đó mà mất đi một gia đình trọn vẹn, mất đi niềm hạnh phúc được yêu thương tròn đầy của cả cha và mẹ trong những chuỗi ngày khôn lớn.

Gia đình hạnh phúc không phải chỉ có một người là có thể xây dựng được, nó cần được mỗi thành viên trong gia đình quan tâm, vun đắp. Nếu như vợ chồng chung sống với nhau mà không có được hạnh phúc thì ly hôn là một cách giải thoát làm lại cuộc đời, tìm kiếm hạnh phúc thực sự. Nhưng suy xét lại, bản thân chúng ta đã hết lòng với gia đình nhỏ của mình hay chưa; bản thân ta có ích kỷ, chỉ sống cho bản thân quá nhiều mà quên mất rằng người thân của mình cũng cần được yêu thương, quên mất trách nhiệm với những người thân yêu. Hạnh phúc là một món quà không dễ dàng có được, tuy thế hạnh phúc cũng mong manh dễ vỡ, do đó chúng ta cần phải biết vun đắp, giữ gìn và trân trọng.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Trẻ em cần được yêu thươngTrẻ em cần được yêu thương
Tất cả trẻ em vốn dĩ đều nên có một tuổi thơ trong sáng vui vẻ, được chăm sóc giáo dục với tình yêu thương của cha mẹ và gia đình. Thế nhưng cuộc đời ngoài kia nào chỉ có hoa thơm và trái ngọt, nào đâu phải đứa trẻ nào cũng được chăm sóc và yêu thương; ngoài kia còn rất nhiều những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, không được sống trong tình thương gia đình, các em phải trải qua...

Tất cả trẻ em vốn dĩ đều nên có một tuổi thơ trong sáng vui vẻ, được chăm sóc giáo dục với tình yêu thương của cha mẹ và gia đình. Thế nhưng cuộc đời ngoài kia nào chỉ có hoa thơm và trái ngọt, nào đâu phải đứa trẻ nào cũng được chăm sóc và yêu thương; ngoài kia còn rất nhiều những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, không được sống trong tình thương gia đình, các em phải trải qua một tuổi thơ đầy cơ cực và sóng gió.

Còn đó những đứa trẻ không nơi nương tựa, không được học hành, lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: bán kẹo, bán chewing-gum, bán vé số, đánh giày,.... Bên cạnh đó còn có cả những đứa trẻ vì không được định hướng tốt, sớm đi vào con đường đen tối: trộm cắp, lừa gạt, cướp giật... Những đứa trẻ không may mắn đó biết làm sao để tự bảo vệ mình trước những nguy hiểm của cuộc đời, biết làm sao để tìm đến tổ chức trợ giúp pháp lý để tìm công lý cho mình khi bị ức hiếp. Các em là những mảnh đời bất hạnh không nơi nương tựa sống lang thang đầu đường xó chợ, ngày ngày chỉ quần quật kiếm miếng cơm manh áo, không được yêu thương, không được học hành, thiếu kiến thức thì việc tiếp cận với pháp luật là một bài toán khó với bản thân những đứa trẻ đó và cả với những người làm công tác pháp luật. Để khi các em trở thành tội phạm, hoặc bị xâm hại quyền lợi rồi mới được giúp đỡ, được trợ giúp pháp lý thì đã muộn màng. Dẫu biết rằng trợ giúp pháp lý sẽ giúp được các em đòi lại công bằng cho mình khi bị xâm hại hoặc giúp các em có thể đón nhận hình phạt khi phạm tội một cách nhẹ nhàng hơn nhưng rồi cuộc đời các em rồi đây sẽ mãi có vết đen, sẽ có những tổn thương không bao giờ có thể chữa lành.

Chính vì thế, việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em luôn cần được quan tâm, cần được những người làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em và cả xã hội đặc biệt quan tâm; nhất là đối với những trẻ em lang thang không nơi nương tựa, thiếu thốn tình thương gia đình, thiếu thốn một mái nhà ấm áp.

Thương lắm nụ cười trẻ thơ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre.Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre.
Ngày 06/7/2011 UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre. Chỉ thị nêu rõ, kể từ ngày chỉ thị có hiệu lực thi hành, việc bán các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh phải do tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm Dị...

Ngày 06/7/2011 UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre.
Chỉ thị nêu rõ, kể từ ngày chỉ thị có hiệu lực thi hành, việc bán các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh phải do tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản của tỉnh, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản) hoặc các Hội đồng bán đấu giá giá tài sản được thành lập đúng theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và Thông tư số 23/2010/TT-BTP thực hiện;
Các tổ chức hoạt động bán đấu giá tài sản được thành lập không phù hợp với quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, phải chấm dứt hoạt động kể từ ngày Chỉ thị này có hiệu lực thi hành. Đồng thời, có trách nhiệm phối hợp với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để bán các tài sản bán đấu giá đang quản lý theo đúng quy định của pháp luật.
Riêng đối với các tài sản đã bán đấu giá thành, nhưng chưa bàn giao tài sản thì đơn vị đã tổ chức bán đấu giá tiếp tục thực hiện trách nhiệm của mình cho đến khi bàn giao xong tài sản cho tổ chức, cá nhân mua được tài sản; các Hội đồng đấu giá được thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã tiếp nhận việc bán đấu giá quyền sử dụng đất đối với một số lô đất cụ thể và đã tiến hành việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, có phương án bán đấu giá được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 hoặc đối với các hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản đã được thực hiện trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 thì thực hiện theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 23/2010/TT-BTP.
Trung tâm Phát triển quỹ nhà, đất tỉnh và Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện khi được giao tổ chức bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà phải ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 55 của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và khoản 1 Điều 16 của Thông tư số 23/2010/TT-BTP;
Các sở, ngành tỉnh có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật thực hiện nghiêm việc chuyển giao các loại tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước cho Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản của tỉnh để tổ chức bán đấu giá đúng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.
Chỉ thị trên có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký./.

 

19/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Văn phòng Công chứng Ba Tri khai trương và đi vào hoạt độngVăn phòng Công chứng Ba Tri khai trương và đi vào hoạt động
Sáng ngày 23 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công chứng Ba Tri đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại địa chỉ số 27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng. Văn phòng Công chứng Ba Tri hiện có 02  Công chứng viên và 02 nhân viên.

Sáng ngày 23 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công chứng Ba Tri đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại địa chỉ số 27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng. Văn phòng Công chứng Ba Tri hiện có 02  Công chứng viên và 02 nhân viên.


Đến tham dự Lễ khai trương có ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; Cục Thi hành án dân sự tỉnh; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Phòng, ban chuyên môn của huyện Ba Tri và các đại biểu đại diện Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn huyện.

Phát biểu chỉ đạo tại buổi Lễ, ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp chúc mừng Văn phòng Công chứng Ba Tri khai trương và đi vào hoạt động; ông Lê Minh Hiền đề nghị Trưởng Văn phòng công chứng, Công chứng viên và các nhân viên phải chấp hành nghiêm túc Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành; không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, chất lượng công chứng các văn bản, các hợp đồng, giao dịch …; đồng thời, đề nghị chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho Văn phòng Công chứng Ba Tri hoạt động, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động hành nghề công chứng trên địa bàn huyện Ba Tri.


Đến nay trên địa bàn tỉnh có 08 tổ chức hành nghề công chứng, góp phần phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre theo Đề án đã được Bộ Tư pháp phê duyệt, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”Sở Tư pháp phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”
Ngày 21/11/2012, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1881/KH-STP về phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” từ năm 2012 đến năm 2020.

 

Ngày 21/11/2012, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1881/KH-STP về phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” từ năm 2012 đến năm 2020.

Kế hoạch nêu rõ những vấn đề cần tập trung: Tham gia xây dựng 100% các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được giao; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh phong trào xây dựng và thực hiện Quy ước ở các ấp, khu phố... trên địa bàn cấp xã ở nông thôn, phát huy ý thức tự quản, tăng cường đoàn kết, chấp hành tốt pháp luật, phát huy phong tục tập quán, truyền thống, đạo đức tốt đẹp của các cộng đồng dân cư ở nông thôn; nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoà giải ở cơ sở; giải quyết kịp thời và dứt điểm những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật nhỏ trong các ấp, khu phố…góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cơ sở; tăng chỉ tiêu đăng ký khai sinh cho trẻ em; Hoạt động công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm, công tác luật sư đáp ứng kịp thời các nhu cầu của người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; Tăng cường củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành bằng pháp luật của chính quyền cấp xã; phấn đấu đến năm 2015, 100% cấp xã loại 1 và loại 2 có từ 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch trở lên và trên 90% công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã đạt trình độ trung cấp luật trở lên và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, theo Kế hoạch thì Phòng Tư pháp các huyện, thành phố có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động xây dựng xã nông thôn mới thuộc phạm vi, lĩnh vực mình quản lý trên địa bàn cấp huyện và xã.

 

03/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuậtChế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Quyết định này quy định chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa- nghệ thuật công lập và ngoài công lập, gồm: Nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được giảm 70% học phí. Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được giảm mức học phí không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập.

Ngoài ra, học sinh, sinh viên còn được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề với mức bằng 40% suất học bổng khuyến khích toàn phần/tháng;

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập. Chế độ bồi dưỡng nghề chỉ áp dụng đối với những tháng học sinh, sinh viên học tập và được trả vào đầu tháng.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được trang bị trang phục học tập và cấp một năm 1 lần: Hai (02) bộ quần áo tập; Bốn (04) đôi giày vải; Bảy (07) đôi tất.

Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật áp dụng kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2014.

13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ...

Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Có 95 vụ việc được đánh giá, trong đó, 50 hồ sơ tư vấn pháp luật, 39 hồ sơ tham gia tố tụng, 06 hồ sơ hòa giải. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc theo các nội dung quy định tại Điều 21 Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và các quy định có liên quan của Bộ Tiêu chuẩn, bằng phương pháp đánh giá trực tiếp kiểm tra, nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ việc TGPL.

Kết quả số vụ việc TGPL đạt chất lượng tốt là 93 vụ việc (chiếm tỷ lệ 97,9 %), số vụ việc TGPL đạt chất lượng là 02 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1 %), không có  vụ việc TGPL không đạt chất lượng.

Tuy nhiên, chất lượng vụ việc TGPL cũng còn hạn chế, trong hồ sơ người thực hiện TGPL hướng dẫn đối tượng viết đơn yêu cầu TGPL còn nhiều trường hợp ghi thiếu thông tin (như chứng minh nhân dân, đối tượng….). Bên cạnh đó, còn một vài hồ sơ chưa lập phiếu phân công và sắp xếp hồ sơ theo đúng trình tự thời gian của vụ việc.

Qua đó, Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL yêu cầu người thực hiện TGPL rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện TGPL, nhất là ghi chép thông tin, lập phiếu, sắp xếp hồ sơ. Trung tâm TGPL tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, nhất là hướng dẫn các kỹ năng cho người thực hiện TGPL và tiếp tục phổ biến Thông tư 02/2013/TT-BTP về việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đến người thực hiện TGPL trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh sẽ tổ chức tập huấn cho Trợ giúp viên, Luật sư- cộng tác viên vào cuối tháng 8/2014.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cần khắc phục một số nhầm lẫn khi đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấnCần khắc phục một số nhầm lẫn khi đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan...

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt việc nuôi con nuôi. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó.

Tuy nhiên, qua kiểm tra nghiệp vụ về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch năm 2013 ở các xã, phường, thị trấn cho thấy còn một số trường hợp Ủy ban nhân dân nhầm lẫn trong khi đăng ký các sự kiện hộ tịch. Để tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện đăng ký hộ tịch, đồng thời tránh việc cấp sai các giấy tờ hộ tịch, Công chức Tư pháp – Hộ tịch cần phân biệt đúng và đầy đủ các sự kiện đăng ký hộ tịch để tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện có hiệu quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương.

Phân biệt giữa đăng ký lại việc sinh và cấp lại bản chính Giấy khai sinh

Đăng ký lại việc sinh là việc sinh đã được đăng ký nhưng sổ hộ tịch và bản chính Giấy khai sinh bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại.

Cấp lại bản chính Giấy khai sinh: Trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều nội dung do được thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch hoặc điều chỉnh hộ tịch mà Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ được, thì được cấp lại bản chính Giấy khai sinh.

Như vậy, khác biệt lớn nhất giữa đăng ký lại việc sinh và cấp lại bản chính Giấy khai sinh là nếu Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu trữ thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký lại việc sinh, nếu Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ thì Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp lại bản chính Giấy khai sinh. Chỉ được cấp lại bản chính Giấy khai sinh, không được cấp lại bản chính giấy tờ hộ tịch khác. Do đó khi cấp giấy tờ hộ tịch cho công dân, Công chức Tư pháp – Hộ tịch nên hướng dẫn công dân giữ gìn cẩn thận bản chính các loại giấy tờ hộ tịch, tránh mất mát, hư hỏng. Sau khi cấp lại bản chính Giấy khai sinh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã để  ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc đã cấp lại bản chính Giấy khai sinh để phục vụ cho công tác quản lý hộ tịch.

Phân biệt thay đổi, cải chính và điều chỉnh hộ tịch

Việc thay đổi họ, tên, chữ đệm được thực hiện trong các trường hợp sau: Họ, tên, chữ đệm gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, danh dự, quyền, lợi ích của người đó; theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi cho con nuôi; hoặc khi không làm con nuôi nữa thì cha mẹ đẻ lấy lại tên trước đây đã đặt; theo yêu cầu của cha, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha mẹ cho con; thay đổi từ họ của cha sang họ mẹ hoặc ngược lại; người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; xác định lại giới tính.

Việc cải chính hộ tịch là cải chính những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh nhưng có sai sót trong khi đăng ký, nhầm lẫn ngày âm lịch và ngày dương lịch; cải chính phần khai về cha mẹ trong trường hợp phần khai về cha mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con đã ghi tên người khác mà không phải là cha, mẹ đẻ.

Giấy khai sinh là căn cứ để các ngành điều chỉnh những thông tin sai lệch trong các giấy tờ cá nhân của đương sự. Trường hợp đương sự không có Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu thì căn cứ vào những hồ sơ giấy tờ cá nhân như: CMND, hộ khẩu, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên để tiến hành đăng ký lại việc sinh theo giấy tờ được xác lập đầu tiên. Ủy ban nhân dân cấp xã không được căn cứ vào những giấy tờ khác như huân huy chương, thẻ thương binh, bằng lái xe.. để làm căn cứ đăng ký lại việc sinh. Căn cứ vào Giấy khai sinh (đăng ký lại) các cơ quan có liên quan điều chỉnh các giấy tờ cá nhân sai lệch đã cấp cho đương sự mà do ngành mình quản lý như ngành bảo hiểm điều chỉnh thông tin sai trong sổ bảo hiểm; ngành công an điều chỉnh những thông tin sai trong sổ hộ khẩu và CMND; ngành lao động thương binh xã hội điều chỉnh thông tin sai trong thẻ thương binh; ngành giáo dục và đào tạo điều chỉnh những thông tin sai trong bằng tốt nghiệp... Ủy ban nhân dân cấp xã không được đăng ký lại việc sinh theo yêu cầu sai lệch của đương sự để hợp thức hoá giấy tờ cá nhân, nếu đăng ký lại việc sinh sai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh đó, không được làm thủ tục cải chính, không được hợp thức hóa giấy tờ cho công dân.

Ủy ban nhân dân cấp xã không được thu giữ bản chính Giấy khai sinh trong hồ sơ cải chính hộ tịch. Sau khi ghi bổ sung những thay đổi cải chính ở mặt sau bản chính Giấy khai sinh và cột ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh thì trả lại bản chính Giấy khai sinh cho đương sự.

Điều chỉnh hộ tịch là việc cán bộ hộ tịch căn cứ vào Giấy khai sinh hoặc các giấy tờ có liên quan khác điều chỉnh những thông tin trong các giấy tờ hộ tịch như: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử ....cho phù hợp. Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã đều có thẩm quyền thực hiện điều chỉnh hộ tịch và bổ sung hộ tịch. Điều chỉnh hộ tịch và bổ sung hộ tịch không ban hành quyết định mà chỉ ghi vào mặt sau của giấy tờ hộ tịch cần điều chỉnh.

16/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bình Đại tổ chức Hội thảo để điều chỉnh, bổ sung và thực hiện Qui ước ở cơ sởBình Đại tổ chức Hội thảo để điều chỉnh, bổ sung và thực hiện Qui ước ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch liên tịch giữa Sở Tư pháp và Sở Y tế (Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình) về việc tổ chức Hội thảo để điều chỉnh, bổ sung và thực hiện Qui ước ở cơ sở, trong tháng 10 năm 2008, 6 xã thuộc huyện Bình Đại gồm Long Định, Bình Thắng, Bình Thới, Châu Hưng, Lộc Thuận, và Phú Vang đã tổ chức các cuộc Hội thảo.

Mục đích của Hội thảo là kiểm điểm lại những mặt tích cực và hạn chế tồn tại trong thực tiễn xây dựng và thực hiện qui ước; đánh giá về hiệu quả và vai trò của qui ước đối với đời sống nhân dân trong đó có việc thực hiện chính sách dân số; trên cơ sở đó có biện pháp để tiếp tục phát huy và nâng cao tác dụng của qui ước trong đời sống cộng đồng; đồng thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung trong qui ước đã được thay đổi hoặc ban hành mới như bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình.

Tại Hội thảo các đại biểu đã thảo luận và đi đến thống nhất về nội dung cần điều chỉnh, bổ sung trong qui ước và giải pháp tổ chức thực hiện qui ước có hiệu quả trong thời gian tới.

GV

23/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác thẩm định văn bản trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Bến TreCông tác thẩm định văn bản trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua hay Ủy ban nhân dân ký ban hành (đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và dự thảo văn bản QPPL Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) thì dự thảo văn bản QPPL phải được chuyển đến cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định.

Trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua hay Ủy ban nhân dân ký ban hành (đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và dự thảo văn bản QPPL Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) thì dự thảo văn bản QPPL phải được chuyển đến cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định. 
Như vậy, thẩm định là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND tỉnh, UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Vì vậy, công tác thẩm định có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL nói chung.
Trước đây, công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL chưa có quy định cụ thể. Tuy vậy, từ năm 1996, Sở Tư pháp Bến Tre đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND tỉnh trước khi ban hành. Kể từ khi có Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND được ban hành ngày 3 tháng 12 năm 2004, thì thẩm định là một khâu bắt buộc trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND. Trách nhiệm thẩm định được giao cho cơ quan tư pháp thực hiện. Phạm vi thẩm định thường xem xét những nội dung của dự thảo về sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh, tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo; ngôn ngữ kỹ thuật trình bày văn bản. Trong một số trường hợp cần thiết cơ quan thẩm định đánh giá thêm về tính khả thi của dự thảo văn bản.
Theo quy định của Luật thì Sở Tư pháp chỉ có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết QPPL của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và dự thảo Quyết định, Chỉ thị QPPL của UBND cấp tỉnh. Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm thẩm định đối với dự thảo Quyết định, Chỉ thị QPPL của UBND cùng cấp. Đối với văn bản QPPL của HĐND tỉnh không do UBND tỉnh trình, dự thảo văn bản QPPL của HĐND cấp huyện, dự thảo văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp xã thì Luật không quy định việc thẩm định văn bản.
Các dự thảo văn bản QPPL ở cấp tỉnh đều được Sở Tư pháp thẩm định trước khi ban hành, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản QPPL do tỉnh ban hành với hệ thống pháp luật. Trung bình hàng năm, Sở Tư pháp thẩm định khoảng 90 dự thảo văn bản (năm 2010: thẩm định 82 văn bản, năm 2011: thẩm định 77 văn bản). Chất lượng thẩm định ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện thể chế cấp tỉnh. Qua kiểm tra công tác văn bản hàng năm, đối với cấp huyện, sau những lúng túng ban đầu, những năm gần đây, công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND các huyện, thành phố cũng đã phần nào đi vào nề nếp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng không thể thiếu của công tác văn bản trong việc chỉ đạo và điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo hướng đổi mới, thống nhất có trọng tâm, trọng điểm; tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn về chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan trong cùng một văn bản do địa phương ban hành. Từng bước đưa công tác ban hành văn bản QPPL đi vào nề nếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý và chỉ đạo điều hành để thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Góp phần không nhỏ trong những thành công đó là công tác thẩm định VBQPPL; một trong những công tác có tính quyết định tới chất lượng và hiệu quả của các văn bản QPPL sau khi được ban hành và đây được xem là công tác “tiền kiểm” có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng.
Để chất lượng ban hành văn bản QPPL ngày càng được nâng cao, trong thời gian tới, cần có sự quan tâm hơn nữa của cấp uỷ và chính quyền địa phương đối với công tác văn bản nói chung và công tác thẩm định nói riêng; chắc chắn sẽ đi vào nề nếp, tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của pháp luật góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, việc nâng cao nhận thức và tinh thần phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định cũng có ý nghĩa quan trọng. Bởi lẽ, thẩm định là công đoạn nằm trong quy trình xây dựng văn bản QPPL và có mối quan hệ mật thiết với giai đoạn soạn thảo văn bản QPPL. Sự phối hợp này góp phần phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động soạn thảo, thẩm định văn bản QPPL cũng như giúp cho cơ quan thẩm định hiểu rõ hơn ý đồ quản lý của cơ quan soạn thảo. Bên cạnh đó, cơ quan, đơn vị khi gửi dự thảo yêu cầu thẩm định cần phải đảm bảo về mặt hồ sơ và thời gian theo quy định. Vấn đề nâng cao hơn nữa trình độ và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định văn bản cũng là một nhu cầu rất cần thiết./.

 

06/01/2012 12:00 SAĐã ban hành
Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanhMột số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh
Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP).

Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP).

Về mục tiêu cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư và bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật Đất đai; tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi; cắt giảm ít nhất 40% thời gian thực hiện gắn với tiết kiệm tối đa chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế; nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về chỉ số thuận lợi kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy thu hút đầu tư, góp phần phòng chống tham nhũng và phát triển kinh tế - xã hội.

Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 43/NQ-CP đề ra như sau:

Thực hiện đơn giản hoá các quy định về thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất theo hướng: Chuẩn hoá, quy định cụ thể, đơn giản, rõ ràng các bộ phận cấu thành của thủ tục lựa chọn nhà đầu tư có sử dụng đất theo 03 hình thức (đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư không thông qua đấu giá, đấu thầu); về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư (bãi bỏ thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư có sử dụng đất không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện...); về các thủ tục liên quan đến quy hoạch xây dựng (không yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép quy hoạch, các nội dung của giấy phép quy hoạch phải được thể hiện ngay trong nội dung kết quả giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.

Căn cứ kết quả giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, chủ đầu tư dự án tổ chức lập và phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch); không yêu cầu nhà đầu tư phải nộp trích lục bản đồ địa chính hoặc phải thực hiện trích đo địa chính khu đất trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư;...

Xây dựng, chuẩn hoá, ban hành quy trình và các nội dung quy định chi tiết về các thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để đảm bảo thống nhất trong cả nước.

Thực hiện công khai, minh bạch thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư: Nghiêm túc thực hiện công tác công bố, công khai thủ tục hành chính làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính và phòng ngừa, hạn chế tham nhũng, tiêu cực, trong đó tập trung tổ chức thực hiện tốt công bố, công khai các thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư tại các cấp chính quyền; xử lý nghiêm và kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi nhũng nhiễu, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về thủ tục hành chính, các cơ quan, tổ chức không thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính, cũng như chậm trễ trong việc sửa đổi các quy định về thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và không hiệu quả theo chỉ đạo của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

Để tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 43/NQ-CP, Chính phủ chỉ đạo: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm xây dựng văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính theo các nhiệm vụ đã được phê duyệt tại Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước ngày 15 tháng 10 năm 2014, trong đó ưu tiên áp dụng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn;

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan xây dựng văn bản về quy trình liên thông giải quyết các thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước ngày 15 tháng 10 năm 2014 theo các nhiệm vụ đã được phê duyệt tại Điểm a Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP. Đối với nhiệm vụ tại Điểm b Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP, việc sửa đổi, bổ sung quy trình liên thông sẽ được thực hiện sau khi luật, pháp lệnh được ban hành;...

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ nội dung văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan trung ương ban hành để thực thi các nhiệm vụ nêu tại Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP, thực hiện ngay việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các quy định có liên quan tại các văn bản thuộc thẩm quyền, ban hành để bảo đảm thi hành khi các văn bản của Trung ương nói trên có hiệu lực; căn cứ phạm vi chức năng quản lý nhà nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến công tác thực hiện thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 43/NQ-CP.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương kiểm tra, đôn đốc thực hiện và tổng hợp vướng mắc của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ trong quá trình thực thi các nhiệm vụ đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 43/NQ-CP; tổ chức sơ kết báo cáo Chính phủ vào cuối năm 2016 về tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 43/NQ-CP.

19/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 01 năm thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014Sơ kết 01 năm thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 15 tháng 8 năm 2014, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và đánh giá tình hình, kết ...

Ngày 15 tháng 8 năm 2014, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và đánh giá tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014.

Tại điểm cầu Bến Tre (Phòng họp trực tuyến của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh); có 35 đại biểu là đại diện cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của 19 sở, ban, ngành tỉnh và 9 huyện, thành phố tham dự hội nghị. Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.

Các đại biểu được nghe Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Đinh Trung Tụng phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị; đại diện lãnh đạo Cục Kiểm soát thủ thủ tục hành chính Báo cáo tóm tắt sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg và tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014; định hướng cải cách, nhiệm vụ cần tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 43/NQ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh và Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi (Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2014).

Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố cũng đã phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính như: Bộ, ngành chậm ban hành quyết định công bố thủ tục hành chính nên ảnh hưởng việc công bố, công khai và triển khai thực hiện quy định thủ tục hành chính tại địa phương; quy định thời hạn cho ý kiến thủ tục hành chính (kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính) là quá ngắn nên hầu hết các địa phương trong cả nước không đảm bảo thời gian quy định; biểu mẫu báo cáo thống kê liên quan đến hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính nhiều nhưng thực hiện bằng phương pháp thủ công nên mất rất nhiều thời gian cho nhiệm vụ này;...

Các địa phương đã kiến nghị Cục Kiểm soát thủ tục hành chính tham mưu, đề xuất Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung Thông tư số 05/2014/TT-BTP cho phù hợp thực tế và nghiên cứu xây dựng phần mềm hỗ trợ công tác báo cáo, thống kê hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính để áp dụng trong cả nước; cần định hướng về công tác truyền thông hỗ trợ hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính cho các địa phương;...

Đại điện lãnh đạo Cục kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp ghi nhận những ý kiến phản ánh, đề xuất, kiến nghị của địa phương, sẽ nghiên cứu giải pháp để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thời gian tới.

18/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chínhQuy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chính
Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấ...

Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh.

Về trách nhiệm phối hợp công bố TTHC:

Các sở, ban, ngành tỉnh: Là cơ quan đầu mối giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh trong việc công bố, niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực phụ trách ở các cấp trên địa bàn tỉnh; phải cập nhật kịp thời các văn bản của Trung ương và địa phương có quy định về TTHC, xây dựng dự thảo Quyết định công bố TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý ngành, lĩnh vực theo đúng quy định tại Điều 7 Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết TTHC và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát TTHC, gửi Sở Tư pháp kiểm soát chất lượng trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành. Trong hồ sơ trình Chủ tịch UBND tỉnh phải có văn bản góp ý của Sở Tư pháp; đồng thời, tờ trình ban hành Quyết định công bố phải có phần giải trình nội dung tiếp thu và không tiếp thu ý kiến của Sở Tư pháp; sau khi Quyết định được ban hành, chịu trách nhiệm gửi quyết định công bố TTHC cho Cục Kiểm soát TTHC, Sở Tư pháp (kèm tập tin điện tử), các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và các cơ quan có liên quan.


Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm soát về hình thức, nội dung dự thảo Quyết định công bố theo đúng quy định; nhập và gửi dữ liệu, hồ sơ đề nghị công khai về các TTHC và văn bản quy định về TTHC đã được công bố lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

UBND cấp huyện: Trường hợp phát hiện TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, cấp xã chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc công bố chưa đúng quy định, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo về UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) để chỉ đạo cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực kiểm tra, rà soát, công bố đầy đủ, chính xác theo quy định; chịu trách nhiệm sao gửi Quyết định công bố, tổ chức việc công khai tại địa phương và các cơ quan chuyên môn cấp huyện, UBND cấp xã đối với TTHC chung áp dụng tại cấp huyện, cấp xã đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

UBND cấp xã: Đề xuất với UBND cấp huyện kiến nghị với các sở, ban, ngành liên quan trong việc rà soát, cập nhật, công bố TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã; thực hiện công khai TTHC theo quy định và tổ chức thực hiện nghiêm túc trình tự, TTHC đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

Về trách nhiệm phối hợp niêm yết công khai TTHC:

Việc niêm yết công khai TTHC và nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thực hiện theo Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư số 05/2014/TT-BTP.

Các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC phải thực hiện niêm yết công khai, kịp thời, đầy đủ TTHC thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tại trụ sở cơ quan, đơn vị.

Cơ quan, tổ chức được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền ủy quyền thực hiện dịch vụ công niêm yết đầy đủ các TTHC được ủy quyền.

Các sở, ban, ngành tỉnh chịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn việc niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên địa bàn tỉnh. Tạo lập, duy trì đường kết nối giữa Cổng thông tin điện tử cơ quan, đơn vị (nếu có) với các TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm tạo lập Mục TTHC trên Trang thông tin điện tử của tỉnh, kết nối Mục này với các TTHC thực hiện tại địa bàn tỉnh Bến Tre trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện niêm yết công khai TTHC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; thường xuyên theo dõi các TTHC thực hiện tại tỉnh Bến Tre được công bố trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, đảm bảo các TTHC này luôn được cập nhật kịp thời.

Đồng thời, UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì theo dõi việc phối hợp thực hiện Quy chế công bố và niêm yết công khai TTHC trên địa bàn tỉnh.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thủ tục mua tài sản đấu giáThủ tục mua tài sản đấu giá
 Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều kiện của người tham gia đấu giá: Cá nhân phải có đủ năng lực hành vi dân sự (từ 18 tuổi trở lên) không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, Điều 23 của Bộ luật Dân sự; Tổ chức đủ tư cách pháp nhân được quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự.

Những người sau đây không được tham gia đấu giá tài sản:

Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Người làm việc trong tổ chức bán đấu giá tài sản, nơi thực hiện việc bán đấu giá tài sản đó, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó; người trực tiếp giám định, định giá tài sản, cha mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó.

Người được chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản; người ra quyết định tịch thu tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; người có thẩm quyền quyết định bán tài sản nhà nước; người ký hợp đồng thuê tổ chức bán đấu giá tài sản để bán đấu giá tài sản nhà nước; cá nhân, tổ chức có quyền bán tài sản của người khác theo qui định của pháp luật.

Người không có quyền mua tài sản bán đấu giá theo qui định của pháp luật, bao gồm: Người không được tham gia mua tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; người không đủ điều kiện tham gia mua tài sản đối với một số loại tài sản theo quy định của pháp luật về loại tài sản đó.

Người không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; người không thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thời gian đăng ký tham gia đấu giá: Người muốn tham gia đấu giá tài sản phải đăng ký mua tài sản trong thời hạn Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đã thông báo và nộp đủ số tiền đặt trước, phí đăng ký tham gia đấu giá tài sản.

Tổ chức bán đấu giá: Sau khi hết hạn đăng ký mua tài sản bán đấu giá, nếu chỉ có 01 khách hàng đăng ký mua tài sản thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ thông báo bằng điện thoại cho khách hàng biết, sau đó Trung tâm sẽ thông báo bằng văn bản cho Bên có tài sản bán đấu giá để quyết định việc bán tài sản, thời gian 03 ngày làm việc bên có tài sản phải có ý kiến phản hồi cho Trung tâm biết chấp nhận bán hay không để Trung tâm thông báo cho khách hàng đã đăng ký đến tiến hành các thủ tục tiếp theo; trường hợp tài sản có hai khách hàng đăng ký mua thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ tổ chức bán đấu giá theo thời gian, địa điểm đã ghi trong thông báo bán đấu giá. Cuộc bán đấu giá được tổ chức công khai và khách hàng phải trả giá theo bước giá được quy định trong Nội quy từng cuộc bán đấu giá, người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất.

Giao tài sản bán đấu giá cho người mua: Tài sản bán đấu giá sẽ được Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản phối hợp với bên có ký hợp đồng bán đấu giá tài sản giao cho người mua trong thời hạn 07 ngày làm việc sau khi người mua nộp đủ tiền đối với động sản và 30 ngày làm việc đối với bất động sản, trừ trường hợp phải cưỡng chế thi hành án thì thời gian kéo dài nhưng không quá 60 ngày làm việc.

Chuyển quyền sở hữu cho người mua: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ phối hợp bên ký hợp đồng bán đấu giá hỗ trợ các giấy tờ có liên quan để người mua trúng đấu giá làm thủ tục chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản theo đúng quy định pháp luật.

21/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đaiLuật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự c...

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp đất đai diễn biến rất phức tạp. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai ở một số địa phương vẫn chưa thật sự nhận được sự đồng tình của người dân, dẫn đến nhiều vụ việc phải giải quyết kéo dài, qua nhiều cấp khác nhau; nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa được thi hành.

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, đã mở rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi các bên sử dụng đất mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình sử dụng đất.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải trong trường hợp này là tự nguyện. Trong trường hợp “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” (Khoản 2 Điều 202) và đây là thủ tục hòa giải bắt buộc. Theo đó, tại Khoản 3, 4, 5 Điều 202 thì hòa giải theo thủ tục này được quy định như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác và Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định đối với việc tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì được giải quyết như sau:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đây là một quy định mới khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014.

Tại Khoản 3 Điều 203 quy định trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Đây cũng là một quy định mới theo Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, tại Điều 264.

Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều 203 phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình trợ giúp pháp lý tại trụ sởQuy trình trợ giúp pháp lý tại trụ sở


TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
QUY TRÌNH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TRỤ SỞ

Người soạn:



Nguyễn Thị Bích Lan Thu

Người kiểm tra:



Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:



Trần Lương Phổ


QUY TRÌNH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TRỤ SỞ


1. Mục đích:

Mục đích của trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý bao gồm người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Hiện người được trợ giúp pháp lý ngày càng mở rộng do đó cần phải có một thủ tục cụ thể trong hoạt động trợ giúp tránh tình trạng người được trợ giúp pháp lý phải chờ đợi lâu mới được trợ giúp pháp lý.

2. Phạm vi áp dụng:

Trợ giúp pháp lý tại trụ sở do các chuyên viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý thực hiện.

3. Quy trình trợ giúp pháp lý tại trụ sở

Trình tự

Nội dung công việc

Tài liệu áp dụng

Trách nhiệm

Thời gian

1

Tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý; kiểm tra điều kiện thụ lý

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.

Chuyên viên,


30 phút

2

Thụ lý hoặc từ chối thụ lý vụ việc

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Chuyên viên, Giám đốc

15 phút

3

Phân công người thực hiện TGPL

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Giám đốc,

Phó Giám đốc

5 – 10 phút

4

Thực hiện trợ giúp pháp lý ( ghi phiếu thực hiện TGPL)

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Chuyên viên,

Phó Giám đốc.

Giám đốc

Tuỳ theo vụ việc đơn giản hay phức tạp: từ 10 - 60 phút

5

Lưu hồ sơ vụ việc TGPL

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Chuyên viên

15 phút


4. Phụ lục:

Mẫu sổ trợ giúp pháp lý

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn