Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ
Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 12 tháng 6 năm 2014 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH quy định biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành... 
 
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền... 
 
Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB... 
 
Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.  
 
Hiện nay, do nhu cầu của thị trường mà hoạt động cho thuê lại lao động ngày càng diễn ra phổ biến và sôi nổi, nhiều doanh nghiệp trong nước đã áp dụng hình thức này để đáp ứng cho quá trình kinh doanh của mình. Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành thì hoạt động cho thuê lại lao động đã được diễn ra một cách tự phát mà vẫn chưa được quy định pháp luật điều chỉnh, Bộ luật Lao động n... 
 
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật; ngày 27/12/2013, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉ... 
 
Nhằm tập hợp và hệ thống hóa đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những văn bản, những quy phạm trái pháp luật, chồng chéo, mâu thuẩn hoặc không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, góp phần đảm bảo cho công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy b... 
 
Ngày 24 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (sau đây viết tắt là Quy định). Quy định này quy định về các tiêu chí tiếp cận pháp luật của người dân tại địa bàn xã, phường, thị trấn (sau đây viết tắt là tại cơ sở); việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng xã, phường,... 
 
Thời gian qua, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) trên địa bàn xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri đã đạt được một số kết quả tích cực. Nhận thức của người dân chấp hành pháp luật về giao thông được nâng lên, các vụ vi phạm giảm so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu vui cho xã An Ngãi Trung trong việc chấn chỉnh trật tự ATGT, đồng thời khẳng định công tác tuyên truyền đang ngày càng ... 
 
Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre: Ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013Bến Tre: Ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban...

Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 881/KH-UBND về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013.

Theo kế hoạch, việc tổ chức theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong năm 2013 sẽ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của địa phương. Trong đó, xác định lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi là “Việc thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai áp dụng tại cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre”. Theo đó các đơn vị, địa bàn tổ chức theo dõi bao gồm tất cả các sở, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh. Riêng đối với lĩnh vực trọng tâm thì Sở Tư pháp sẽ là cơ quan chủ trì và các đơn vị phối hợp, thực hiện gồm có: Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

Việc theo dõi thi hành pháp luật bao gồm 03 nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, là xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), cụ thể như: đánh giá về tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết; tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của văn bản.

Thứ hai, là xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật như: tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật; tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực, về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật.

Thứ ba, là xem xét, đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực thuộc phạm quản lý, bao gồm: tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Phương pháp theo dõi: Việc theo dõi sẽ được thực hiện thông qua báo cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thu thập các thông tin được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, thông tin do tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp và qua kết quả kiểm tra thực tế từ Đoàn Kiểm tra của tỉnh về việc thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai áp dụng tại cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn tỉnh (đối với lĩnh vực trọng tâm). Bên cạnh đó, UBND tỉnh còn giao cho các sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể lựa chọn phương pháp điều tra, khảo sát thông qua phiếu khảo sát, tọa đàm, phỏng vấn trực tiếp và các hình thức phù hợp khác để thu thập thông tin tùy vào điều kiện thực tế đơn vị, địa bàn mình.

UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện; tham mưu thành lập, tổ chức Đoàn Kiểm tra, tổng hợp kết quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, báo cáo về Bộ Tư pháp, Chính phủ. Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm để triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trong những năm tiếp theo./.

11/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát và kỹ năng tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến TreTập huấn nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát và kỹ năng tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới;...

Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới; thực hiện Kế hoạch số 2857/KH-UBND ngày 23/6/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh; ngày 15/8/2014, tại hội trường Thành uỷ thành phố Bến Tre, Ban An toàn giao thông tỉnh đã phối hợp cùng Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho trên 100 cán bộ, công an cấp xã trên địa bàn thành phố.


Tham dự lớp tập huấn các học viên đã được nghe báo cáo viên trình bày những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt; Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ quy định về việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết và các văn bản có liên quan; Nghị định số 93/2013/NĐ-CP ngày 20/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa; hướng dẫn kỹ năng tuyên tuyền pháp luật về an toàn giao thông…


Theo Kế hoạch, trong những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9/2014, Ban An toàn giao thông tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện tổ chức 09 lớp tập huấn cho lực lượng công an, cán bộ cấp xã tham gia công tác đảm bảo trật tự - an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.

18/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”Sở Tư pháp phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”
Ngày 21/11/2012, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1881/KH-STP về phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” từ năm 2012 đến năm 2020.

 

Ngày 21/11/2012, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1881/KH-STP về phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” từ năm 2012 đến năm 2020.

Kế hoạch nêu rõ những vấn đề cần tập trung: Tham gia xây dựng 100% các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được giao; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh phong trào xây dựng và thực hiện Quy ước ở các ấp, khu phố... trên địa bàn cấp xã ở nông thôn, phát huy ý thức tự quản, tăng cường đoàn kết, chấp hành tốt pháp luật, phát huy phong tục tập quán, truyền thống, đạo đức tốt đẹp của các cộng đồng dân cư ở nông thôn; nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoà giải ở cơ sở; giải quyết kịp thời và dứt điểm những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật nhỏ trong các ấp, khu phố…góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cơ sở; tăng chỉ tiêu đăng ký khai sinh cho trẻ em; Hoạt động công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm, công tác luật sư đáp ứng kịp thời các nhu cầu của người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; Tăng cường củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành bằng pháp luật của chính quyền cấp xã; phấn đấu đến năm 2015, 100% cấp xã loại 1 và loại 2 có từ 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch trở lên và trên 90% công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã đạt trình độ trung cấp luật trở lên và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, theo Kế hoạch thì Phòng Tư pháp các huyện, thành phố có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động xây dựng xã nông thôn mới thuộc phạm vi, lĩnh vực mình quản lý trên địa bàn cấp huyện và xã.

 

03/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Báo cáo kết quả công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014Báo cáo kết quả công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014
Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau:

Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau:

1. Xây dựng Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện nhiệm vụ tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong 06 tháng cuối năm 2014. Nội dung báo cáo cần đánh giá khái quát về đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực hiện công tác tư pháp tại địa phương mình.

Đối với từng lĩnh vực công tác, cần đánh giá chung về những kết quả đạt được, đồng thời đánh giá sâu những kết quả nổi bật, mô hình hiệu quả, có tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; những mặt còn hạn chế, nguyên nhân và hướng khắc phục hạn chế, tồn tại đó trong thời gian tới, cụ thể:

- Đánh giá những kết quả công việc đã hoàn thành, có so sánh với 06 tháng đầu năm 2013 (kèm theo số liệu, dẫn chứng cụ thể).

- Những cách làm mới, hiệu quả.

- Những hạn chế, vướng mắc, những “điểm nghẽn” trong việc thực hiện nhiệm vụ; phân tích sâu nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó như: Do cơ chế, chính sách, công tác chỉ đạo, điều hành của địa phương mình, tổ chức bộ máy, con người, quan hệ phối hợp trong công tác, cơ sở vật chất... đồng thời nêu rõ giải pháp đã chủ động áp dụng nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc đó.

- Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thực hiện công tác tư pháp trong 06 tháng cuối năm 2014 ở từng lĩnh vực công tác của địa phương mình; giải quyết những “điểm nghẽn” để thực hiện hoàn thành kế hoạch năm 2014.

2. Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014 của đơn vị, yêu cầu gửi về Văn phòng Sở bằng văn bản giấy và file điện tử (theo địa chỉ: stpbentre@moj.gov.vn) trước 11 giờ ngày 26 tháng 4 năm 2014.

Công văn số 624/STP-VP v/v báo cáo công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014


23/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Di chúc và hiệu lực của di chúcDi chúc và hiệu lực của di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, không phải cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc, theo quy định tại Điều 647 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ những người sau đây mới được quyền lập di chúc: Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận t...

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, không phải cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc, theo quy định tại Điều 647 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ những người sau đây mới được quyền lập di chúc: Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 652 của Bộ luật Dân sự. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.

Di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.

Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chínhHoàn thiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính
Nhằm thực hiện tốt Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; đồng thời đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh đượ...

Nhằm thực hiện tốt Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; đồng thời đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh được thực hiện thống nhất và đúng trình tự, thủ tục theo quy định mới, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh; ngày 1 tháng 8 năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Theo Quyết định sửa đổi, bổ sung thì căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo hoặc Ban soạn thảo (sau đây gọi tắt là cơ quan soạn thảo) tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Trường hợp, dự thảo văn bản có quy định về thủ tục hành chính thì phải gửi lấy ý kiến của Sở Tư pháp về thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản đó (thay vì trước đây phải gửi lấy ý kiến của Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh).

Đồng thời, ngoài thành phần hồ sơ gửi thẩm định được quy định trong Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND, đối với các dự thảo văn bản có quy định về thủ tục hành chính, cơ quan gửi thẩm định phải có thêm bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính theo quy định. Trong quá trình thẩm định đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có quy định về thủ tục hành chính, cơ quan thẩm định phải bổ sung thêm trong Báo cáo thẩm định phần kết quả thẩm định về thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản đó.

Cũng theo Quyết định sửa đổi, bổ sung thì Sở Tư pháp sẽ không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính chưa có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và ý kiến góp ý của Sở Tư pháp về thủ tục hành chính quy định trong dự thảo đó.

Quyết định này có hiệu lực sau 10 (mười) ngày kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 24/2011/QĐ-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

09/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định của pháp luật xử lý hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồngQuy định của pháp luật xử lý hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
 Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình quy định cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, c...

 

Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình quy định cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Người nào có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi:

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng;

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng.

Về hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khác là buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật đối với trường hợp vi phạm.

* Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định Điều 147 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì: Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Theo hướng dẫn tại khoản 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì:

Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...

Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...

+ Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Hình sự  mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 Bộ luật Hình sự.

20/08/2012 12:00 SAĐã ban hành
Những điểm mới của Luật Công chứng năm 2014Những điểm mới của Luật Công chứng năm 2014
Ngày 20 tháng 7 năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng, thay thế Luật Công chứng năm 2006 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng năm 2014 có 10 chương và 81 điều, trong đó có nhiều quy định đáng chú ý như mở rộng phạm vi công chứng; tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên, về tổ chức hành nghề công chứng,…

Ngày 20 tháng 7 năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng, thay thế Luật Công chứng năm 2006 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng năm 2014 có 10 chương và 81 điều, trong đó có nhiều quy định đáng chú ý như mở rộng phạm vi công chứng; tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên, về tổ chức hành nghề công chứng,…Cụ thể như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2, Điều 61, Điều 77 Luật Công chứng năm 2014 công chứng viên ngoài việc chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch còn chứng nhận cả bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại. Bên cạnh đó, công chứng viên cũng được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản; việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Về công chứng viên cũng có điểm mới, Luật Công chứng năm 2014 quy định rõ hơn về địa vị pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của công chứng viên. Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên, Luật Công chứng quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn công chứng viên, quy định thời gian đào tạo nghề công chứng là mười hai tháng; quy định người được miễn đào tạo nghề công chứng phải tham gia khóa bồi dưỡng với thời gian là 03 tháng trước khi đề nghị bổ nhiệm, được giảm một nửa thời gian tập sự và cũng phải tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; bổ sung quy định về bổ nhiệm lại; bổ sung một số quyền và nghĩa vụ đối với công chứng viên.

Về tổ chức hành nghề công chứng, theo quy định tại Điều 22 Luật Công chứng năm 2014 thì Văn phòng công chứng phải do hai công chứng viên trở lên thành lập, được tổ chức và hoạt động hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Tên gọi của Văn phòng được đặt theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫm với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Bên cạnh đó, Luật Công chứng năm 2014 còn quy định rất cụ thể về việc Văn phòng công chứng có quyền thuê công chứng viên làm việc theo hợp đồng, được chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập, thay đổi thành viên hợp danh…. Tổ chức hành nghề công chứng có quyền cung cấp dịch vụ công chứng ngoài ngày, giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước, có quyền ký hợp đồng với công chứng viên….. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên là loại hình bảo hiểm bắt buộc…

Ngoài những quy định trên, Luật Công chứng năm 2014 cũng đã bổ sung nhiều quy định mới như nguyên tắc hành nghề, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị giao ban sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014Hội nghị giao ban sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014
Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.

Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.

Qua hơn 02 tháng triển khai thực hiện chiến dịch (từ 01/6/2014 -7/8/2014), đến nay đã đạt nhiều kết quả rất quan trọng; đã có 13 trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (731 chiến sĩ) và 05 đội hình chuyên của tỉnh (778 chiến sĩ), với trên 3.000 lực lượng đối ứng tham gia; trong đó, có 10/13 đơn vị trường và 03 đội hình chuyên đã kết thúc hoạt động.

Tại lễ ra quân, Ban Chỉ đạo tỉnh đã trao 11.100 bao xi măng, kinh phí xây dựng 4 căn nhà tình nghĩa, 400 xuất khám chữa bệnh cho nhân dân trị giá 60 triệu đồng, 02 khu vui chơi thiếu nhi trị giá 60 triệu đồng; sau lễ ra quân, tại xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, có trên 1.000 lực lượng tham gia trồng 600 cây xanh trên tuyến đường dài 1km, đổ bê tông lộ giao thông nông thôn xã dài 300mx1m.


Trong quá trình thực hiện Chiến dịch, đã triển khai nhiều hoạt động, với nhiều việc làm thiết thực, như: tham gia xây dựng Nông thôn mới, xây dựng mới các tuyến lộ liên tổ, liên ấp dài 16,9 km; tu sửa dặm vá, phát hoang dài 68,4 km; xây dựng mới 03 cầu bê tông, trị giá 160 triệu đồng; xây dựng 14 căn nhà tình thương trị giá 317 triệu đồng, 05 căn nhà tình nghĩa trị giá 200 triệu đồng, 03 nhà tình bạn trị giá 60 triệu đồng, 03 nhà Khăn quàng đỏ trị giá 75 triệu đồng, 02 nhà Nhân ái trị giá 30 triệu đồng;

Tham gia trồng, chăm sóc hoa, cây xanh; thu gom rác thải, xây dựng vỉa hè, tuyến đường văn minh, khu chợ sạch đẹp, xóa các quảng cáo, rao vặt trái phép; thực hiện công trình thấp sáng dài 6 km, lắp đặt 22 trụ, gần 200 bóng đèn, kinh phí trên 150 triệu đồng;

Tham gia phổ biến pháp luật về an toàn giao thông có trên 51 nghìn lượt đoàn viên, thanh niên, học sinh tham dự; tham gia đội Thanh niên xung kích, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, lấn chiếm lòng, lề đường, giúp cơ quan chức năng phát hiện trên 2.000 trường hợp vi phạm, xử lý trên 268 triệu đồng.

Hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hiến máu tình nguyện, đã vận động đoàn viên, thanh niên tham gia hiến 1.029 đơn vị máu. Phối hợp Bệnh viện Y học Cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tổ chức khám bệnh, tặng quà và cấp thuốc miễn phí cho 187 người nghèo, người khuyết tật, trị giá 20 triệu đồng và tặng 20 phần quà cho người khuyết tật trị giá mỗi phần 100 nghìn đồng.


Tham gia phối hợp củng cố, nâng chất hoạt động các Đội thanh niên xung kích an ninh, Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật, tổ chức tuyên truyền trên 1.100 cuộc, có trên 45 nghìn đoàn viên, thanh niên tham gia; tổ chức tuyên truyền biển, đảo; phát động góp quỹ “Vì Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu- vì tuyến đầu Tổ quốc”, “Chung sức bảo vệ chủ quyền biển Đông” gần 52 triệu đồng, hỗ trợ ngư dân và lực lượng làm nhiệm vụ gần 14 triệu đồng; tiếp nhận, cảm hóa, giáo dục 154 thanh niên chậm tiến, có dấu hiệu vi phạm pháp luật; các đội hình “ Hành quân xanh”, “Luật gia trẻ” tham gia hoạt động tích cực và đạt một số kết quả.

Tham gia hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa, “Uống nước nhớ nguồn”, đã tổ chức thăm và tặng quà cho 2.242 hộ gia đình chính sách, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, giá trị  2,26 tỷ đồng; tổ chức chăm sóc, chỉnh trang, trồng cây xanh các nghĩa trang, đền thờ liệt sĩ, khu di tích lịch sữ, “Thắp nến tri ân”, thả đèn hoa; tổ chức văn nghệ “Chủ đề Thanh niên tình nguyện”;

Ngoài ra, trong thời gian diễn ra Chiến dịch; đã tham gia các hoạt động hỗ trợ, tư vấn nghề nghiệp và việc làm cho thanh niên; bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tay, dịch bệnh; tham gia hoạt động củng cố tổ chức Đoàn, Hội, Đội.

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh Nguyễn Thị Hồng Nhung đánh giá cao kết quả phối hợp triển khai thực hiện Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 và các hoạt động kỷ niệm 15 năm phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre; bà Nguyễn Thị Hồng Nhung lưu ý thời gian còn lại của Chiến dịch cần tập trung tiếp tục thực hiện các công trình, phần việc còn lại, tham gia xây dựng Nông thôn mới và Văn minh đô thị; thực hiện tốt “Ngày thứ bảy tình nguyện” và “Ngày Chủ nhật xanh”, tiếp tục tổ chức các hoạt động hiến máu tình nguyện, khám chữa bệnh cho các gia đình chính sách, tư vấn, giới thiệu việc làm; đặc biệt là tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre, tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014; các địa phương cần quan tâm, phối hợp, lãnh đạo, chỉ đạo, huy động các nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở, vật chất) để thực hiện có kết quả và hiệu quả Chiến dịch; đặc biệt phải chú ý đến sức khỏe, an toàn của các chiến sĩ tham gia Chiến dịch.

11/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trúNghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu...

Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp; thời hạn đăng ký thường trú, điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 của Nghị định số 31/2014/NĐ-CP thì nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Và chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

Và chỗ ở hợp pháp theo Nghị định số 31/2014/NĐ-CP bao gồm: Nhà ở;  tàu, thuyền, phương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân; nhà khác nhưng được sử dụng nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ; giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó); hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn...

Trong đó đáng chú ý là quy định về điều kiện công dân tạm trú được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc trung ương. Có thời gian tạm trú liên tục tại thành phố trực thuộc trung ương từ một năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương; từ hai năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương; trường hợp tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở khác nhau thì thời gian tạm trú liên tục được tính bằng tổng thời gian tạm trú tại các chỗ ở đó. Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Cũng theo Nghị định này, trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới và có đủ điều kiện đăng ký thường trú, người thay đổi chỗ ở hợp pháp hoặc đại diện hộ gia đình phải làm thủ tục đăng ký thường trú tại chỗ ở mới.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/06/2014 và thay thế Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú; Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoàiQuy định về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
Ngày 28/03/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đinh về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2013.

Ngày 28/03/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đinh về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2013.

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam; nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam;

Nghị định này quy định việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài; công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài; ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Trong đó, đối với việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, chỉ cần một bên nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam hoặc cơ quan đại diện nếu đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam cũng được rút xuống 25 ngày làm việc, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí; trường hợp cần xác minh của cơ quan công an thì thời hạn được kéo dài không quá 10 ngày làm việc.

Tương tự, thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện cũng được rút xuống còn không quá 20 ngày, kể từ ngày cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí; trường hợp cần cơ quan trong nước xác minh thì thời hạn kéo dài không quá 35 ngày.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ việc đăng ký kết hôn bị từ chối, nếu kết quả phỏng vấn, thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời; kết hôn giả tạo; lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích mua bán người, bóc lột sức lao động…

Đồng thời, Nghị định còn quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới

Ngoài ra, Chính phủ cũng miễn phí việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con nuôi có yếu tố nước ngoài tại khu vực biên giới.

15/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtPhát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

 

 

Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành phải qua thẩm định của Sở Tư pháp. Xuất phát từ nhiệm vụ trên, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Hiện tại, Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có 03 biên chế, gồm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và chuyên viên (01 thạc sĩ luật, 02 cử nhân luật - trong đó 01 đang học cao học luật). Từ khi được thành lập cho đến nay, Phòng đã thẩm định 755 văn bản quy phạm pháp luật và tham gia xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác của tỉnh. Hầu hết, các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được Phòng thẩm định đều đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với kết quả trên, vị trí và vai trò của Phòng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được khẳng định, nhiều năm liền được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen tập thể lao động xuất sắc, đặc biệt trong năm 2013 Phòng vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, để đạt được những thành tựu nêu trên là do sự nỗ lực, phấn đấu của tập thể Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tư pháp, đồng thời công tác thẩm định luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong quá trình hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và được các cấp, các ngành của tỉnh quan tâm thích đáng. Nhiều cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật không còn coi việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật chỉ là một thủ tục luật bắt phải làm, không còn thái độ kiểu đối phó khi gửi hồ sơ sang Sở Tư pháp để thẩm định.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, nhiệm vụ của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều và nặng nề hơn, trong đó công tác xây dựng pháp luật luôn được xem là nhiệm vụ trọng yếu trong các thời kỳ. Ngành Tư pháp tỉnh, nhất là Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã có những thành tựu đáng ghi nhận trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, góp phần quan trọng vào sự phát triển của Ngành và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Khai trương Văn phòng công chứng Thạnh phú Khai trương Văn phòng công chứng Thạnh phú
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.


Văn phòng công chứng Thạnh Phú do Công chứng viên Nguyễn Văn Mộng làm Trưởng Văn phòng, được thành lập theo Quyết định 905/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động số 09/TP- ĐKHĐ ngày 23 tháng 5 năm 2014. Văn phòng công chứng Thạnh Phú có chức năng, thực hiện công chứng các loại hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại; công chứng di chúc, khai nhận di sản thừa kế… theo quy định của Luật Công chứng.

Đây là Văn phòng Công chứng thứ 08 được thành lập, đưa tổng số tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre lên 09 tổ chức; hoàn thành trên 90 %  lộ trình quy hoạch phát triển các văn phòng công chứng của tỉnh giai đoạn 2010-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.


Phát biểu tại buổi lễ khai trương, ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã khẳng định việc thành lập Văn phòng Công chứng trên địa bàn huyện Thạnh Phú là cần thiết, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự của cá nhân, tổ chức, hạn chế, phòng ngừa tranh chấp phát sinh. Đồng thời, yêu cầu Công chứng viên, nhân viên Văn phòng Công chứng Thạnh Phú tích cực nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; có tinh thần, thái độ cởi mở trong hoạt động, phục vụ tốt yêu cầu công chứng trên địa bàn huyện.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Địa phương chưa thể in được mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôiĐịa phương chưa thể in được mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi
Ngày 27 tháng 6 năm 2011, Bộ Tư pháp ban hành Thông Tư số 12/2011/TT-BTP về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi. Thông Tư số 12/2011/TT-BTP quy định việc ban hành các loại biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; đối tượng sử dụng, thẩm quyền in, phát hành, cách ghi chép biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; cách thức khó...

Ngày 27 tháng 6 năm 2011, Bộ Tư pháp ban hành Thông Tư số 12/2011/TT-BTP về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi. Thông Tư số 12/2011/TT-BTP quy định việc ban hành các loại biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; đối tượng sử dụng, thẩm quyền in, phát hành, cách ghi chép biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; cách thức khóa Sổ và lưu trữ Sổ đăng ký nuôi con nuôi.
Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2011. Điều 3 Thông Tư số 12/2011/TT-BTP ban hành 26 loại biểu mẫu và 01 loại Sổ đăng ký nuôi con nuôi, theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 4 của Thông tư số 12/2011/TT-BTP, Sở Tư pháp in và phát hành một loại sổ là Sổ đăng ký nuôi con nuôi và một loại mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) tại số thứ tự 01 và số thứ tự 02 Mục I theo danh mục quy định tại Điều 3 của Thông tư số 12/2011/TT-BTP. Đồng thời tại Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 12/2011/TT-BTP cũng có hướng dẫn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) được in màu, có họa tiết hoa văn. Tuy nhiên, Thông tư số 12/2011/TT-BTP không có hướng dẫn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) được in màu gì, có họa tiết hoa văn như thế nào. Như vậy, do không có quy định cụ thể về màu sắc và họa tiết hoa văn của mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) sẽ dẫn đến tình trạng sau khi Thông tư số 12/2011/TT-BTP có hiệu lực, mỗi tỉnh sẽ tổ chức in mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) có màu sắc và họa tiết hoa văn khác nhau, tạo ra sự không thống nhất trong biểu mẫu. Từ việc không thống nhất trong màu sắc, họa tiết hoa văn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) sẽ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân khi sử dụng Giấy chứng nhận nuôi con nuôi đã được cấp, vì cơ quan tiếp nhận Giấy chứng nhận nuôi con nuôi khó khăn trong xác định được mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi nào là chính thức và hợp lệ.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương sớm tổ chức in mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã), kịp thời đăng ký các trường hợp nuôi con nuôi phát sinh tại địa phương sau khi Thông tư số 12/2011/TT-BTP có hiệu lực thi hành vào ngày 15 tháng 8 năm 2011 và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi sử dụng mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, thiết nghĩ Bộ Tư pháp nên sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể màu sắc, họa tiết hoa văn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã).

 

19/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước
Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 7, Ngày 17 tháng 6 năm 2010. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật Nuôi con nuôi được xây dựng trên quan điểm xuyên suốt là bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, bảo đảm việc cho trẻ em làm con nuôi được thực hiện trên tinh thần n...
Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 7, Ngày 17 tháng 6 năm 2010. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật Nuôi con nuôi được xây dựng trên quan điểm xuyên suốt là bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, bảo đảm việc cho trẻ em làm con nuôi được thực hiện trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ, minh bạch, góp phần đấu tranh phòng chống hiện tượng mua bán trẻ em làm con nuôi hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi. Lần đầu tiên, pháp luật nước ta đã điều chỉnh thống nhất vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong một Luật, trong đó có biện pháp bảo đảm tăng cường giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu xếp được cho trẻ em làm con nuôi trong nước. Đây cũng chính là một trong những Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 4 Luật Nuôi con nuôi, đó là “Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước”.
Đây cũng là nguyên tắc quan trọng được thừa nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế. Lời nói đầu của Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh cực con nuôi quốc tế ghi nhận “Công nhận rằng, nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế là đem lại mái ấm gia đình lâu dài cho trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình”, và “Nhắc lại rằng, mỗi nước cần ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”.
Xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em, nếu việc nuôi dưỡng trong phạm vi gia đình không thể thực hiện được thì mới tính đến các biện pháp chăm sóc thay thế ở trong nước, trong đó có việc nuôi con nuôi. Chỉ sau khi đã xem xét thỏa đáng các giải pháp trong nước mà vẫn không tìm được mái ấm gia đình cho trẻ thì mới tính đến việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Để thực hiện nguyên tắc này, Điều 15 Luật Nuôi con nuôi đã quy định hết sức đầy đủ và cụ thể về trách nhiệm, thủ tục về việc tìm gia đình thay thế trong nước, nhằm bảo đảm trẻ em có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước. Việc tìm gia đình thay thế trong nước được thực hiện ở 3 cấp (xã, tỉnh, trung ương) trong thời hạn 150 ngày (đối với trẻ em bị bỏ rơi, kể cả thời gian tìm thân nhân cho trẻ theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch) hoặc 180 ngày (đối với trường hợp trẻ em mồ côi hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ nhưng cha mẹ đẻ không có điều kiện nuôi dưỡng). Nếu hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận làm con nuôi, thì trẻ em mới được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài.
Ngoài ra, Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi còn quy định, nếu hết thời hạn nêu trên, trẻ em đang được xem xét để giới thiệu cho làm con nuôi người nước ngoài nhưng Sở Tư pháp chưa giới thiệu cho người xin con nuôi cụ thể nào đó, mà có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì vẫn được xem xét giải quyết. Tại Điều 16 Luật Nuôi con nuôi còn quy định công dân trong nước có nhu cầu và nguyện vọng nhận trẻ em làm con nuôi mà chưa xác định được trẻ em cần nhận làm con nuôi, thì có thể đăng ký nhu cầu với Sở Tư pháp nơi thường trú, nếu có trẻ em để giới thiệu thì Sở Tư pháp giới thiệu người đó đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú để xem xét giải quyết. Đây là biện pháp tích cực nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi trong nước, bảo đảm trẻ em có cơ hội tìm được mái ấm gia đình thay thế ngay trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo quy định Luật Nuôi con nuôi thì không phải mọi trường hợp đều phải thực hiện lần lượt theo thứ tự tìm gia đình thay thế trong nước sau đó mới tìm gia đình thay thế ở nước ngoài. Ở đây có một quy định mang tính chất ngoại lệ so với những trường hợp tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh bình thường là trong những trường hợp đặc biệt, khi lợi ích tốt nhất của trẻ em đòi hỏi và chỉ có thể có được khi cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài, chẳng hạn trường hợp đoàn tụ gia đình (làm con nuôi của người có quan hệ họ hàng hoặc của cha dượng/mẹ kế ở nước ngoài); trường hợp trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo mà người trong nước không đủ điều kiện để nhận nuôi hoặc trường họp trẻ em đã lớn tuổi không có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước. Đối với những trường hợp này, pháp luật cho phép không cần tiến hành biện pháp tìm gia đình thay thế trong nước mà ưu tiên giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài theo thủ tục nhận con nuôi đích danh.                                                       

15/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”Triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”
Những năm qua, công tác chăm sóc, bảo vệ, phòng ngừa, can thiệp, trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bạo lực, và những trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực ngày càng được chú trọng hơn. Tuy nhiên, tình trạng ngược đãi, xâm hại, bạo lực trẻ em diễn biến phức tạp, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.

Những năm qua, công tác chăm sóc, bảo vệ, phòng ngừa, can thiệp, trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bạo lực, và những trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực ngày càng được chú trọng hơn. Tuy nhiên, tình trạng ngược đãi, xâm hại, bạo lực trẻ em diễn biến phức tạp, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.

Từ năm 2008 đến 2010, cả nước có khoảng 3.000 - 4.000 vụ bạo lực trẻ em. Trẻ em bị chính cha mẹ, người thân, thầy cô giáo và những người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc có hành vi xâm hại, bạo lực. Bạo lực học đường liên tiếp xảy ra khi thầy cô giáo sử dụng biện pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh; đồng thời cũng có hiện tượng học sinh hành hung thầy cô giáo, học sinh đánh học sinh gây thương tích, thậm chí dẫn đến tử vong.

Từ năm 2006 đến 2011, cả nước có khoảng 5.600 vụ lạm dụng tình dục trẻ em bị phát hiện. Trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 1.000 vụ, trong đó số vụ hiếp dâm trẻ em chiếm 65,9% số vụ xâm hại tình dục trẻ em. Tính chất của các vụ xâm hại tình dục trẻ em ngày càng nghiêm trọng, báo động về sự suy đồi đạo đức. Ngoài ra, còn xuất hiện nhiều hình thức mới, như: xâm hại tình dục trẻ em nam, đối tượng xâm hại không chỉ là người Việt Nam mà đã xuất hiện đối tượng phạm tội là người nước ngoài...

Tại Bến Tre, năm 2013, phát hiện xảy ra 465 vụ. Trong đó, bạo lực tinh thần 222 vụ, bạo lực thân thể 174 vụ, bạo lực kinh tế 58 vụ, bạo lực tình dục 11 vụ. Người gây bạo lực gia đình đa phần là nam giới và người bị bạo lực thường là những người yếu thế trong gia đình như phụ nữ, trẻ em, người già. Biện pháp xử lý người gây bạo lực gia đình cũng được chính quyền địa phương, các ngành chức năng và cộng đồng dân cư thực hiện qua các hình thức: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư 290 vụ; áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc 03 vụ; áp dụng các biện pháp giáo dục 61 vụ; tạm giữ, xử phạt hành chính 27 vụ và xử lý hình sự 02 vụ.

Để thúc đẩy sự quan tâm của toàn xã hội đối với trẻ em, góp phần giảm thiểu trẻ em bị xâm hại, bạo lực về thể chất, tinh thần, đảm bảo cho mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và phát triển toàn diện; nâng cao nhận thức của mọi người trong phòng, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình. Tiếp nối Tháng hành động vì trẻ em "Hành động vì một xã hội không bạo lực, không xâm hại trẻ em" cũng là chủ đề của Tháng hành động vì trẻ em, phối hợp triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”; Ủy ban nhân dân tỉnh yêu các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung thực hiện lồng ghép nội dung triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em” trong chương trình phát động Tháng hành động vì trẻ em năm 2014 từ tỉnh đến cơ sở;

Tổ chức các diễn đàn đối thoại, tọa đàm, các buổi truyền thông cộng đồng, truyền thông lưu động để đưa ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả; nhằm ngăn ngừa và hạn chế tối đa tình trạng trẻ em bị xâm hại, bạo lực;

Các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình tăng cường công tác tuyên truyền chiến dịch “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”; nhằm nâng cao nhận thức của mọi người dân về trách nhiệm phòng, chống xâm hại, bạo lực trẻ em; thông báo, tố cáo hành vi xâm hại, bạo lực trẻ em cho cơ quan chức năng;

Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tổ chức triển khai chiến dịch truyền thông“Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”.

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em. Phát triển các dịch vụ bảo vệ trẻ em để sẵn sàng tiếp nhận thông báo, tố cáo và hỗ trợ, can thiệp kịp thời các trường hợp trẻ em bị xâm hại, bạo lực. Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng về phòng, chống bạo lực trẻ em cho trẻ em, cha mẹ và đội ngũ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp tổ chức chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em” năm 2014.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức tốt chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em” phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tệ nạn ma túy ngày càng diễn biến phức tạpTệ nạn ma túy ngày càng diễn biến phức tạp
Thời gian qua, công tác phòng, chống ma túy được các cấp ủy đảng, chính quyền phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp và đạt nhiều kết quả tích cực; góp phần kiềm chế tội phạm và tệ nạn ma túy, nhất là ở các địa bàn trọng điểm; số vụ bị phát hiện, bắt giữ, thu giữ ngày càng tăng, nhiều đường dây mua bán, vận chuyển ma...

Thời gian qua, công tác phòng, chống ma túy được các cấp ủy đảng, chính quyền phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp và đạt nhiều kết quả tích cực; góp phần kiềm chế tội phạm và tệ nạn ma túy, nhất là ở các địa bàn trọng điểm; số vụ bị phát hiện, bắt giữ, thu giữ ngày càng tăng, nhiều đường dây mua bán, vận chuyển ma túy lớn ở phạm vi toàn quốc bị phát hiện, bóc gỡ.

Tình hình mua, bán ma túy trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng có nhiều diễn biến phức tạp, số người nghiện ma túy ngày càng gia tăng: năm 2008 có 255 người, năm 2010 có 294 người, năm 2012 là 485 người, từ đầu năm đến nay, lực lượng chức năng đã triệt phá, đấu tranh làm rõ 25 vụ.

Trong đó, người nghiện ma túy nhiều nhất ở lứa tuổi từ 16 đến 30 tuổi; đối tượng phần lớn không có nghề nghiệp ổn định, trong đó có con cán bộ, đảng viên; sử dụng nhiều nhất là Hêrôin, ma túy tổng hợp.

Về địa bàn có người nghiện ma túy nhiều nhất là thành phố Bến Tre, Châu Thành, Mỏ Cày Nam, Bình Đại….

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Tháng hành động phòng, chống ma túy (từ 01/6 đến 30/6/2014) theo Công văn chỉ đạo số 698/TTg-KGVX ngày 15/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị các ngành, địa phương tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Đẩy mạnh và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống ma túy; tác hại của ma túy nói chung và ma túy tổng hợp; các chất hướng thần mới, chất tân dược gây nghiệm; chủ trương đổi mới công tác cai nghiện và mở rộng mô hình điều trị thay thế bằng Methadone, nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức, hành động và nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, gia đình, cộng đồng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh tội phạm ma túy, hỗ trợ cai nghiện và giúp đỡ người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.

Tổ chức các cuộc mít tinh, ra quân biểu dương lực lượng, kết hợp với hoạt động tuyên truyền trên hệ thống truyền thông tại cộng đồng  nhằm tạo phong trào toàn dân phòng, chống ma túy. Các sở, ban, ngành, đoàn thể, trường học…treo khẩu hiệu “Nhiệt liệt hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy” tại cổng trụ sở, cơ quan.

Chỉ đạo tổ chức các hoạt động tuyên truyền tập trung ở cơ sở thông qua các thiết chế văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các hình thức giao lưu, nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ…nhằm đưa hoạt động tuyền truyền phòng, chống ma túy đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Các Sở Thông tin và truyền thông; Giáo dục và Đào tạo; Văn hóa, Thể dục và Du lịch chỉ đạo theo hệ thống dọc, tăng cường công tác tuyên truyền, tập trung vào các đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên với nội dung nhấn mạnh tính nguy hại của ma túy tổng hợp, đặc biệt là “ma túy đá”, lồng ghép các hoạt động thể thao, văn hóa, sáng tác, hội thảo chuyên đề, truyền thông qua mạng internet…

Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Đồng Khởi, các cơ quan thông tấn, báo chí đóng trên địa bàn, Đài Truyền thanh các huyện, thành phố tăng cường đưa tin, bài, phóng sự có nội dung phòng, chống ma túy, tạo phong trào sâu rộng hưởng ứng Ngày Quốc tế và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy 26/6; kịp thời biểu dương người tốt, việc tốt trong công tác đấu tranh phòng, chống ma túy; công tác cai nghiện, quản lý, giúp đỡ sau cai nghiện; vận động, xóa bỏ trồng cây có chứa chất ma túy.

Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, công an các huyện, thành phố, tăng cường công tác nắm tình hình, mở cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm về ma túy; tập trung xử lý các tụ điểm phức tạp; nâng cao hiệu quả công tác điều tra, khám phá các vụ buôn bán, vận chuyển ma túy, xóa bỏ các tụ điểm tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy.

Sở Công thương chủ trì phối hợp với Công an tỉnh, Sở Y tế tăng cường kiểm tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ các chất gây nghiện, chất hướng thần; ngăn chặn có hiệu quả không để tội phạm sử dụng tiền chất, nhất là từ nguồn dược phẩm để sản xuất ma túy.

Sở Y tế phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố khẩn trưởng triển khai áp dụng chương trình điều trị thay thế các dạng thuốc phiện bằng Methadone; tổ chức kiểm tra, quản lý việc mua bán, sử dụng, cấp phát các loại thuốc tân dược có chất gây nghiện, chất hướng thần, các loại tiền chất dùng trong y học tại các bệnh viện, cơ sở y tế, nhà thuốc…

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp các ngành liên quan thực hiện có hiệu quả công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phối hợp tuyên truyền, vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên, nhân dân, nhất là đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên tham gia phòng, chống ma túy.

Các cơ quan Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh chỉ đạo hệ thống tòa án, kiểm sát cấp huyện kịp thời đưa ra xét xử các vụ án ma túy; tằng cường xét xử lưu động ở các địa bàn phức tạp.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố khẩn trưởng chỉ đạo mở đợt cao điểm phòng, chống ma trúy trên địa bàn huyện, thành phố.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cá ảo tiền thậtCá ảo tiền thật
Nơi tôi ở là một dãy phố có rất nhiều cửa hàng mua bán đông đúc. Tuy nhiên, cả tháng nay có một sự việc lạ xảy ra là người mua thì vẫn đến mua hàng nhưng người bán thì đã lơ là việc bán buôn. Một số cửa hàng thì người mua cứ đứng kêu chủ hàng ra bán nhưng lâu thật lâu mới thấy chủ hàng về bán hoặc người mua đợi lâu quá họ tự đi nơi khác để mua hàng. Chắc hẳn mọi người đang thắc mắc tại sao chủ...

Nơi tôi ở là một dãy phố có rất nhiều cửa hàng mua bán đông đúc. Tuy nhiên, cả tháng nay có một sự việc lạ xảy ra là người mua thì vẫn đến mua hàng nhưng người bán thì đã lơ là việc bán buôn. Một số cửa hàng thì người mua cứ đứng kêu chủ hàng ra bán nhưng lâu thật lâu mới thấy chủ hàng về bán hoặc người mua đợi lâu quá họ tự đi nơi khác để mua hàng. Chắc hẳn mọi người đang thắc mắc tại sao chủ các cửa hàng lại không thiết tha việc mua bán vì đã mở cửa hàng thì quan trọng là bán được hàng.

Trong một lần đi mua đồ dùng trong nhà tại một cửa hàng, tôi đã tình cờ giải đáp được thắc mắc trên, sau một hồi lâu đứng gọi chủ tiệm thì Chị chủ mới chạy về từ một tiệm chơi game gần đó để bán hàng cho tôi. Do Chị chủ cũng là chỗ quen biết nên tôi hỏi vui là Chị kêu con đi chơi game về hay sao mà ở đó. Chị cho biết  tiệm game đó mới mở chỉ có một trò chơi duy nhất nhưng rất thú vị, chơi rồi là dính vào đó, không phải chỉ có trẻ em mà người lớn cũng rất mê; mấy người bán hàng ở đây cũng đến đó chơi, trò chơi đó là Game Bắn cá.

Trên đường về nhà, tôi cứ suy nghĩ về những điều Chị chủ cửa hàng nói lúc nãy, tôi để ý đến ba từ Game Bắn cá và bất ngờ nhận ra trên con đường từ cửa hàng về đến nhà tôi chỉ khoảng 5km lại có đến 4 nơi treo bảng “Game Bắn cá giải trí” và rất đông người chơi. Trò chơi Game Bắn cá mà tôi nhìn thấy đó là một trò chơi điện tử được chơi trên máy bắn cá, nhìn giống như cái bàn hình chữ nhật, bốn cạnh được thiết kế nút chỉnh, ngắm bắn cá, ở mặt bàn là kính trong suốt nhìn vào bên trong thấy có rất nhiều cá, sinh vật biển như dưới lòng đại dương. Một máy ở tiệm có thể cho 06 người chơi cùng một lúc. Về cách chơi thì người chơi chỉ cần mua thẻ tại tiệm, mỗi thẻ sẽ quy ra một số điểm nhất định, cho càng nhiều thẻ vào máy thì sẽ càng nhiều điểm. Tại vị trí người chơi sẽ có hai nút điều khiển, một nút dùng để ngắm bắn cá, một nút dùng để chọn loại đạn, nếu chọn đạn lớn sẽ bắn được cá to nhưng số điểm bị trừ nếu bắn trật sẽ nhiều, còn nếu bắn trúng sẽ được cộng điểm. Khi người chơi ngừng chơi thì nhấn nút xả để lấy lại thẻ. Khi tham gia trò chơi mắt, đầu óc người chơi đã tập trung vào màn hình nhìn những chú cá bơi qua bơi lại, tay thì nhấn nút điều khiển với mục đích bắn trúng cá nên số điểm quy ra từ thẻ của họ sẽ mau chóng hết vì tỷ lệ bắn trúng cá luôn thấp hơn bắn trật. Chính vì sự mê mẩn đó nên họ sẽ mua thêm nhiều thẻ để chơi. Một người chơi đã cho tôi biết nếu em trở thành người chơi thường xuyên thì em sẽ biết được nhiều điều thú vị hơn dù có ngày thua ngày thắng vài trăm đến cả triệu đồng.

Với tiêu chí là trò chơi giải trí lành mạnh, thiết nghĩ đối với trẻ em thì gia đình cần giới hạn và giáo dục cho trẻ lúc nào được phép tham gia và chơi trong khoảng thời gian bao lâu nhằm tránh tình trạng trẻ bị nghiện game ảnh hưởng đến học tập, sức khỏe và các hệ lụy như nói dối để xin tiền hoặc có thể trộm cắp hoặc dễ bị người khác dụ dỗ làm việc sai trái để có tiền chơi game. Còn đối với người lớn nếu mê mẩn chơi game sẽ bỏ bê công việc, không quan tâm giáo dục con cái; tiền bạc ra đi theo những con cá ảo, kéo theo hệ lụy đáng tiếc như nợ nần, gia đình từ đó sẽ dẫn đến mất hạnh phúc…

Vui chơi giải trí là nhu cầu thiết yếu của con người, một ngày lao động vất vả, đầu óc căng thẳng nếu được thư giản qua các hình thức giải trí để lấy lại tinh thần hẳn là một điều vô cùng tốt lành. Tuy nhiên, giải trí như thế nào là có ích thật sự, vừa mang tính chất thư giản vừa không gây thiệt hại về mặt vật chất, chơi để giải trí nhưng không “nghiện”,  hoang phí tiền bạc hay bỏ bê công việc, học hành mới là điều quan trọng.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 ngườiHai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người
Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

 

Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 12 giờ, ngày 22/5/2014, trên Đại lộ Đồng Khởi, thuộc địa bàn phường Phú Khương, thành phố Bến Tre. Bà Đặng Thị Thu Hà, sinh năm 1965, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành điều khiển xe mô tô lưu thông theo hướng từ vòng xoay Phú Khương về phường 4, đến khu vực trên thì đụng vào xe lăn (3 bánh) do ông Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1931, phường 5, thành phố Bến Tre điều khiển lưu thông cùng chiều. Nguyên nhân do bà Hà điều khiển phương tiện vượt xe không đảm bảo an toàn, làm ông Hai bị thương vùng đầu, sau đó chết tại bệnh viện.

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 19 giờ, ngày 25/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Thành Trung, sinh năm 1987, huyện Măng Thích, tỉnh Vĩnh Long, điều khiển xe ô tô khách lưu thông theo hướng từ thành phố Bến Tre đi qua khu trên thì đụng vào xe đạp do ông Trần Văn Bự, sinh năm 1968, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc điều khiển, làm ông Bự tử vong tại hiện trường. Nguyên nhân do ông Bự điều khiển xe chạy ngược chiều.

- Vụ va chạn giao thông, lúc 9 giờ, ngày 20/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú. Ông Trần Minh Hồ, sinh năm 1979, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, điều khiển ô tô tải lưu thông theo hướng từ huyện Mỏ Cày Nam đi huyện Thạnh Phú, qua khu vực trên va chạm với xe mô tô do bà Lê Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1991, xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú điều khiển xe mô tô theo hướng  ngược lại. Nguyên nhân do ông Hồ điều khiển phương tiện chạy lấn tuyến, làm Tiên bị thương tại vùng đầu

- Vụ va chạn giao thông, lúc 21 giờ 50 phút, ngày 24/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Vũ Hòa, sinh năm 1979, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, điều khiển xe mô tô theo hướng Cầu Hòa Lộc đi Cầu Mỏ Cày, khi đến khu vực trên va chạm với xe tải, do ông Trần Văn Du, sinh năm 1978, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, lưu thông theo hướng ngược lại, làm ông Lê Thị Hòa bị thương. Nguyên nhân do ông Hòa điều khiển phương tiên không đúng phần đường quy định.

Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát giao thông đã ra quyết định xử phạt 878 trường hợp vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, trong đó lỗi vị phạm do uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn cho phép là 159 trường hợp, chạy qua tốc độ 108 trường hợp, không có giấy phép lái xe 275 trường hợp, chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô trên 50cm3 36 trường hợp, khôngđội muxc bảo hiểm 95 trường hợp, điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường quy định 29 trường hợp, chở quá tải 39 trường hợp…

Nguyên nhân, do lỗi chủ quan của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông của phần lớn người ttham gia giao thông vi phạm trật tự an toàn giao thông còn rất hạn chế.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp: Sơ kết công tác sáu tháng đầu nămSở Tư pháp: Sơ kết công tác sáu tháng đầu năm
Ngày 26/7/2011, Sở Tư pháp Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác sáu tháng đầu năm. Ông Huỳnh Quang Triệu – Tỉnh uỷ viên, GĐ Sở Tư pháp chủ trì hội nghị.

Ngày 26/7/2011, Sở Tư pháp Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác sáu tháng đầu năm. Ông Huỳnh Quang Triệu – Tỉnh uỷ viên, GĐ Sở Tư pháp chủ trì hội nghị.
Sáu tháng qua, ngành Tư pháp Bến Tre đã tổ chức triển khai thực hiện toàn diện các mặt công tác, đến nay đã hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra; nhiều mặt công tác có chuyển biến tích cực. Các đơn vị chủ động trong công việc, xây dựng các chương trình, kế hoạch cho đơn vị bám sát vào công việc trọng tâm…
Kết luận Hội nghị, ông Huỳnh Quang Triệu – Giám đốc Sở đã chỉ đạo: công tác tư pháp trọng tâm sáu tháng cuối năm cần được các Phòng nghiệp vụ, Phòng Tư pháp huyện và công chức tư pháp cấp xã tích cực tổ chức triển khai công việc thật hiệu quả, chủ động tổ chức thực hiện bám sát vào kế hoạch đã đề ra./.


 

08/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Nhìn lại một năm hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lýNhìn lại một năm hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý
  Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, được tổ chức lễ ra mắt vào ngày 10/8/2011. Đến nay vừa tròn một năm, với số lượng Ban Chủ nhiệm gồm có 06 thành viên được phối hợp tổ chức từ các ngành đoàn thể xã. Do ông Võ Văn Lâm công chức Tư pháp-Hộ tịch xã làm Chủ nhiệm, đã đi vào hoạt động ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. 

 

Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, được tổ chức lễ ra mắt vào ngày 10/8/2011. Đến nay vừa tròn một năm, với số lượng Ban Chủ nhiệm gồm có 06 thành viên được phối hợp tổ chức từ các ngành đoàn thể xã. Do ông Võ Văn Lâm công chức Tư pháp-Hộ tịch xã làm Chủ nhiệm, đã đi vào hoạt động ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý là một hình thức hoạt động  trợ giúp pháp lý cộng đồng, tạo điều kiện cho người dân ở địa phương trực tiếp tham gia sinh hoạt, trao đổi những vướng mắc về pháp luật, đây là một sân chơi lành mạnh được các chi tổ, hội, đoàn thể hội viên và nhân dân trong toàn xã hưởng ứng. Từ khi thành lập đến nay Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đã sinh hoạt khắp nhiều điểm trên toàn xã với số lượng 01 kỳ/tháng. Hình thức sinh hoạt khá phong phú, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý sinh hoạt chuyên đề về pháp luật và đặt câu hỏi giao lưu, mổi câu trả lời đúng được Ban chủ nhiệm tặng một phần quà lưu niệm, đồng thời Ban chủ nhiệm lắng nghe ý kiến trao đổi của nhân dân.


Trong quí IV năm 2012, Câu lạc bộ sẽ phối hợp với ngành văn hóa thông tin xã lồng ghép những tiểu phẩm, kịch, nhằm để nâng chất lượng, sinh động trong các lần sinh hoạt, giúp cho người dân hiểu được thực tế hơn. Kế hoạch này sẽ được thực hiện đến khắp các cấp trường trong xã với chuyên đề “Tuổi trẻ trong học đường” đến giai đoạn 2013./.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Đội hình Luật Gia trẻ: Chung tay đưa pháp luật về cơ sởĐội hình Luật Gia trẻ: Chung tay đưa pháp luật về cơ sở
Hưởng ứng Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2014, Liên Chi đoàn Sở Tư pháp, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh thuộc Đoàn Khối các cơ quan tỉnh đã phối hợp triển khai thực hiện tư vấn, phổ biến pháp luật cho đoàn viên thanh niên và người dân trên địa bàn tỉnh.

Hưởng ứng Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2014, Liên Chi đoàn Sở Tư pháp, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh thuộc Đoàn Khối các cơ quan tỉnh đã phối hợp triển khai thực hiện tư vấn, phổ biến pháp luật cho đoàn viên thanh niên và người dân trên địa bàn tỉnh.


Trong Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm năm nay, Đội hình Luật gia trẻ đến với 04 xã trên địa bàn tỉnh gồm An Thủy (huyện Ba Tri); Giao Long, Tiên Long (huyện Châu Thành); An Thới (huyện Mỏ Cày Nam) trong các ngày 18, 24 tháng 7 và ngày 01, 08 tháng 8 để thăm, tặng 100 phần quà cho các em học sinh nghèo (mỗi phần gồm 20 quyển tập); tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật kết hợp trợ giúp pháp lý và tư vấn pháp luật, phát tài liệu tuyên truyền cho đoàn viên, người dân tham dự; tổ chức phiên tòa giả định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích”.


Đây là hoạt động nhằm tiếp tục thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho đoàn viên thanh niên và nhân dân tỉnh nhà; góp phần đưa pháp luật vào đời sống, nâng cao ý thức pháp luật của thanh niên và quần chúng nhân dân; tạo điều kiện phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện và nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng cán bộ trong việc chung tay giải quyết các vấn đề của cộng đồng, xã hội liên quan đến pháp luật trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, giáo dục truyền thống tương thân, tương ái, hành động vì cộng đồng, cùng chung tay, góp sức giúp đỡ tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

30/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình kế toánQuy trình kế toán


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
QUY TRÌNH KẾ TOÁN

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Để thực hiện tốt việc thu chi, sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp đúng quy định của pháp luật.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các phòng thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

- Căn cứ vào biên chế được duyệt + định mức khoán/ đầu người.

- Lập dự toán theo từng nhóm mục, mục.

- Phân phối dự toán cho các đơn vị trực thuộc.

- Rút lương + tạm ứng chi hoạt động.

- Đối chiếu dự toán hàng tháng với kho bạc.

- Chuyển BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn.

- Đối chiếu BHXH hàng quý.

- Tập hợp chứng từ.

- Viết phiếu chi hàng ngày.

- Ghi chép vào sổ Nhật ký sổ cái, định khoản.

- Cuối tháng cộng tất cả các chứng từ phát sinh..

- Thanh toán tiền điện, nước, điện thoại bằng chuyển khoản.

- Cuối tháng lên bảng kê chứng từ, thanh toán tạm ứng với kho bạc.

- Quyết toán hàng quý với tài chính.

- Quyết toán với đơn vị trực thuộc, báo cáo tài chính hàng năm.

- Tổng hợp chứng từ ngoài khoán, theo dõi từng khoản chi.

- Lên bảng kê chứng từ, thanh toán tạm ứng với kho bạc.

- Mua biên lai thu phí và lệ phí.

- Ghi biên lai thu phí hộ tịch.

- Ghi vào sổ theo dõi thu phí hộ tịch.

- Hàng tuần cộng sổ phần trích, nộp cho kho bạc.

- Cuối tháng tổng hợp thanh toán với cục thuế.

- Nguồn thu lệ phí trích lại của đơn vị, chi và quyết toán theo mục lục ngân sách nhà nước.

- Lập danh sách cán bộ công chức đóng BHXH gửi BHXH tỉnh.

- Cuối năm lập danh sách CBCC có mặt đến 31/12 gửi Sở Nội vụ, sau khi thẩm tra xét duyệt, làm cơ sở rút lương với kho bạc.

- Thu chi kinh phí quản lý ngành, thi đua khen thưởng, cuối tháng tập hợp chứng từ theo mục lục ngân sách quyết toán với cơ quan Thi hành án tỉnh.

- Kiêm nhiệm kế toán xây dựng cơ bản, thanh toán với đơn vị thi công theo từng khối lượng hoàn thành.

- Theo dõi xuất, nhập kho sổ bộ hộ tịch cấp phát cho xã, phường.

- Phối hợp với công an tạm ứng kinh phí phòng chống tội phạm, ma tuý, theo dõi từng khoản chi và quyết toán với Hậu cần công an.

- Phối hợp với ban an toàn giao thông tạm ứng kinh phí sử dụng các cuộc thi về an toàn giao thông và quyết toán với Ban an toàn giao thông tỉnh.

- Phối hợp với Sở y tế nhận kinh phí tuyên truyền về HIV/AIDS và quyết toán chứng từ cho Sở y tế.

- Phối hợp với Uỷ ban dân số và gia đình nhận kinh phí tuyên truyền về dân số và quyết toán với Uỷ ban dân số và gia đình.

- Nhập kho tài sản cố định.

- Đến ngày 31/12 kiểm kê, đánh giá lại giá trị còn lại tài sản của cơ quan.

- Nhập kho văn phòng phẩm, theo dõi cấp phát.

Chuyên viên kế toán

Thời gian:

quý IV của năm


07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre.Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre.
Ngày 06/7/2011 UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre. Chỉ thị nêu rõ, kể từ ngày chỉ thị có hiệu lực thi hành, việc bán các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh phải do tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm Dị...

Ngày 06/7/2011 UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre.
Chỉ thị nêu rõ, kể từ ngày chỉ thị có hiệu lực thi hành, việc bán các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh phải do tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản của tỉnh, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản) hoặc các Hội đồng bán đấu giá giá tài sản được thành lập đúng theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và Thông tư số 23/2010/TT-BTP thực hiện;
Các tổ chức hoạt động bán đấu giá tài sản được thành lập không phù hợp với quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, phải chấm dứt hoạt động kể từ ngày Chỉ thị này có hiệu lực thi hành. Đồng thời, có trách nhiệm phối hợp với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để bán các tài sản bán đấu giá đang quản lý theo đúng quy định của pháp luật.
Riêng đối với các tài sản đã bán đấu giá thành, nhưng chưa bàn giao tài sản thì đơn vị đã tổ chức bán đấu giá tiếp tục thực hiện trách nhiệm của mình cho đến khi bàn giao xong tài sản cho tổ chức, cá nhân mua được tài sản; các Hội đồng đấu giá được thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã tiếp nhận việc bán đấu giá quyền sử dụng đất đối với một số lô đất cụ thể và đã tiến hành việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, có phương án bán đấu giá được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 hoặc đối với các hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản đã được thực hiện trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 thì thực hiện theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 23/2010/TT-BTP.
Trung tâm Phát triển quỹ nhà, đất tỉnh và Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện khi được giao tổ chức bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà phải ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 55 của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP và khoản 1 Điều 16 của Thông tư số 23/2010/TT-BTP;
Các sở, ngành tỉnh có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật thực hiện nghiêm việc chuyển giao các loại tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước cho Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản của tỉnh để tổ chức bán đấu giá đúng theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.
Chỉ thị trên có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký./.

 

19/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 04 đã đi vào hoạt độngChi nhánh Trợ giúp pháp lý số 04 đã đi vào hoạt động
Ngày 25 tháng 3 năm 2011 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ký Quyết định số 664/QĐ –UBND về thành lập Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 04, ngày 01/7/2011 Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 04 đã đi vào hoạt động, trụ sở Chi nhánh đặt tại Khu phố 2, Thị Trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, nằm gần Phòng Tư pháp huyện Chợ Lách, số điện thoại mà người dân cần tư vấn pháp luật liên hệ với Chi nhánh Tr...

 

Ngày 25 tháng 3 năm 2011 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ký Quyết định số 664/QĐ –UBND về thành lập Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 04, ngày 01/7/2011 Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 04 đã đi vào hoạt động, trụ sở Chi nhánh đặt tại Khu phố 2, Thị Trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, nằm gần Phòng Tư pháp huyện Chợ Lách, số điện thoại mà người dân cần tư vấn pháp luật liên hệ với Chi nhánh Trợ giúp pháp lý 04 là 0753.872889.

Như vậy tính đến thời điểm này, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã có 04 Chi nhánh trợ giúp pháp lý đặt tại các huyện Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, Chợ Lách.

15/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Công tác triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn nhiều khó khăn, vướng mắcCông tác triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn nhiều khó khăn, vướng mắc
Sau hơn 01 năm triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, qua đánh giá bước đầu triển khai thi hành Luật thấy ý nghĩa, vai trò cũng như nội dung cơ bản của luật vẫn chưa được đông đảo cán bộ, công chức, nhân dân nhận thức đầy đủ, có thể nói, hạn chế này là do nhận thức của một số đồng chí lãnh đạo ngành, địa phương về ý nghĩa, vai trò của Luật còn chưa cao.

Sau hơn 01 năm triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, qua đánh giá bước đầu triển khai thi hành Luật thấy ý nghĩa, vai trò cũng như nội dung cơ bản của luật vẫn chưa được đông đảo cán bộ, công chức, nhân dân nhận thức đầy đủ, có thể nói, hạn chế này là do nhận thức của một số đồng chí lãnh đạo ngành, địa phương về ý nghĩa, vai trò của Luật còn chưa cao.
Bên cạnh đó, một phần là do chưa có sự chỉ đạo sát sao, kịp thời trong việc thực hiện công tác quán triệt luật cũng như bố trí nhân sự theo dõi, thực thi luật và chưa có hướng dẫn kịp thời từ các cơ quan trung ương nên địa phương gặp khó khăn trong việc bố trí cán bộ.
Thiếu người, thiếu biên chế
Quản lý nhà nước về công tác bồi thường là một nhiệm vụ mới được luật và Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể và được giao cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường.
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp và địa phương đã kịp thời ban hành các văn bản cần thiết để đôn đốc công tác quản lý nhà nước về bồi thường. Tuy nhiên, do Nghị định số 16/2010/NĐ-CP không quy định cụ thể về bộ máy để thực hiện công tác này nên các Bộ, ngành, địa phương còn gặp nhiều lúng túng trong việc triển khai việc giải quyết cũng như trong việc quản lý nhà nước về bồi thường.
Bộ Tư pháp đã giao cho Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế tham mưu giúp lãnh đạo Bộ thực hiện công tác này. Tuy nhiên, do cán bộ, công chức phải kiêm nhiệm nên việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường chưa được tổ chức bài bản, chưa huy động được nguồn lực cần thiết để tổ chức công tác này theo yêu cầu của thực tiễn đã đặt ra.
Ở các địa phương, tùy tình hình về biên chế, tài chính được phân bổ cho các phòng, ban dẫn đến tình trạng mỗi nơi làm một kiểu. Chẳng hạn như ở cấp tỉnh, một số Sở Tư pháp đã giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hay Phòng Kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật, Thanh tra Sở hoặc Phòng Bổ trợ tư pháp để thực thi trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường.
Còn ở cấp quận, huyện thì giao nhiệm vụ này cho Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tư pháp phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch và Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp phối hợp với Phòng Nội vụ. Điều đáng lưu tâm hơn một số địa phương thì hiện nay ở cấp huyện vẫn chưa giao cho cơ quan, đơn vị nào trực thuộc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường.
Thực tế này đã dẫn đến tình trạng nhân sự được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường chủ yếu làm công tác kiêm nhiệm nên thiếu kinh nghiệm giải quyết vụ việc. Đồng thời, đầu mối hướng dẫn, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường tại một số địa phương cũng không biết lấy nhân sự ở đâu, ghép vào phòng, ban nào là hợp lý.
Phải chờ văn bản hướng dẫn
Trên thực tế, số lượng đơn từ yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại của người dân đối với các cơ quan quản lý nhà nước, Viện Kiểm sát, Toà án, Thi hành án không phải là nhỏ và ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực như thuế, hải quan, đất đai, xây dựng, cấp phép.
Nhưng nhiều quy định hiện hành của Luật chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống, nhiều vấn đề cụ thể về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa được đề cập rõ ràng. Hiện nay, mới chỉ có Thông tư liên tịch số 19/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26/11/2010 của liên Bộ Tư pháp - Tài chính - Thanh tra Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được ban hành.
Còn 5 Thông tư liên tịch còn lại thì đang được soạn thảo (Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự; Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự - hành chính; Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự; Thông tư liên tịch hướng dẫn giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch hướng dẫn việc lập, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác bồi thường thuộc trách nhiệm của Nhà nước).
Đó là chưa bàn đến rất nhiều lĩnh vực khác phát sinh mà chưa được đưa vào chương trình lập quy của các Bộ, ngành, chẳng hạn như công tác theo dõi, giám sát, thanh - kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bồi thường của Nhà nước.
Cần thành lập đơn vị chuyên trách
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng khẳng định thực tiễn thi hành Luật đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác giải quyết bồi thường. Việc Quốc hội vừa thông qua Luật Tố tụng hành chính ngày 24/11/2010 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011.
Theo đó, mở rộng thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Toà án, cũng như xử lý các vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành về việc giải quyết khiếu nại liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, đặt ra yêu cầu ngày một cao đối với việc giải quyết bồi thường do khả năng phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước trên cơ sở phán quyết của Toà án về xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.
Thực tế này cho thấy, việc bồi dưỡng nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho các cán bộ phụ trách công tác này là một nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa bảo đảm tính khả thi của luật và kỷ cương của hoạt động giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm của Nhà nước.
Vừa qua, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng Đề án thành lập đơn vị chuyên trách thuộc Bộ Tư pháp và kiện toàn tổ chức của Sở Tư pháp để giúp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường.
Về cơ bản, dự kiến ở mỗi Sở Tư pháp bổ sung 2 biên chế chuyên trách để tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường và tổ chức thi hành luật trên thực tế.
Hy vọng khi Đề án được phê duyệt sẽ giúp tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương, bảo đảm về biên chế cho các Sở Tư pháp - một trong những điều kiện thiết yếu để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường.
Bên cạnh việc hình thành một đội ngũ chuyên trách về công tác này cần đẩy nhanh việc soạn thảo, ban hành văn bản hướng dẫn, trước mắt là 05 Thông tư liên tịch nêu trên, đồng thời, tiếp tục cập nhật những vấn đề phát sinh từ thực tế để tiếp tục có kế hoạch xây dựng những văn bản hướng dẫn để Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thực sự là cơ sở pháp lý khả thi, tạo điều kiện thuận lợi để người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình trên thực tế; bảo đảm cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện tốt nhiệm vụ giải quyết bồi thường theo đúng quy định của pháp luật, góp phần khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.

19/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn