Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức sự kiện

Tin tức sự kiện
Thứ 2, Ngày 30/12/2019, 09:00
Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi đã ly hôn không?
30/12/2019 | Ngọc Trinh

Vợ chồng chung sống với nhau là tình nghĩa, là trách nhiệm, là cùng nhau vun đấp, xây dựng cho tổ ấm hạnh phúc của mình. Vợ chồng cùng nhau chăm lo cho gia đình và tạo ra của cải, vật chất để phục vụ đời sống gia đình và ai cũng mong ước gia đình mình luôn được vui vẽ, hạnh phúc, kinh tế được vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm đẹp, mọi việc luôn thuận lợi, khi bước vào đời sống hôn nhân, ai cũng mong muốn hạnh phúc nhưng không phải ai cũng đạt được và có những trường hợp vì lý do nào đó vợ chồng dẫn đến việc chia tay, có người chia tay trong êm đẹp, nhưng cũng có người chia tay trong mâu thuẫn, tranh cãi và tranh giành một cách gay  gắt, hầu hết những trường hợp chia tay mang tính "ầm ĩ" ấy là có liên quan về tài sản.

Có trường hợp, tại thời điểm ly hôn có tranh chấp với nhau về tài sản, nhưng cũng có trường hợp khi ly hôn, chỉ yêu cầu giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết về tài sản mặc dù có tài sản chung. Đối với trường hợp này, một số cặp vợ chồng vì muốn ly hôn nhanh nên muốn giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết tài sản để tránh tình trạng kéo dài, một số cặp vợ chồng vì lý do thỏa thuận được vấn đề về tài sản nên không yêu cầu giải quyết nhưng sau khi đã ly hôn thì phần lớn các cặp vợ chồng lại không thỏa thuận được, hoặc một bên không thực hiện những thỏa thuận ban đầu về việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng ly hôn, trước đây thỏa thuận được về việc phân chia tài sản là đất đai, nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi đã ly hôn thì không thỏa thuận được và tài sản trên vẫn là tài sản chung do chồng hoặc vợ đứng tên. Một số người không hiểu quy định pháp luật nên cho rằng khi ly hôn không yêu cầu chia thì ly hôn xong rồi không có quyền yêu cầu giải quyết; hoặc một bên vợ hoặc chồng đứng tên thì tài sản thuộc về người đó, không thể chia được là một ví dụ.

Theo quy định tại hhoản 1, Điều 28 Tải về    Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn thuộc một trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, khi có tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn, các bên vợ hoặc chồng đều có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân năm 2014 và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Song song đó, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều như: Điều 60 quy định về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn; Điều 61 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình; Điều 62 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn; Điều 63 quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn và Điều 64 quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 như đã nêu trên của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối với vấn đề chia tài sản là quyền sử dụng đất thì Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.

Từ những quy định pháp luật đã nên trên, thì việc chia tài sản khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều có thể thực hiện được, vì tùy từng thời điểm phát sinh tranh chấp mà vợ, chồng hoặc các bên vợ hoặc chồng có yêu cầu giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, và sẽ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và các luật khác có liên quan. Do đó, việc cho rằng tài sản do ai đứng tên sẽ thuộc về người đó và sau khi đã ly hôn, nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng thì sẽ không được giải quyết, đó hoàn toàn là những quan điểm chưa đúng, người dân cần suy nghĩ kỹ trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng đặc biệt là đối với hôn nhân, đồng thời cũng cần tìm hiểu thêm những quy định pháp luật để làm đúng, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh tình trạng hiểu sai lệch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bản thân.

Lượt người xem:   32
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn