Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Đảng - Đoàn thể
 
Được sự cho phép của Đảng ủy Sở Tư pháp, ngày 11 tháng 9 năm 2015 tại Hội trường Sở Tư pháp, Chi đoàn Sở Tư pháp đã tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015. Tham dự Cuộc thi có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, Chi hội... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Lễ trao quyết định tuyển dụng công chứcLễ trao quyết định tuyển dụng công chức
Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức. 

Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức.

Tham dự buổi Lễ có đại diện lãnh đạo và Trưởng phòng phụ trách công tác tổ chức – cán bộ: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương, Sở Giao thông Vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân và Phòng Nội vụ các huyện, thành phố.


Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức kỳ thi tuyển dụng công chức năm 2013, gồm có 422 thí sinh tham dự kỳ thi. Kết quả có 124 thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể; các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ( trong đó, có 41 thí sinh vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể). Các thí sinh sẽ trãi qua 5 phần thi viết và trắc nghiệm về kiến thức chung, nghiệp vụ chuyên ngành, văn phòng, tin học và ngoại ngữ.

Ngày 08/4/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 677/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả kỳ thi tuyển và công nhận danh sách thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013; đã có 83 thí sinh được Sở Nội vụ trao quyết định tuyển dụng vào làm việc ở các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Trong đó, Sở Tư pháp được tuyển dụng 04 công chức: Nguyễn Thị Chuyền, Lê Thị Phượng, Lê Thị Hồng Diễm, Nguyễn Thị Nhiên.

Đây là lần đầu tiên, tỉnh Bến Tre tổ chức thi tuyển công chức có quy mô lớn với hình thức thi công khai, minh bạch, đã siết chặt việc coi thi, ra đề, chấm thi, nhằm tuyển chọn những công chức có phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực, kịp thời bổ sung đội ngũ công chức cho các cơ quan, đơn vị đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi Lễ, ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ chúc mừng các thí sinh được trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2013, Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Hữu Lập yêu cầu các công chức mới được tuyển dụng cần nhanh chóng thích nghi, hòa nhập; chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị nơi công tác; vận dụng các kiến thức đã học vào công việc có hiệu quả nhất; không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tin học, ngoại ngữ; học hỏi đồng nghiệp, làm tốt công tác tham mưu để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thực hiện thành công nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, Giám đốc Sở Nội vụ cũng đề nghị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tiếp nhận công chức mới phân công nhiệm vụ đúng theo vị trí việc làm, tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn công chức mới làm quen với công việc, để công chức mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

20/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
TỔ CHỨC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN - VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRETỔ CHỨC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN - VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH TỔ CHỨC ĐẤU GIÁ TÀI SẢN/CHI NHÁNH DOANH NGHIỆP ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

 (Tính đến ngày 31/7/2019)

Danh sách tổ chức đấu giá tài sản và chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản.doc

15/08/2019 4:00 CHĐã ban hành
Trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũngTrách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng

Kế thừa Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 tiếp tục quy định có chỉnh lý, bổ sung quy định trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; trách nhiệm của cơ quan báo chí, nhà báo; trách nhiệm của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề; trách nhiệm của công dân, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng như sau:

Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm sau đây:Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; phản biện xã hội, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng; kiến nghị việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng. Động viên Nhân dân tham gia tích cực vào việc phát hiện, phản ánh, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, xác minh vụ việc tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng, kiến nghị việc bảo vệ, khen thưởng người có công phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền phải xem xét, trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Trách nhiệm của cơ quan báo chí, nhà báo

Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng.

Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật về báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm phản ánh khách quan, trung thực và chấp hành các quy định khác của pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng.

Trách nhiệm của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề

Doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm tuyên truyền, động viên người lao động, thành viên, hội viên của mình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; kịp thời thông báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

Doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền phối hợp với hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề tổ chức diễn đàn để trao đổi, cung cấp thông tin, phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng.

 Trách nhiệm của công dân, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

Công dân tự mình hoặc thông qua Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng hoặc thông qua tổ chức mà mình là thành viên tham gia phòng, chống tham nhũng.

Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

03/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
Cha mẹ được nghỉ làm bao nhiêu ngày khi con ốmCha mẹ được nghỉ làm bao nhiêu ngày khi con ốm

Ngày nay, việc cha mẹ cùng làm việc để trang trãi kinh tế gia đình và cùng chăm lo cho con cái rất phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh việc cùng nhau san sẽ, gánh vác kinh tế gia đình, chăm lo cho đời sống tốt hơn còn những khó khăn trong việc chăm sóc con khi cả cha và mẹ đều phải đi làm, đặc biệt là khi các con bị đau ốm. Như vậy, trong trường hợp cha mẹ cùng đi làm, khi con đau ốm thì cha mẹ có được nghỉ làm? Nghỉ làm trong vòng bao nhiêu ngày là đúng theo quy định của pháp luật? Đó là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm liên quan đến chế độ của người lao động khi đi làm và có tham gia bảo hiểm xã hội, cũng như biết để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì người được hưởng chế độ khi con ốm đau là người làm việc theo hợp đồng lao động, thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cụ thể như sau:

Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

Cán bộ, công chức, viên chức;

Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;

Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

Nếu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nêu trên và đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì khi con đau ốm sẽ được hưởng chế độ theo quy định tại Điều 27 Luật Bảo hiểm xã hội như sau:

Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của mỗi người cha hoặc người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi con ốm đau quy định tại Điều này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

 Đồng thời, theo Điều 5 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian hưởng chế độ khi con đau ốm được tính như sau:

Thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hằng tuần theo quy định. Thời gian này được tính kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động.

Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ 2 con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa người lao động nghỉ việc trong một năm cho mỗi con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì tùy theo điều kiện của mỗi người để luân phiên nghỉ việc chăm sóc con ốm đau, thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, cùng nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì cả cha và mẹ đều được giải quyết hưởng chế độ khi con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội.

03/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
Ma túy - hiểm họa của con ngườiMa túy - hiểm họa của con người

Ma túy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích, là các chất gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp. Những chất này khi đưa vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và tâm, sinh lý. Ma túy hủy hoại tương lai con người, làm tan nát không biết bao nhiêu mái ấm gia đình, đặc biệt đối với đối tượng vị thành niên, một thế hệ tương lai của đất nước. Các em với tâm lý của tuổi mới lớn, tò mò thích khám phá, thích thể hiện bản thân, nếu không nhận được sự quan tâm, giáo dục, chăm sóc từ gia đình, nhà trường thì việc các em có nguy cơ tiếp cận với ma túy là rất cao. Hiện nay, ma túy với nhiều dạng đã và đang tấn công vào xã hội một cách tràn lan và môi trường học đường cũng là một môi trường mà ma túy hướng tới. Các em với đầu óc ngây thơ, hiểu biết cũng như nhận thức chưa tới, không hoặc chưa lường trước hết tác hại cũng như hậu quả mà ma túy gây ra.

Hậu quả của ma túy gây ra có thể nói là vô cùng to lớn, nó đẩy các em vào con đường nghiện ngập nhưng hơn hết có thể là tù tội. Khi đã thành "nô lệ" cho ma túy, việc các em bị lợi dụng, hoặc bị sai khiến làm những việc như "tàng trữ ma túy" hay "mua bán ma túy" và nhiều tội khác liên quan tới ma túy là điều rất dễ dàng và hoàn toàn có thể xảy ra. Pháp luật quy định việc xử lý các tội phạm về ma túy là vô cùng nghiêm khắc nhưng các em có thể không biết, hoặc không tìm hiểu những quy định của pháp luật nên không hình thành ý thức đề phòng hoặc nếu có thì cũng chủ quan với lối suy nghĩ "không đến nỗi nào"; cũng có không ít trường hợp các em ở lứa tuổi học đường còn có suy nghĩ "người chưa thành niên phạm tội về ma túy thì không bị xử lý nặng". Chính với lối suy nghĩ và nhận thức còn mơ hồ về ma túy nên có những trường hợp các em là tội phạm về ma túy, phổ biến nhất "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và "Mua bán trái phép chất ma túy". Bộ luật Hình sự nước ta quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Điều 249 và tội mua bán trái phép chất ma túy tại Điều 251, người phạm tội có thể bị xử phạt đến tù chung thân hoặc tử hình.

Ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây nguy hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Tất cả mọi người chúng ta đều cần có ý thức phòng chống, ngăn ngừa những hiểm họa từ ma túy gây ra, đặc biệt đối với các em trong độ tuổi vị thành niên cần trang bị cho mình những kiến thức về ma túy nhằm tự bảo vệ mình. Gia đình và nhà trường cùng quan tâm, chăm sóc, giáo dục giúp các em kịp thời phòng ngừa, tránh xa ma túy cũng như tránh xa những hiểm họa từ ma túy gây ra.

03/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 29/8/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 29/8/2018
30/08/2018 10:00 SAĐã ban hành
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụTăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ

 Tỉnh ủy Bến Tre vừa ban hành Công văn số 835-CV/TU về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ. Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động nắm vững và chấp hành nghiêm các nguyên tắc sinh hoạt Đảng, quy chế, quy định của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, về kỷ luật lao động, giờ giấc làm việc, đạo đức nghề nghiệp,…tạo sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức thực hiện, kiên quyết không để xảy ra mất đoàn kết nội bộ; cử cán bộ tham dự các cuộc họp, hội nghị phải đúng thành phần, chuẩn bị chu đáo nội dung có liên quan và tích cực tham gia đóng góp ý kiến tại hội nghị.

Mỗi tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động hàng năm phải có đăng ký và thực hiện tốt các nội dung trong học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương khóa XII về xây dựng Đảng và việc khắc phục các hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm cuối năm trước; mỗi đồng chí phải luôn có ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện và quyết liệt phòng, chống 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện tốt Quy định những điều đảng viên không được làm và Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; giữ vững lập trường chính trị tư tưởng, đạo đức trong sáng và xây dựng phong cách làm việc tận tụy, gương mẫu, tiến công liên tục, giữ gìn ngôn phong và bí mật của Đảng, Nhà nước, có thái độ ứng xử văn hóa khi giao tiếp nơi công sở và giao tiếp với Nhân dân, xứng đáng là công bọc của Nhân dân, đặc biệt là hạn chế tối đa việc đi tham quan du lịch, giao lưu dài ngày trong ngày làm việc.

Từng cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt Quy định số 76-QĐ/TW ngày 15/6/2000 của Bộ Chính trị và Công văn số 670-CV/TU ngày 17/8/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về giữ mối liên hệ với cấp ủy và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú; mỗi đồng chí phải tham gia sinh hoạt ít nhất 02 lần/năm do cấp ủy nơi cư trú tổ chức và dự họp tổ nhân dân tự quản ít nhất 03 lần/năm. Các cơ quan, đơn vị và chi bộ nơi cư trú làm tốt công tác đánh giá, nhận xét cán bộ, đảng viên cuối năm.

Từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động khi tham khảo thông tin trên mạng, tham gia các mạng xã hội phải có ý thức chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không được phổ biến thông tin không đúng, tham gia bình luận, chia sẻ các thông tin sai trái, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo. Khi có điều kiện, mỗi cán bộ đảng viên là tuyên truyền viên phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chống lại những luận điệu sai trái.

Trong quá trình thực hiện cần phát huy vai trò nêu gương, tính tiên phong gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; không phân biệt cán bộ lãnh đạo hay nhân viên, mọi trường họp vi phạm về kỷ luật, kỷ cương đều phải được xử lý nghiêm minh theo quy định. Người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị phải kiểm soát được tình hình (kể cả tình hình công việc và tình hình nội bộ); đồng thời, phải chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc liên đới khi để xảy ra sai phạm của cấp dưới do vi phạm kỷ cương, kỷ luật.

Coi việc đản bảo kỷ cương, kỷ luật là 01 tiêu chí đánh giá cán bộ định kỳ.

Các cơ quan truyền thông, báo, đài đẩy mạnh công tác tuyên truyền về nội dung công văn này; đồng thời thường xuyên đăng tải những thông tin liên quan gương điển hình tổ chức và cá nhân thực hiện tốt, cũng như những tổ chức và cá nhân thực hiện chưa nghiêm trật tự, kỷ luật, kỷ cương.

25/05/2018 9:00 SAĐã ban hành
Thông tin tranh chấp thửa đất và nhà thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 54; thửa đất và nhà thuộc thửa đất số 151, tờ bản đồ số 54; thửa đất số 15, 67, tờ bản đồ số 42  tại phường Phú Khương, TP.Bến TreThông tin tranh chấp thửa đất và nhà thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 54; thửa đất và nhà thuộc thửa đất số 151, tờ bản đồ số 54; thửa đất số 15, 67, tờ bản đồ số 42  tại phường Phú Khương, TP.Bến Tre
19/10/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/6/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/6/2019

    THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 89 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Trần Văn Nhịn và bà Lê Thị A, cư ngụ tại: ấp Phú Long, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 1.244,3 m2;

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 43, tờ bản đồ số 03.     

2. Cây trồng trên đất:

- Bưởi da xanh (loại 3): 09 cây 

- Bưởi da xanh (loại 2): 13 cây

- Chôm chôm (loại 2): 06 cây

- Mận (loại 1): 04 cây

- Dừa (loại 2): 03 cây

- Sầu riêng (loại 1): 02 cây

- Tắc (loại 1): 05 cây

- Nhãn (loại 1) : 01 cây

- Sa kê lớn (loại 1): 01 cây

- Xoài (loại 2): 03 cây

- Dâu (loại 2): 04 cây

- Trúc (loại 1): 02 bụi

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Long, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Trần Văn Nhịn và bà Lê Thị A, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 251.040.012đ (Hai trăm năm mươi mốt triệu, không trăm bốn mươi ngàn, không trăm mười hai đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế. Các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 50.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 16/7/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 91 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lương Minh Đức, hiện cư ngụ tại: 117A, ấp 1, xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 1.316,2m2 (trong đó có 138,9m2 đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ);

- Mục đích sử dụng: 100 m2 đất ở nông thôn và 1.216,2 m2 đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 255, tờ bản đồ số 17.

- Tài sản tọa lạc: tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: Tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lương Minh Đức do không có nhu cầu sử dụng, đề nghị bán đấu giá.

* Lưu ý: Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 435774, số vào sổ cấp GCN: CS04647 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp ngày 02/01/2019 không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại tăng hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu giảm thì người mua chịu không được khiếu nại.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng).

- Giá bán trên không bao gồm 2% thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 400.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 9 giờ ngày 25/6/2019


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 94 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Vui, hiện cư ngụ tại: 561D, ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất

- Diện tích 110,7m2.

- Mục đích sử dụng: đất ONT.

- Thửa đất số 125, tờ bản đồ số 35.

2. Công trình xây dựng trên đất

- Nhà gỗ tạp, diện tích 40m2. Kết cấu: Nền lát gạch cramic, mái lợp tol lạnh, vách làm bằng manh, cột cây.

- Hiện trạng: Nhà xuống cấp. Chất lượng còn lại khoảng 30%.

3. Cây trồng trên đất:

- Xoài khoảng 3 năm tuổi: 01 cây.

- Mít khoảng 3 năm tuổi: 01 cây.

- Cốc khoảng 5 năm tuổi: 1 cây.

- Dừa khoảng 1 năm tuổi: 02 cây.

- Mai trồng ngoài đất: 03 bụi.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Vui, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 155.610.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu, sáu trăm mười ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm 2% thuế thu nhập, các phí, lệ phí liên quan thủ cấp đổi sang tên người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2019 (trong giờ làm việc). Lệ phí hồ sơ là 200.000đ, lệ phí này không được hoàn lại.

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 11/7/2019 (trong giờ làm việc). Tiền đặt trước là 31.000.000đ nộp vào tài khoản trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhành Đồng Khởi.

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 9 giờ 30 phút ngày 16/7/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 95 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá công quỹ nhà nước gồm 139 (một trăm ba mươi chín) chiếc xe mô tô, xe gắn máy 02 bánh các loại bán dạng phế liệu (có danh sách kèm theo).

     * Lưu ý: khách hàng trúng đấu giá, khi nhận bàn giao 139 xe mô tô, gắn máy phải thực hiện xóa bỏ hết số khung, số máy, cắt rời khung xe; các khoản chi phí liên quan người mua chịu.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bến Tre thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 139.000.000đ (Một trăm ba mươi chín triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào số tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

    * Khoản tiền đặt trước: 27.500.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/6/2019 (trong giờ làm việc), tại kho Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bến Tre (địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 09 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/6/2019 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/6/2019 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 21/6/2019

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 97 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Dương Huy Phong và bà Nguyễn Thị Biên, địa chỉ thường trú tại: 29 ấp Long Hội, xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 1.949,9m2 (trong đó có 283,2m2 đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ).

- Mục đích sử dụng: Đất trồng lúa nước còn lại;

- Thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 17;

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: Tài sản thuộc quyền sử dụng đất của Dương Huy Phong và bà Nguyễn Thị Biên do không có nhu cầu sử dụng, đề nghị bán đấu giá.

* Lưu ý: Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN554497, số vào sổ cấp GCN: CS06721 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp cùng ngày 01/6/2018 không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại tăng hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu giảm thì người mua chịu không được khiếu nại.

          * Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 4.600.000.000đ (Bốn tỷ, sáu trăm triệu đồng).

- Giá bán trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 460.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 20/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 9 giờ 30 phút ngày 25/6/2019

 

 Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./. 

19/06/2019 3:00 CHĐã ban hành
Quy định pháp luật về trường hợp  đổi đất cho nhauQuy định pháp luật về trường hợp  đổi đất cho nhau

Giữa các chủ thể có tài sản trao đổi cho nhau tài sản, đó là một điều rất bình thường và hoàn toàn có thể thực hiện được nếu các bên đồng ý. Tài sản ở đây có thể là tiền hoặc hiện vật, đối với các hiện vật mà chúng ta có thể cầm, nắm được thì hầu như không có vấn đề gì cũng như không có nhiều thắc mắc. Tuy nhiên, đối với những tài sản có giá trị ví dụ như bất động sản cụ thể là đất đai thì có đổi được không? Nếu được thì làm như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu các bên? Đó hẳn là vấn đề không phải ít gặp trên thực tế nhưng để hiểu đúng, hiểu đủ và thực hiện một cách có hiệu quả thì không phải ai cũng biết. Câu chuyện sau đây là một ví dụ:

Gia đình anh A có phần đất phía trước nhỏ nhưng phía sau lại rộng, trong khi gia đình anh B lại có mảnh đất tiếp giáp với đất của anh A thì ngược lại. Với mong muốn đất của hai nhà đều được vuông vứt, gia đình anh A và gia đình anh B đều có mong muốn và đã thỏa thuận về việc đổi một phần đất cho nhau, việc đổi đất này đã được hai bên thông qua, nhưng chỉ qua lời nói và cả hai đều rất hài lòng với việc đổi đất này. Tuy nhiên, có thể thấy đây là tài sản có giá trị lớn đồng thời trong quá trình sử dụng mặc dù hai bên không có mâu thuẩn, nhưng các bên đều có những nhu cầu riêng, cần sử dụng tới phần đất hoán đổi kia, khi đó phát sinh hàng loạt các thủ tục liên quan về mặt pháp lý mà chính anh A và anh B đều cảm thấy cần phải làm rõ về mặt pháp lý đối với sự chuyển đổi này, chưa kể nếu cứ để như vậy sau này nếu có tranh chấp xảy ra chắc chắn sẽ phức tạp rất nhiều.

Trường hợp như của gia đình anh A và anh B trong thực tế xảy ra rất nhiều và hầu hết các trường hợp chủ yếu thực hiện bằng lời nói, có những trường hợp do tin tưởng nhau, có trường hợp do ngại về thủ tục pháp lý nên không làm hoặc không muốn làm và cũng có khá nhiều trường hợp tranh chấp xảy ra liên quan đến việc đổi đất này.

Việc đổi một phần đất cho nhau bằng miệng chỉ là thỏa thuận giữa các bên mà hoàn toàn không được pháp luật công nhận, đồng thời việc làm trên còn tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và có thể hình thành những tranh chấp có thể xảy ra sau này. Bởi về mặt pháp lý, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các bên đều thể hiện diện tích, cũng như hình dáng, vị trí thửa đất của mỗi bên và đều đó được pháp luật quy định cũng như thừa nhận một cách rõ ràng. Theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì Nhà nước vẫn công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, tức là người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, nhưng phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bởi, theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 thì hành vi sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xác định là hành vi bị nghiêm cấm.

Trong trường hợp này, để thực hiện việc chuyển đổi đất một cách hợp pháp, hai bên gia đình anh A và anh B, có thể ký kết hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất để chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất mà hai bên đang muốn đổi đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, anh A và anh B là người sử dụng đất hợp pháp với các phần đất, thì họ hoàn toàn được quyền thực hiện việc chuyển đổi một phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013, như phải có: Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; Trong thời hạn sử dụng. Đồng thời, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính.

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau, phải tiến hành thủ tục tách thửa đối với phần diện tích đất hai gia đình muốn chuyển đổi cho nhau, và vấn đề kế tiếp được đặt ra đó là quy định về diện tích tách thửa, việc tách thửa đất đối với phần diện tích đất của các bên cần đảm bảo diện tích tối thiểu được tách thửa đất theo từng loại đất được quy định tại Quyết định về diện tích tối thiểu được tách thửa của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất.

Đa số các trường hợp chuyển đổi đất cho nhau, đều vướng phải tình trạng không đủ diện tích tách thửa, khi đó nhiều người không biết quy định pháp luật và không tiếp tục thực hiện vì nghĩ không thể thực hiện. Liên quan về vấn đề này, theo quy định tại  Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu cụ thể như sau:

- Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày văn bản quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Không được công chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới.

Đồng thời, cũng theo quy định của Luật Đất đai thì trước khi thực hiện việc chuyển đổi cần phải xem xét về mục đích sử dụng đất của các bên, nếu đất cần chuyển đổi là đất nông nghiệp thì cần phải thỏa mãn các điều kiện theo luật định, bởi theo quy định tại Điều 190 về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ

Sau khi tách thửa đất thì hai bên có thể cùng nhau ký hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất cần chuyển đổi. Vì như đã nói ở trên, hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Với những quy định đã nên trên, thì việc chuyển đổi đất hay một phần diện tích đất đều không phải là một vấn đề đơn giản, điều đó phải thỏa mãn những điều kiện cũng như phải tuân thủ theo đúng quy định pháp luật. Có thể thủ tục pháp lý khá nhiều và tuân thủ những quy định pháp luật về đất đai và những văn bản pháp luật có liên quan nhưng không phải là không thể thực hiện. Do đó, người dân nếu muốn thực hiện việc chuyển đổi theo đúng nhu cầu của mình cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật để làm đúng, làm đủ các bước và hoàn chỉnh quá trình chuyển đổi của mình theo đúng quy định pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và hạn chế những rủi ro, tranh chấp có thể phát sinh.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn về điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiệnHướng dẫn về điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện

          Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ.

          Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Phạm tội lần đầu;

- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

- Có nơi cư trú rõ ràng;

- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

- Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

- Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.

Để hướng dẫn chi tiết quy định trên, ngày 24/04/2018 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Cụ thể:

Tại Điều 2, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP, điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nếu không thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), gồm các điều kiện như sau:

Thứ nhất, đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

Thứ hai, trường hợp phạm tội lần đầu - Được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Trước đó chưa phạm tội lần nào;

- Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

- Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

- Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Thứ ba, về quy định có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, cụ thể như sau:

- Người đang chấp hành án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn phải có ít nhất 20 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

- Người đang chấp hành án phạt tù trên 20 năm đến 30 năm phải có ít nhất 16 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

- Người đang chấp hành án phạt tù trên 15 năm đến 20 năm phải có ít nhất 12 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

- Người đang chấp hành án phạt tù trên 10 năm đến 15 năm phải có ít nhất 08 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

- Người đang chấp hành án phạt tù trên 05 năm đến 10 năm phải có ít nhất 06 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

- Người đang chấp hành án phạt tù trên 03 năm đến 05 năm phải có ít nhất 04 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

- Người đang chấp hành án phạt tù từ 03 năm trở xuống phải có ít nhất 02 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

Thứ tư, có nơi cư trú rõ ràng: Nơi cư trú là nơi tạm trú hoặc thường trú theo quy định của Luật Cư trú mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được tha tù. Nơi cư trú rõ ràng là nơi cư trú có địa chỉ được xác định cụ thể.

Thứ năm, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.

- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và án phí là đã nộp đầy đủ các khoản tiền phạt và án phí thể hiện ở các biên lai, chứng từ hoặc có quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án.

- Đã chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một trong các trường hợp: Đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; có thỏa thuận bằng văn bản của bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại về việc không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Thứ sáu, đã chấp hành được ít nhất một phần hai mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

- Thời gian đã chấp hành án phạt tù là thời gian người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ hoặc thời gian người đó bị bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, không kể thời gian được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ và thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Thời gian đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù (nếu có) được tính để trừ vào phần thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại.

- Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng được xác định theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.

Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng được xác định theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

Việc xác định người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh hoặc kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật.

Đối với người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi có đủ các điều kiện sau đây: Phạm tội lần đầu; Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; Có nơi cư trú rõ ràng; Đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù.

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là quy định mang tính nhân đạo của Nhà nước, thể hiện việc Nhà nước ta luôn quan tâm và tạo điều kiện để người phạm tội có thể sớm tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, khi xét tha tù trước thời hạn có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 07/12/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 07/12/2018
10/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Những vấn đề về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động theo quy định mới của Bộ Luật lao động Những vấn đề về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động theo quy định mới của Bộ Luật lao động

Bộ luật lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2019. Theo đó trong điều kiện lao động bình thường, tuổi nghỉ hưu của người lao động (NLĐ) được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi nam đủ 62 tuổi vào năm 2028, nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035.

Đây chính là chính sách lớn có tác động đến hàng chục triệu NLĐ ở Việt Nam. Tuy nhiên việc tác động nhiều ít ra sao còn phụ thuộc vào từng đối nhất nhất định. Nhìn vào tổng thể chung, có người cho rằng đối với lực lượng công chức, viên chức nhà nước sẽ không chịu sự tác động quá lớn, nhưng với công nhân lao động thì sẽ gặp khó khăn hơn.

Bộ luật lao động (sửa đổi) lần này tăng độ tuổi nghỉ hưu là hoàn toàn phù hợp theo chủ trương nâng tuổi nghỉ hưu theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW. Tức là việc tăng độ tuổi nghỉ hưu phải theo những lộ trình và tầm nhìn dài hạn, đặt chủ trương đó trong sự tác động tổng thể, cần xem xét đến các vấn đề về thất nghiệp, việc làm, an sinh của xã hội. Có thể nói lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu theo BLLĐ (sửa đổi) vừa được thông qua theo chúng tôi nhận thấy là đã xem xét, nghiên cứu kỹ nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực. Đối với NLĐ nam phải sau 8 năm nữa (tức là đến năm 2018) tuổi nghỉ hưu mới tăng đến 62 tuổi, NLĐ nữ phải đến 15 năm sau (đến năm 2035) mới tăng lên 60 tuổi. Với lộ trình dài như trên chính là để tránh sự “gây sốc” trong việc thực hiện chính sách.

Đối với một số đối tượng NLĐ trực tiếp sản xuất và một số ngành nghề không nằm trong danh mục ngành nghề nặng nhọc - độc hại - bị suy giảm khả năng lao động, hoặc không phải lao động ở khu vực có điều kiện KT-XH khó khăn thì việc đảm bảo đến độ tuổi nghỉ hưu theo luật định ít nhiều sẽ có sự băn khoăn, ảnh hưởng nhất định, nhất là việc đảm bảo sức khỏe để theo nghề. Ví dụ như NLĐ hoạt động trong nghề dệt may, da giày, thủy sản…, là những ngành nghề công nhân lao động tham gia tương đối phổ biến hiện nay. Trong thực tế vẫn có một số chủ doanh nghiệp hạn chế sử dụng lao động sau tuổi trung niên đối với nhóm ngành nghề này. Đã có trường hợp doanh nghiệp tìm cách chuyển đổi, cắt hợp đồng, cho nghỉ việc NLĐ khi chủ doanh nghiệp cho rằng độ tuổi NLĐ ở mức độ nào đó không còn phù hợp, không đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh của họ. Qua đó cho thấy sự sàng lọc nghề nghiệp của thị trường lao động sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống NLĐ sau này. Khi bị đưa ra khỏi ngành nghề cũ, NLĐ nếu không có sự chuẩn bị trước cho việc chuyển đổi ngành nghề chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, không biết phải làm gì, trong lĩnh vực nào cho phù hợp. Vì vậy muốn giải quyết triệt để vấn đề trên, ngay từ bây giờ Nhà nước và trực tiếp chính NLĐ phải có định hướng trong việc đào tạo nghề, thận trọng lựa chọn hướng đi nghề nghiệp cho mình, chuyên nghiệp hóa lĩnh vực nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Tuy lộ trình còn trên dưới 10 năm nữa để thực hiện, nhưng sự chuẩn bị của XH về vấn đề trên hiện tại không thể gọi là sớm được.

Trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng; việc sửa đổi pháp luật về lao động những lần trước đây và nhất là việc nâng độ tuổi nghỉ hưu trong lần sửa đổi lần này cho thấy pháp luật nước ta ngày càng sát với các tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác theo quy định mới, độ tuổi nghỉ hưu giữa NLĐ nam và nữ chênh lệch chỉ còn là 3 tuổi (nam 65 tuổi, nữ 62 tuổi) so với hiện nay là 5 tuổi. Đây cho thấy tiêu chuẩn về bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi bình đẳng giữa nam và nữ, tránh phân biệt đối xử đã cụ thể hơn trong pháp luật lao động. Tuy nhiên lộ trình tăng tuổi hưu như đã nêu cũng có sự xem xét, tránh sự tác động lớn, đột ngột đến NLĐ giữa nam và nữ, lộ trình tăng tuổi hưu của nữ sẽ được thực hiện trong 15 năm, trong khi với nam chỉ là 8 năm.

Có thể nói tăng tuổi nghỉ hưu là chính sách tác động rất lớn đến NLĐ mà Nhà nước và XH chắc chắn đã dự báo và tiên liệu được. Chính sự thay đổi này gây ra những băn khoăn từ người dân nói chung, NLĐ nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta cần nên hiểu rằng nâng tuổi nghỉ hưu ở nước ta nhưng có lộ trình khá dài; mục đích chính của chính sách này cũng chính là nhằm đảm bảo tốt hơn cho quan hệ lao động, đưa pháp luật nước ta tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn quốc tế khi mà NLĐ Việt Nam ngày càng có trình độ tay nghề càng cao, tính chuyên nghiệp trong lao động càng thể hiện rõ nét. Trước mắt cả hệ thống chính trị, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, các tổ chức đoàn thể, nhất là hệ thống Công đoàn cần nâng cao trách nhiệm vận động và tuyên truyền, đưa chủ trương đúng đắn về nâng độ tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong pháp luật lao động sớm đi vào cuộc sống.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 06/12/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 06/12/2018
07/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Quy định về việc tặng quà và nhận quà tặngQuy định về việc tặng quà và nhận quà tặng

          Ngày 01 tháng 7 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng, bao gồm 11 Chương và 89 điều.

Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; người có chức vụ, quyền hạn công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong phòng, chống tham nhũng; Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức này thực hiện các quy định tại Chương VII của Nghị định. Trong đó các nội dung về việc tặng quà, nhận quà, báo cáo nộp lại quà tặng, xử lý quà tặng, xử lý vi phạm quy định về tặng quà và nhận quà tặng được quy định trong Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được xem là nổi bật với nội dung cụ thể như sau:

          Thứ nhất, quy định về việc tặng quà

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn chỉ được sử dụng tài chính công, tài sản công để làm quà tặng vì mục đích từ thiện, đối ngoại và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật; Việc tặng quà phải thực hiện đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định của pháp luật; cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị mình theo đúng quy định của pháp luật.

          Thứ hai, quy định về việc nhận quà tặng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp không từ chối được thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định về xử lý quà tặng.

Thứ ba, quy định về báo cáo, nộp lại quà tặng

          Cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải giao lại quà tặng cho bộ phận chịu trách nhiệm quản lý quà tặng của cơ quan, đơn vị đó để xử lý theo quy định về xử lý quà tặng.

           Người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và nộp lại quà tặng để xử lý quy định về xử lý quà tặng trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng. Nghị định quy định cụ thể báo cáo được thể hiện bằng văn bản và có đầy đủ các nội dung: Họ, tên, chức vụ, cơ quan, địa chỉ của người tặng quà; loại và giá trị của quà tặng; thời gian, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể khi nhận quà tặng; mối quan hệ với người tặng quà.

          Thứ tư, quy định về xử lý quà tặng

Đối với quà tặng bằng tiền, giấy tờ có giá thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp nhận, bảo quản và làm thủ tục nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Đối với quà tặng bằng hiện vật, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, bảo quản và xử lý bằng cách xác định giá trị của quà tặng trên cơ sở giá của quà tặng do cơ quan, đơn vị, cá nhân tặng quà cung cấp (nếu có) hoặc giá trị của quà tặng tương tự được bán trên thị trường. Trong trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì có thể đề nghị cơ quan có chức năng xác định giá; Quyết định bán quà tặng và tổ chức công khai bán quà tặng theo quy định của pháp luật; Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu được sau khi trừ đi chi phí liên quan đến việc xử lý quà tặng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán quà tặng.

Đối với quà tặng là dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục - đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước hoặc ngoài nước, dịch vụ khác thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ về việc không sử dụng dịch vụ đó.

Đối với quà tặng là động vật, thực vật, thực phẩm tươi, sống và hiện vật khác khó bảo quản thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể và quy định của pháp luật về xử lý tang vật trong các vụ việc vi phạm hành chính để quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xử lý quà tặng, cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý quà tặng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người tặng quà hoặc Cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tặng quà để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Thứ năm, quy định về xử lý vi phạm quy định về tặng quà và nhận quà tặng

Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng cho Nhà nước. Cá nhân sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng thẩm quyền, không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nhà nước.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm quy định về nhận quà tặng, xử lý quà tặng, người có chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định về nhận quà tặng, báo cáo, nộp lại quà tặng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nhà nước.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2019.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Quyền tiếp cận thông tin của công dânQuyền tiếp cận thông tin của công dân

Luật Tiếp cận thông tin được Quốc hội thông qua ngày 06/4/2016 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018. Luật Tiếp cận thông tin gồm 5 chương, 37 điều, quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; quyền, nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.       

Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân được cụ thể hóa trong Luật Tiếp cận thông tin về nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Luật đưa ra 06 nhóm nguyên tắc (Điều 3) như sau: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Để thực hiện nguyên tắc "mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt, đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin", Điều 4 của Luật Tiếp cận thông tin quy định cụ thể chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin như sau:

Công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Luật này.

Người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người giám hộ.

Người dưới 18 tuổi yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp luật về trẻ em và luật khác có quy định khác.

Luật Tiếp cận thông tin quy định thông tin công dân được tiếp cận, không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện, cụ thể: Các thông tin mà công dân được tiếp cận là thông tin của cơ quan nhà nước (gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp) trừ thông tin không được tiếp cận hoặc thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện.

Thông tin công dân không được tiếp cận gồm (Điều 6): Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật.

Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật này.

Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ.

Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin quy định thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện gồm:

Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý.

Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý; thông tin liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan nhà nước quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng theo quy định của luật có liên quan mà không cần có sự đồng ý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Bên cạnh đó, Luật Tiếp cận thông tin quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin. Công dân có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; được khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin. Đồng thời công dân có nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin; không làm sai lệch nội dung thông tin đã được cung cấp; không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Công dân được tiếp cận thông tin bằng các cách thức sau: Tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai; Yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Khi  công dân được cung cấp thông tin (thông tin được cơ quan nhà nước công khai) thì không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp luật khác có quy định. Người yêu cầu cung cấp thông tin phải trả chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin.

 Người yêu cầu cung cấp thông tin có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với cơ quan nhà nước, người có trách nhiệm cung cấp thông tin. Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin. Khiếu nại, khởi kiện, tố cáo trong việc tiếp cận thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính.

23/02/2017 3:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊADANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏGhi chú
01Nghị định132/2015/NĐ-CP25/12/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa01/7/2016  
16/02/2016 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 22/8/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 22/8/2018
23/08/2018 4:00 CHĐã ban hành
Giấy khai sinh quan trọng như thế nào?Giấy khai sinh quan trọng như thế nào?
Khai sinh được xem là thủ tục cần thiết của mỗi cá nhân ngay từ khi sinh ra, đó là loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người. Khi có Giấy khai sinh, người đó đã là một công dân có đủ mọi quyền và nghĩa vụ theo pháp luật đối với nhà nước và xã hội, tất cả mọi thông số liên quan đến cuộc đời một công dân, luôn bắt đầu từ hộ tịch gốc này, các giấy tờ tùy thân k...

Khai sinh được xem là thủ tục cần thiết của mỗi cá nhân ngay từ khi sinh ra, đó là loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người. Khi có Giấy khai sinh, người đó đã là một công dân có đủ mọi quyền và nghĩa vụ theo pháp luật đối với nhà nước và xã hội, tất cả mọi thông số liên quan đến cuộc đời một công dân, luôn bắt đầu từ hộ tịch gốc này, các giấy tờ tùy thân khác như hộ khẩu, chứng minh nhân dân, học bạ, văn bằng, chứng chỉ... đều phải tuân thủ các nội dung trong giấy khai sinh. Tuy Giấy khai sinh quan trọng như vậy nhưng trên thực tế không phải ai cũng hiểu biết pháp luật và tuân thủ theo quy định của pháp luật, dẫn đến nhiều trường hợp dở khóc dở cười khi liên quan đến giấy khai sinh, gây ra nhiều rắc rối mà chính các cơ quan quản lý nhà nước có lúc cũng chưa biết phải giải quyết ra sao.

Đầu tiên có thể nói đến đó là vấn đề khai sinh cho con ngoài giá thú. Nhiều cặp vợ chồng trẻ đã tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn, rồi những đứa bé lần lượt ra đời, họ phớt lờ quy định của pháp luật có liên quan đến một người mới được sinh ra, không đi làm giấy khai sinh cho con mình, bỏ qua những quyền mà con mình đáng được hưởng.

Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định về thủ tục đăng ký khai sinh như sau:

Trong trường hợp không đăng ký kết hôn, vào thời điểm làm giấy khai sinh cho trẻ người cha có thể tiến hành thủ tục nhận con, UBND xã/phường sẽ kết hợp việc nhận cha và làm giấy khai sinh cho trẻ, theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh. thời hạn đăng ký khai sinh là trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh trẻ. Như thế thì việc không đăng ký kết hôn không đồng nhất việc không đăng ký khai sinh cho con được, thủ tục đăng ký cũng khá đơn giản, vì vậy, dù muốn hay không khi những đứa bé đã được sinh ra thì người làm cha mẹ hãy để cho con mình được hưởng quyền công dân mà pháp luật đã quy định.

Vấn đề thứ hai đó là mượn giấy khai sinh cho con đi học. Nhiều người cha người mẹ do hoàn cảnh sinh nhiều con, khi đi khai sinh thì lại “làm biếng” đi khai sinh hay vì sợ gặp thủ tục phiền hà của cơ quan nhà nước nên có khi khai sinh cho một đứa mà dùng chung cho hai ba đứa, các con sinh kề tuổi nên đặt trùng tên… có ai góp ý thì nói cho qua như mai mốt đi làm lại, con tui tui đặt tên thế nào là quyền của tui… cho nên khi có việc xảy ra thì hậu quả thật khó lường. Hiện nay, pháp luật về hộ tịch không quy định rõ trường hợp mượn giấy khai sinh người khác phải xử lý như thế nào, dù việc mượn giấy khai sinh không phải lỗi của những người con nhưng hệ quả chính những người con phải gánh chịu. Điều đáng nói là Giấy khai sinh đi mượn kia lại được cấp đúng thẩm quyền và trình tự đã được pháp luật quy định, không có sai sót nên không thể làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch đươc. Pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể để chế tài đối với hành vi mượn giấy khai sinh của người khác hoặc cho người khác mượn giấy khai sinh để sử dụng. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp chỉ xử phạt đối với các hành vi như: đăng ký khai sinh không đúng hạn, sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch nội dung các giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh hay sử dụng các giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký khai sinh. Còn về bằng cấp, để được cấp một tấm bằng thì phải tốn bao công sức của cả thầy và trò, quy định của pháp luật thì một số bằng không cấp lại như bằng tốt nghiệp phổ thông, bằng tốt nghiệp đại học… cho nên khi có chuyện xảy ra, việc sử dụng giấy khai sinh không đúng người thì trách nhiệm thuộc về ai, hậu quả ai sẽ chịu.

Trong cuộc sống hiện nay, phớt lờ những quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và hộ tịch để lại nhiều hệ lụy mà những đứa trẻ được sinh ra khi không có sự chuẩn bị đầy đủ của cha mẹ thường phải chịu những thiệt hại về vật chất và tinh thần. Cái tên cái tuổi là sự khởi đầu của một thế hệ, giấy khai sinh là nơi ghi dấu tất cả về nguồn gốc, nhân thân của con người đó; vì thế đừng vì sự thiếu hiểu biết, thờ ơ của cha mẹ để lại hậu quả không tốt cho con mình sau này. Hãy đi khai sinh đúng hạn (60 ngày) khi bé được sinh ra như một cách để xã hội thừa nhận sự tồn tại đó trong cuộc sống.

14/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Lê Hồng Diễm, SN: 1969 cư trú tại ấp Mỹ Thạnh, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, Bến TreThông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Lê Hồng Diễm, SN: 1969 cư trú tại ấp Mỹ Thạnh, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, Bến Tre
30/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Bản tin tư pháp số 280Bản tin tư pháp số 280
17/09/2019 11:00 SAĐã ban hành
Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?

Vợ chồng chung sống với nhau là tình nghĩa, là trách nhiệm, là cùng nhau vun đấp, xây dựng cho tổ ấm hạnh phúc của mình. Vợ chồng cùng nhau chăm lo cho gia đình và tạo ra của cải, vật chất để phục vụ đời sống gia đình và ai cũng mong ước gia đình mình luôn được vui vẽ, hạnh phúc, kinh tế được vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm đẹp, mọi việc luôn thuận lợi, khi bước vào đời sống hôn nhân, ai cũng mong muốn hạnh phúc nhưng không phải ai cũng đạt được và có những trường hợp vì lý do nào đó vợ chồng dẫn đến việc chia tay, có người chia tay trong êm đẹp, nhưng cũng có người chia tay trong mâu thuẫn, tranh cãi và tranh giành một cách gay  gắt, hầu hết những trường hợp chia tay mang tính "ầm ĩ" ấy là có liên quan về tài sản.

Có trường hợp, tại thời điểm ly hôn có tranh chấp với nhau về tài sản, nhưng cũng có trường hợp khi ly hôn, chỉ yêu cầu giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết về tài sản mặc dù có tài sản chung. Đối với trường hợp này, một số cặp vợ chồng vì muốn ly hôn nhanh nên muốn giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết tài sản để tránh tình trạng kéo dài, một số cặp vợ chồng vì lý do thỏa thuận được vấn đề về tài sản nên không yêu cầu giải quyết nhưng sau khi đã ly hôn thì phần lớn các cặp vợ chồng lại không thỏa thuận được, hoặc một bên không thực hiện những thỏa thuận ban đầu về việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng ly hôn, trước đây thỏa thuận được về việc phân chia tài sản là đất đai, nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi đã ly hôn thì không thỏa thuận được và tài sản trên vẫn là tài sản chung do chồng hoặc vợ đứng tên. Một số người không hiểu quy định pháp luật nên cho rằng khi ly hôn không yêu cầu chia thì ly hôn xong rồi không có quyền yêu cầu giải quyết; hoặc một bên vợ hoặc chồng đứng tên thì tài sản thuộc về người đó, không thể chia được là một ví dụ.

Theo quy định tại hhoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn thuộc một trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, khi có tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn, các bên vợ hoặc chồng đều có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân năm 2014 và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Song song đó, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều như: Điều 60 quy định về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn; Điều 61 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình; Điều 62 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn; Điều 63 quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn và Điều 64 quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 như đã nêu trên của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối với vấn đề chia tài sản là quyền sử dụng đất thì Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.

Từ những quy định pháp luật đã nên trên, thì việc chia tài sản khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều có thể thực hiện được, vì tùy từng thời điểm phát sinh tranh chấp mà vợ, chồng hoặc các bên vợ hoặc chồng có yêu cầu giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, và sẽ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và các luật khác có liên quan. Do đó, việc cho rằng tài sản do ai đứng tên sẽ thuộc về người đó và sau khi đã ly hôn, nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng thì sẽ không được giải quyết, đó hoàn toàn là những quan điểm chưa đúng, người dân cần suy nghĩ kỹ trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng đặc biệt là đối với hôn nhân, đồng thời cũng cần tìm hiểu thêm những quy định pháp luật để làm đúng, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh tình trạng hiểu sai lệch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bản thân.

30/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
​  Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019​  Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019

Chiều ngày 28/12/2018,  Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Công đoàn cơ quan tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019 nhằm tổng kết, đánh giá những thành tích đã đạt được, những tồn tại, khó khăn cần khắc phục trong năm qua đồng thời đề ra Nghị quyết cho năm 2019. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, bà Dương Thị Nhanh, Chủ tịch Công đoàn, các đồng chí trong Ban Giám đốc và hơn 50 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham dự Hội nghị. Hội nghị đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 03 đồng chí: Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp và bà Dương Thị Nhanh, Chủ tịch Công đoàn.

hoi-nghi-cbcc2.gif

Hội nghị đã thông qua các dự thảo Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2018; Báo cáo đánh giá tổng kết và kiểm điểm trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc thực hiện kế hoạch công tác năm; Báo cáo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; Quy chế thực hiện dân chủ; Quy chế làm việc; Quy chế chi tiêu nội bộ và Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm 2019.

hoi-nghi-cbcc1.gif

Hội nghị có nhiều ý kiến bàn các biện pháp cải tiến điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, dự thảo Quy chế chi tiêu nội bộ. Trong hoạt động công đoàn năm 2018, có nhiều tập thể và cá nhân xuất sắc được Công đoàn cơ sở trao giấy khen và đề nghị Công đoàn Viên chức tỉnh và Liên đoàn Lao động tỉnh khen thưởng. Trên cơ sở đánh giá kết quả trong năm 2018, thực hiện ký kết giao ước thi đua giữa người đứng đầu cơ quan với tổ chức công đoàn.

Hội nghị cũng đã bầu lại Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2019-2020 gồm 03 đồng chí và 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm 2019.

08/01/2019 11:00 SAĐã ban hành
Thường trực Tỉnh ủy làm việc với Sở Tư pháp về tình hình thực hiện công tác tư pháp năm 2015Thường trực Tỉnh ủy làm việc với Sở Tư pháp về tình hình thực hiện công tác tư pháp năm 2015

Sáng ngày 24 tháng 12 năm 2015, tại Hội trường Sở Tư pháp, Thường trực Tỉnh ủy chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Sở Tư pháp về tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp sau Đại hội Đảng bộ tỉnh và năm 2016. Đến làm việc có ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đại diện lãnh đạo Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh. Về phía Sở Tư pháp có ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp; tập thể Đảng ủy, Ban Giám đốc, trưởng các phòng, trung tâm trực thuộc Sở Tư pháp.

Thay mặt Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp, ông Nguyến Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp sau Đại hội Đảng bộ tỉnh và năm 2016.

tinh-uy-lam-viec.gif

Tại cuộc họp, Ban Giám đốc Sở, trưởng các phòng, trung tâm trực thuộc Sở tư pháp có ý kiến phân tích, làm rõ thêm những kết quả công tác tư pháp của năm 2015; đồng thời, đề xuất kiến nghị với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành có liên quan về những khó khăn, vướng mắc trong công tác tư pháp.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Hữu Phước và lãnh đạo sở, ngành liên quan cũng đánh giá cao kết quả công tác tư pháp trong thời gian qua, đồng thời chỉ ra những hạn chế, định hướng một số nội dung công tác tư pháp trong thời gian tới mà Sở Tư pháp cần phải khắc phục, để tham mưu triển khai thực hiện có hiệu quả.

Kết luận buổi làm việc, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi ghi nhận và biểu dương kết quả công tác của ngành Tư pháp trong thời gian qua, đồng thời đề nghị Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp nghiêm túc tiếp thu, khắc phục những hạn chế trong thời gia qua để vận dụng và triển khai thực hiện có hiệu quả trong thời gia tới; tập trung lãnh, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị đạt kết quả cao; kịp thời báo cáo, đề xuất Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh những vướng mắc, khó khăn; nhất là tập trung thực hiện tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; triển khai thực hiện có hiệu quả, đi vào chiều sâu Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật đã có hiệu lực thi hành; nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở…; nghiêm túc triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lầ thứ X, với phương châm “Dân chủ, kỹ cương, đoàn kết, năng động, đổi mới”, xây dựng Đảng bộ, nội bộ cơ quan trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác phối hợp, tích cực thực hiện nhiệm vụ là thành viên của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh; quan tâm củng cố đội ngũ pháp chế ngành và công chức Tư pháp-hộ tịch cấp xã./.

29/12/2015 3:00 CHĐã ban hành
Miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 11/2015/QĐ-TTg ngày 03 tháng 4 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủMiễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 11/2015/QĐ-TTg ngày 03 tháng 4 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 03 tháng 4 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2015/QĐ-TTg quy định về miễn, giảm tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở có nguồn gốc được giao (cấp) không đúng thẩm quyền trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo (Quyết định).

Theo đó, đối tượng áp dụng tại Quyết định này là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở có nguồn gốc được giao (cấp) không đúng thẩm quyền trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 45/2014/NĐ-CP) tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; gồm: Đất được Nhà nước giao hoặc cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuê quản lý, sử dụng nhưng cơ quan, tổ chức, đơn vị đã phân (cấp) không đúng thẩm quyền cho cán bộ, công nhân viên, người lao động của cơ quan, tổ chức, đơn vị làm nhà ở; Đất do người đứng đầu điểm dân cư, Ủy ban nhân dân cấp xã giao (cấp) không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác có liên quan.

Trong đó, danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo theo quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Thời điểm áp dụng danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo theo quy định tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ tại các thời kỳ để miễn, giảm tiền sử dụng đất là thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mức miễn, giảm tiền sử dụng đất được Quyết định quy định như sau: Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; Giảm 50% tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP trong hạn mức giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; Đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở (nếu có) thì hộ gia đình, cá nhân nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Hồ sơ đề nghị và nơi tiếp nhận hồ sơ miễn, giảm tiền sử dụng đất

Hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất gồm: Đơn đề nghị được miễn, giảm tiền sử dụng đất; trong đó ghi rõ: Diện tích, lý do miễn, giảm; Giấy tờ được cơ quan, tổ chức, đơn vị phân (cấp) đất làm nhà ở hoặc giấy tờ do người đứng đầu điểm dân cư, Ủy ban nhân dân cấp xã giao (cấp) đất làm nhà ở (bản sao). Trường hợp thất lạc, không còn lưu giữ được giấy tờ giao, phân (cấp) đất thì phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người đứng đầu điểm dân cư, Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã cấp đất làm nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân (bản chính). Các giấy tờ có liên quan về thửa đất (nếu có).

Việc nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất được thực hiện cùng với hồ sơ xin công nhận (cấp Giấy chứng nhận) quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường.

Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn của địa phương phối hợp với cơ quan thuế, tổ chức thực hiện việc miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2015.

21/04/2015 2:00 CHĐã ban hành
Trình tự, thủ tục công nhận báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật Trình tự, thủ tục công nhận báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật
Ngày 18 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BTP quy định trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền viên pháp luật và một số biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2014 và thay thế Thông tư số...

Ngày 18 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BTP quy định trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền viên pháp luật và một số biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2014 và thay thế Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2010 quy định về báo cáo viên pháp luật.

Theo đó, Thông tư này quy định trình tự, thủ tục công nhận báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện như sau:

Cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức pháp chế, đơn vị được giao phụ trách công tác pháp chế, phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình lựa chọn, lập danh sách cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật trình Lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, lập hồ sơ gửi Sở Tư pháp tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) xem xét, quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật.

Cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lựa chọn, lập hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật gửi Phòng Tư pháp tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện) xem xét, quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật.

Hồ sơ đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật được lập thành 01 bộ, bao gồm: Công văn đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật của cơ quan, tổ chức; Danh sách trích ngang người được đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này.

Hồ sơ đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật được nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện đến Sở Tư pháp (đối với báo cáo viên pháp luật tỉnh), Phòng Tư pháp (đối với báo cáo viên pháp luật huyện), ngoài bì ghi rõ hồ sơ đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ đó, cơ quan tiếp nhận trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do bằng văn bản.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật xem xét, ra quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật. Quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật được gửi tới cơ quan, tổ chức đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật và báo cáo viên pháp luật; được thông báo công khai theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Thông tư này. Báo cáo viên pháp luật được hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật kể từ khi Quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật có hiệu lực thi hành.

Về trình tự, thủ tục công nhận tuyên truyền viên pháp luật, Thông tư số 21/2013/TT-BTP quy định:

Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố thông báo công khai tiêu chuẩn tuyên truyền viên pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật; trình tự, thủ tục công nhận tuyên truyền viên pháp luật theo quy định của Thông tư này tới cơ quan, đơn vị và người dân trên địa bàn.

Trong tháng 6 và tháng 12 hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật (mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này) gửi công chức Tư pháp - Hộ tịch. Kể từ ngày nhận được danh sách đề nghị công nhận tuyên truyền viên pháp luật của Trưởng ban công tác Mặt trận, công chức Tư pháp - Hộ tịch xem xét, tổng hợp danh sách những người có đủ tiêu chuẩn làm tuyên truyền viên pháp luật, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, công nhận tuyên truyền viên pháp luật.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được danh sách đề nghị công nhận tuyên truyền viên pháp luật của công chức Tư pháp – Hộ tịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, ra quyết định công nhận tuyên truyền viên pháp luật. Quyết định công nhận tuyên truyền viên pháp luật được gửi cho Trưởng ban công tác Mặt trận và tuyên truyền viên pháp luật; được công bố công khai theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Thông tư này.

Ngoài ra, Thông tư số 21/2013/TT-BTP còn quy định Báo cáo viên pháp luật đã được công nhận theo quy định của Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2010 quy định về báo cáo viên pháp luật còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 35 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục là báo cáo viên pháp luật, không phải làm thủ tục công nhận lại; đối với báo cáo viên pháp luật không còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 35 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và Điều 6 của Thông tư này thì việc miễn nhiệm được thực hiện theo quy định của Thông tư này.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 19/9/2011Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 19/9/2011

THÔNG BÁO SỐ 666/TB-ĐG

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, hoa màu và công trình xây dựng trên đất của ông Thái Thanh Hải và bà Lê Thị Hoa Việt, cư ngụ tại: 271C Phan Đình Phùng, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
a) Về đất:
- Diện tích:  449,2 m2;Loại đất: 100 m2 đất thổ cư và 349,2 m2 đất vườn;
- Thuộc tờ bản đồ số 54, thửa  51;
b) Công trình xây dựng:
b1) Nhà ở: nhà cấp 4, hình dáng L. Kết cấu: móng cột, đà kiềng, khung sườn bêtông cốt thép kiên cố, nền lát gạch ceramic, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, trần bêtông cốt thép, mái bêtông cốt thép, hệ thống điện âm tường. Nhà ở gồm có : phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn và nhà bếp. Xây dựng năm 2002
b2) Hàng rào: Khung trụ bêtông cốt thép, lắp lưới B40, cao 1,8 m, chân hàng rào xây gạch dày 10 cm, cao 0,6 m. Cổng rào trụ bêtông cốt thép, cánh cổng rào bằng khung sắt, song đứng lắp lưới
c) Hoa màu trên đất gồm: 07 cây xoài, 01 cây mít, 02 cây mận, 05 cây bưởi,
- Tài sản tọa lạc tại: phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, Bến Tre
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, hoa màu và công trình xây dựng trên đất của ông Thái Thanh Hải và bà Lê Thị Hoa Việt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b+c): 1.218.085.611đ (Một tỷ hai trăm mười tám triệu không trăm tám mươi lăm ngàn sáu trăm mười một đồng).
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 26/9/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2011.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 02/11/2011  tại hội trường Sở Tư Pháp Tỉnh Bến Tre.
* Lưu ý : Thông báo này thay thư mời.
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 17 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết./.

THÔNG BÁO SỐ 668/TB-ĐG

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị Hoa và nhà của bà Nguyễn Thị Hoa, địa chỉ: phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
a) Về đất
- Diện tích: 57,9 m2 , loại đất: thổ cư; Thuộc tờ bản đồ số 05, thửa 32;
* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00140 QSDĐ/640 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 27/3/2003  cho hộ bà Nguyễn Thị Hoa;
b) Về nhà: (gắn liền với đất)
- Nhà cấp 4, diện tích xây dựng và sử dụng 49,5 m2;
- Kết cấu:  nền gạch bông, vách gạch, cột bêtông cốt thép, mái tole.
* Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 260/CN-XD do Sở xây dựng tỉnh Bến Tre cấp ngày 23/12/2003
- Tài sản tọa lạc: 98/114  Tán Kế, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị Hoa và nhà của bà Nguyễn Thị Hoa do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 495.000.000 đ (bốn trăm chín mươi lăm triệu đồng chẳn)
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 26/9/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2011
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 02/11/2011 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre
* Lưu ý: thông báo này thay thư mời
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 17 đường Cách Mạng tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết./.

THÔNG BÁO SỐ 669/TB-ĐG

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bờ (hiện ông Bờ đã chết; ông Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Hơn là con ông Bờ đang canh tác), địa chỉ tại: ấp 4, xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;
- Diện tích: 7.718 m2 ;
- Loại đất: 300 m2 đất thổ cư, 6.768 m2 đất lúa và 650 m2 đất lâu năm;
- Thuộc tờ bản đồ số 01, thửa 367, 757, 758;
* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 905 QSDĐ/177 QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 10/9/1996;
- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bờ (hiện ông Bờ đã chết; ông Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Hơn là con ông Bờ đang canh tác) do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 153.900.000 đ (Một trăm năm mươi ba triệu chín trăm ngàn đồng)
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 26/9/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2011
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 07giờ 30 phút ngày 02/11/2011 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre
* Lưu ý: thông báo này thay thư mời
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 17 đường Cách Mạng tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết./.

THÔNG BÁO SỐ 671/TB-ĐG

1.  Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Trần Văn Mung (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho bà Nguyễn Thị Kiếm), địa chỉ tại: ấp 3, xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;
- Diện tích: 1.047 m2 ;
- Loại đất: 300 m2 đất ONT, 747m2 đất HNK;
- Thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 197;
* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03260 do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri cấp ngày 10/4/2009
- Tài sản tọa lạc tại: xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà của ông Trần Văn Mung (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho bà Nguyễn Thị Kiếm) do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá là: 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 26/9/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2011
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 02/11/2011 tại Hội trường Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre.

2. Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Bùi Văn Chậu, địa chỉ tại: ấp Thạnh Ninh, xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;
a) Về đất:
- Diện tích: 7.916m2 ; Loại đất: 300m2 đất ONT, 720m2 đất CLN, 6.896m2 đất ao;
- Thuộc tờ bản đồ số 12, thửa 24, 28, 29;
* Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M070456, số vào sổ 550803 -000039 QSDĐ/268/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri cấp ngày 08/11/1997
b) Về nhà (nhà nằm trên thửa 24) có kết cấu: diện tích 120 m2 (dài 12 m, rộng 10 m) nền gạch bông, vách tường, cột ximăng, mái ngói
* Bán theo đơn xin xác nhận chủ quyền nhà ở của ông Bùi Văn Chậu do Ủy ban nhân dân xã Bảo Thuận xác nhận vào ngày 12/11/2003
- Tài sản tọa lạc tại: xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà của ông Bùi Văn Chậu do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 553.000.000 đ (Năm trăm năm mươi ba triệu đồng).
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 26/9/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2011
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 02/11/2011 tại Hội trường Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre.
* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 17 đường Cách Mạng tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết./.

THÔNG BÁO SỐ 673/TB-ĐG

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất (nhà ở, nhà xưởng, nhà kho) và dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc của bà Võ Thị Ngọc Lan, địa chỉ tại: 605 B5, khu phố 3, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;
a) Về đất:
- Diện tích: 2.830,1 m2 ;
- Loại đất: 390 m2 đất ở, 2.440,1 m2 (đất cây lâu năm và đất vườn);
- Thuộc tờ bản đồ số 14, thửa 39, 345;
* Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V745406, số vào sổ 03821 QSDĐ/3274/QĐUB do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cấp ngày 27/9/2002, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất AB 723867, số vào sổ PK/00597 QSDĐ/4464 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 07/4/2005
- Giá khởi điểm đất: 11.660.350.000 đ (Mười một tỷ sáu trăm sáu mươi triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng)
b) Tài sản trên đất gồm:
- Nhà ở: nhà chính và nhà phụ có diện tích 166 m2 (dài 20 m, rộng 8,3 m) có kết cấu: cột bêtông cốt thép, tường gạch, nền gạch men, mái tol, trần nhựa.
- Giá khởi điểm: 208.388.000 đ (Hai trăm lẻ tám triệu ba trăm tám mươi tám ngàn đồng)
* Bán theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 309/CN-XD do Sở Xây dựng tỉnh Bến Tre cấp ngày 11/12/2002
- Nhà xưởng: diện tích 147,5 m2, kết cấu: nền gạch men, tường gạch bao che, khung cột bêtông cốt thép, mái tole thiếc, trần nhựa.
- Giá khởi điểm: 152.654.985 đ (Một trăm năm mươi hai triệu sáu trăm năm mươi bốn ngàn chín trăm tám mươi lăm đồng)
- Nhà kho:
+ Kho 1 và kho 2: diện tích 1.003,1 m2, kết cấu: nền ximăng, vách tường lửng + tole bao che, khung cột thép, mái tole thiếc. Giá khởi điểm: 329.016.800 đ (Ba trăm hai mươi chín triệu không trăm mười sáu ngàn tám trăm đồng)
+ Kho 3: diện tích 418,8 m2, kết cấu: vách tường bao che, khung cột bêtông cốt thép, mái tole thiếc, nền đất. Giá khởi điểm: 293.160.000 đ (Hai trăm chín mươi ba triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng)
- Giá khởi điểm của tài sản trên đất (nhà ở, nhà xưởng, nhà kho): 983.219.785 đ (Chín trăm tám mươi ba triệu hai trăm mười chín ngàn bảy trăm tám mươi lăm đồng)
c) Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc gồm: máy xay thức ăn gia súc, moteur kéo 30 Hp, vít tải đưa thành phẩm, bồn dừa thức ăn đã xay, bồn trộn công suất 1 tấn / giờ, giá trị còn lại: 90%.
- Giá khởi điểm: 270.000.000 đ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng)
- Tài sản tọa lạc tại: phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, tài sản trên đất (nhà ở, nhà xưởng, nhà kho) và dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc của bà Võ Thị Ngọc Lan do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b+c): 12.913.569.785 đ (Mười hai tỷ chín trăm mười ba triệu năm trăm sáu mươi chín ngàn bảy trăm tám mươi lăm đồng)
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 26/9/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/10/2011
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 02/11/2011 tại Hội trường Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre.
* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 17 đường Cách Mạng tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết./.

28/09/2011 12:00 SAĐã ban hành
Giá trị của "vi bằng" Giá trị của "vi bằng"

Theo quy định hiện nay, Thừa phát lại thực hiện các chức năng được trao quyền, như: Tống đạt văn bản của cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự theo yêu cầu của đương sự và không được thực hiện những việc đã quy định tại Điều 6 và Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP của Chính phủ) trên địa bàn cấp tỉnh nơi đặt trụ sở Văn phòng Thừa phát lại mà mình đăng ký hoạt động. Bài viết dưới đây, tác giả đề cập đến một trong những chức năng của Thừa phát lại đó là hoạt động lập vi bằng.

"Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác".

Trong hoạt động tố tụng, chứng cứ luôn giữ vị trí trung tâm và hoạt động chứng minh là hoạt động cốt lõi trong suốt quá trình và luôn xoay quanh các chứng cứ để giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật. Theo quy định tại Khoản 9 Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vi bằng là một trong các nguồn chứng cứ; Điều 2 và Điều 28 Nghị định 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP của Chính phủ) cũng đã quy định: "Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án" và Khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC cũng khẳng định: "Vi bằng do Thừa phát lại lập là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ".

Do đó, với đặc điểm và tính chất riêng có, vi bằng được xác định có giá trị chứng cứ và là nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan tư pháp nói chung; trong tiến trình tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng nói riêng, cũng như hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án trong bối cảnh còn có nhiều hạn chế của nguồn chứng cứ hiện nay, như: Thiếu tính hệ thống, tính chặt chẽ; tính khách quan chưa cao…. Ngoài ra, vi bằng còn giúp Thẩm phán, Thư ký Tòa án không phải trực tiếp tiến hành xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ khi được phân công thụ lý giải quyết vụ việc tranh chấp, cũng như giúp các bên đương sự có điều kiện chứng minh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình. Qua đó, có thể giảm bớt chi phí cho cơ quan nhà nước, cũng như các chi phí khác có thể tiết giảm từ phí người dân trong quá trình theo đuổi vụ việc giải quyết tranh chấp tại Tòa.

Bên cạnh đó, vi bằng còn là cơ sở để các bên có liên quan căn cứ vào nội dung vi bằng khi xác định quyền và nghĩa vụ của mình khi thực hiện các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở nội dung của vi bằng, sẽ giúp các bên tham gia đàm phán, ký kết, thỏa thuận… nhìn nhận rõ hơn nghĩa vụ, quyền lợi của các bên và tự giác thực hiện đúng cam kết. Bởi trước khi quyết định, đã thấy trước trách nhiệm pháp lý mà bản thân có thể phải gánh chịu, nếu không thực hiện đúng các cam kết, thỏa thuận đã ghi trong vi bằng.

Tóm lại, vi bằng là nguồn chứng cứ quan trọng có giá trị chứng minh để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và làm căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Huỳnh Phan

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Báo cáo danh sách tổ chức đấu giá tài sản, chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sảnBáo cáo danh sách tổ chức đấu giá tài sản, chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản
07/08/2019 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/12/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/12/2019

   THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 210 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của bà Nguyễn Thị Nhàng và ông Võ Văn Xị, hiện cư ngụ tại: 36/4 ấp Quí An Hòa, xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 1.094,7m2;

- Mục đích sử dụng: 300m2 đất ONT và 794,7m2 đất CLN;

- Thửa đất số: 305, tờ bản đồ số 24.

2. Công trình xây dựng trên đất:

a) Nhà chính:

- Diện tích sử dụng: 75,44m2;

- Cấp hạng công trình: nhà cấp 4;

- Kết cấu: Móng cột dầm: Cột gỗ, vách tole, nền lát gạch ceramic, không trần, mái lợp tle fibro xi măng, kèo đòn tay bằng gỗ. Hiện trạng: đang sử dụng ngoại quan đã cũ.

b) Nhà phụ:

- Diện tích sử dụng: 40,47m2;

- Cấp hạng công trình: Nhà tạm;

- Kết cấu: Móng cột dầm bằng bê tông đúc sẳn, vách tole, nền xi măng, không trần, mái lợp tole fibro ximăng, kèo đòn tay bằng gỗ.

c) Nhà bếp:

- Diện tích sử dụng: 46,5m2;

- Kết cấu: Mái lá, cột cây tạp, nền tráng xi măng.

d) Mái che (hồ nước):

- Diện tích sử dụng: 31,32m2;

- Kết cấu: mái lá, nền tráng xi măng.

e) Chuồng bò:

- Diện tích sử dụng: 44,4m2;

- Kết cấu: Mái lá, nền tráng xi măng.

f) Chuồng gà:

- Diện tích sử dụng: 34,4m2;

- Kết cấu: Mái lá, nền đất.

g) Chuồng dê:

- Diện tích sử dụng: 9,36m2;

- Kết cấu: Mái lá, nền đất.

h) Nhà vệ sinh:

- Diện tích sử dụng: 4,3m2;

- Kết cấu: móng cột bê tông cốt thép, nền tráng xi măng, tường xây gạch.

i) Hồ nước (4 hồ): Thể tích: 0,57m3.

k) Sân đan: tráng xi măng: 68,4m2.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1: 15 cây.

- Dừa loại 2: 02 cây.

 * Tài sản (1 + 2 + 3) toạ lạc tại: xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Nhàng và ông Võ Văn Xị, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. 

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 196.833.374đ (Một trăm chín mươi sáu triệu, tám trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm bảy mươi bốn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Người mua trúng đấu giá phải nộp các khoản thuế, phí và lệ phí phát sinh trong quá trình  làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở (trừ thuế thu nhập).

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 39.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 04/12/2019 đến 17 giờ ngày 06/01/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hào Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 04/12/2019 đến 17 giờ ngày 06/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ  ngày 06/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 09/01/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 214 (KÈM QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 05 (năm) tàu cá của ông Nguyễn Văn Ngươn và bà Huỳnh Thị Cuốn, hiện cư ngụ tại: 17/III ấp 3, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tàu cá biển số đăng ký BT-95571-TS:

- Tên tàu: THANH HOÀNG                

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Ngươn

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá, Công dụng: Khai thác thủy sản

- Chiều dài Lmax,m 23,00, Chiều rộng: Bmax,m: 6,60

- Chiều cao mạn D, m: 3,60; Chiều chìm d,m: 3,00; Mạn thô f,m: 0,60

- Tổng dung tích: 116; Sức chở tối đa, tấn: 69,5

- Vật liệu vỏ: Gỗ  

- Động cơ: Máy chính: ký hiệu MTU 12V331, số máy 553736, công suất 1.577CV, xuất xứ: Đức

- Năm đóng: 1999

- Hiện trạng: tàu đang hoạt động

- Giá khởi điểm tài sản (1): 1.615.000.000đ (Một tỷ, sáu trăm mười lăm triệu đồng).

2. Tàu cá biển số đăng ký BT-95463-TS:

- Tên tàu: THANH HOÀNG       

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Ngươn

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá, Công dụng: Khai thác thủy sản

- Chiều dài Lmax,m 21,00, Chiều rộng: Bmax,m: 5,30

- Chiều cao mạn D, m: 2,60; Chiều chìm d,m: 2,10; Mạn thô f,m: 0,50

- Tổng dung tích: 61; Sức chở tối đa, tấn: 36,8

- Vật liệu vỏ: Gỗ  

- Động cơ: Máy chính: ký hiệu MTU 12V331, số máy 553613, công suất 1.577CV, xuất xứ: Đức

- Năm đóng: 1999

- Hiện trạng: tàu đang hoạt động

- Giá khởi điểm tài sản (2): 760.000.000đ (Bảy trăm sáu mươi triệu đồng).

3. Tàu cá biển số đăng ký BT-95564-TS:

- Tên tàu: THANH HOÀNG                

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Ngươn

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá, Công dụng: Khai thác thủy sản

- Hành nghề: Cào đôi (cái)

- Chiều dài Lmax,m 21.80, Chiều rộng: Bmax,m: 6,55,

- Chiều cao mạn D, m: 3,00; Chiều chìm d,m: 2,50; Mạn thô f,m: 0,50

- Tổng dung tích: 91; Sức chở tối đa, tấn: 54,5

- Hệ trục chân vịt, bánh lái: đúng đăng ký

- Vật liệu vỏ: Gỗ - composite: tàu đã cũ, có tình trạng xuống cấp

- Động cơ: Máy chính: ký hiệu MTU 12V331, số máy 553722, công suất 1.577CV, xuất xứ: Đức

- Năm đóng: 1996

- Hiện trạng: tàu đang neo đậu tại bến, không hoạt động, tàu đã cũ, xuống cấp

- Giá khởi điểm tài sản (3): 872.309.000đ (Tám trăm bảy mươi hai triệu, ba trăm lẻ chín ngàn đồng).

4. Tàu cá biển số đăng ký BT-94943-TS:

- Tên tàu: THANH HOÀNG       

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Ngươn

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá, Công dụng: Khai thác thủy sản

- Hành nghề: Cào đôi (cái)

- Chiều dài Lmax,m 22.20, Chiều rộng: Bmax,m: 6,65,

- Chiều cao mạn D, m: 3,60; Chiều chìm d,m: 3,10; Mạn thô f,m: 0,50

- Tổng dung tích: 113; Sức chở tối đa, tấn: 67,6

- Hệ trục chân vịt, bánh lái: không có

- Vật liệu vỏ: Gỗ -CM

- Động cơ: Máy chính: Không

- Năm đóng: 2000

- Hiện trạng: tàu đang neo đậu tại bến, một thời gian không hoạt động, tàu đã cũ, xuống cấp

- Giá khởi điểm tài sản (4): 803.907.000đ (Tám trăm lẻ ba triệu, chín trăm lẻ bảy ngàn đồng).

5. Tàu cá biển số đăng ký BT-94934-TS:

- Tên tàu: THANH HOÀNG       

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Ngươn

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá, Công dụng: Khai thác thủy sản

- Hành nghề: Cào đôi (đực)

- Chiều dài Lmax,m 18,90; Chiều rộng: Bmax,m: 4,70,

- Chiều cao mạn D, m: 2.30; Chiều chìm d,m: 1,80; Mạn thô f,m: 0,50,

- Tổng dung tích: 43; Sức chở tối đa, tấn: 26

- Hệ trục chân vịt, bánh lái: không có

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Động cơ: Máy chính: Không

- Năm đóng: 1999

- Hiện trạng: tàu đang neo đậu tại bến, một thời gian không hoạt động, tàu đã cũ, xuống cấp

- Giá khởi điểm tài sản (5): 193.240.000đ (Một trăm chín mươi ba triệu, hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

* Tài sản (1+2+3+4+5) đang nằm tại bến ghe phía sau nhà ông Ngươn và bà Cuốn tại số 17/III, ấp 3, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Ngươn và bà Huỳnh Thị Cuốn, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4+5): 4.244.456.000đ (Hai tỷ, năm trăm triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán riêng từng chiếc và chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 04/12/2019 đến 17 giờ ngày 12/12/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 04/12/2019 đến 17 giờ ngày 12/12/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 12/12/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 17/12/2019. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 224 (KÈM QC)

 

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, địa chỉ thường trú tại: ấp 4, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

  1. Về đất:

    - Diện tích: 584,9 m2 (trong đó có 96,5m2 đất trong hành lang lộ giới);

    - Mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn;

    - Thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 07.

    2. Công trình xây dựng trên đất:

    - Nhà chính: Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m). Nhà 02 tầng, móng cột bê tông, cốt thép, tường xây gạch 100mm hoàn thiện sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm.

    - Nhà trệt (phía sau nhà chính): Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m), cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng xây gạch 100mm, nền lót gạch ceramic, mái lợp tole thiếc, không la phong.

    - Nhà sau: Diện tích 39,16m2 (4,4m x 8,9m), cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền tráng xi măng, mai lợp tole thiếc, không la phong.

    - Mái che phía sau: Diện tích 21,9m2 (7,3m x 3m), cột bê tông cốt thép và gỗ tạp, nền tráng xi măng, mái lợp tole xi măng.

    - Mái che bên trong: Diện tích 44,1m2 (4,9m x 9m), mái lợp tole xi măng, nền tráng xi măng, tường xây gạch 100mm.

    - Mái che phía trước: Diện tích 48,8m2 (3,5m x 4,2m) + (5,5m x 6,2m), mái lợp tole thiếc, cột bê tông cốt thép, nền tráng xi măng .

    - Cửa rào: Gồm 02 cánh cửa bằng Inox, mỗi cánh dài 190cm, cao 2,5m; 01 khung sắt cao 2,5m, dài 02m.

    * Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

    * Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

    * Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.366.947.387đ (Một tỷ, ba trăm sáu mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi bảy đồng).

    * Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập; riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá chịu.

    - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ ngày 04/12/2019 đến 17 giờ ngày 06/01/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. (Mua tài sản liên hệ ông Cành, số điện thoại: 0903239404).

    - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 04/12/2019 đến 17 giờ ngày 06/01/2010 (trong giờ làm việc). Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản hoặc nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 91720000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

    - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 06/01/2020 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước là 273.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 91720000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

    - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 09/01/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

     

    * Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá địa chỉ tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667 và website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết./.

     

     
27/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn