Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Văn phòng Sở
Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 ... 
 
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá... 
 
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công ... 
 
Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau: 
 
Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư ... 
 
Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.  
 
Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉ... 
 
Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. 
 
Ngày 03 tháng 10 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định gồm 3 chương, 19 Điều quy định rõ chế độ quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan và người quản lý, bảo quản tang ... 
 
Nhà nước ta ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội, từ đó, xóa bỏ những định kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người phạm tội mà còn giáo dục mọi người trong xã hội rộng lượng, bao dung hơn đối với những người lầm lỗi vì sự tiến bộ, văn min... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngXử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hòa với không khí rộn ràng của những ngày sắp tết, hoạt động mua bán trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, hầu hết các dịch vụ, hàng hóa đều khá đa dạng và phong phú điều đó tạo điều kiện cho người dân có nhiều sự lựa chọn. Hàng hóa được mua bán rộng rãi thì các vấn đề về hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng cũng được bày bán với việc giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa rất tinh vi nên người ...

Hòa với không khí rộn ràng của những ngày sắp tết, hoạt động mua bán trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, hầu hết các dịch vụ, hàng hóa đều khá đa dạng và phong phú điều đó tạo điều kiện cho người dân có nhiều sự lựa chọn. Hàng hóa được mua bán rộng rãi thì các vấn đề về hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng cũng được bày bán với việc giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa rất tinh vi nên người dân khó có thể phát hiện đồng thời phần lớn người dân khi đi mua sắm vẫn còn tâm lý chủ quan không để ý đến nhãn hàng hoá cũng như hạng sử dụng của sản phẩm.

Liên quan đến các vấn đề về buôn bán hàng giả, ngày 15 tháng 11 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, hàng giả được quy định là những hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; tem, nhãn, bao bì giả.

Hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa Điều 13 của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định đối với hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa quy định tại điểm đ và e khoản 8 Điều 3 Nghị định này, mức phạt tiền như sau: Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị dưới 1.000.000 đồng; Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 1.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng; Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng; Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt quy định nêu trên đối với hành vi nhập khẩu hàng giả hoặc hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây: Là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh cho người mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; là phụ gia thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, chất tẩy rửa, diệt côn trùng, trang thiết bị y tế, xi măng, sắt thép xây dựng, mũ bảo hiểm.

Ngoài ra còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như: Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm.

Về biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa giả mạo đối với hành vi nhập khẩu hàng giả quy định tại Điều này; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này; buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí MinhHội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sáng ngày 20 tháng 8 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, dự Hội nghị có lãnh đạo Ban Tuyên giáo ...

 

Sáng ngày 20 tháng 8 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, dự Hội nghị có lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo các ban đảng tỉnh, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh; báo cáo viên cấp tỉnh; Trưởng các phòng của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Trưởng ban Tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy. Ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến dự.

 

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nêu rõ mục đích của việc tổ chức kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhằm tiếp tục khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Di chúc thiêng liêng và tấm gương đạo đức của Người; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Thông qua các hoạt động kỷ niệm, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.


 

 

Nội dung tuyên truyền cần tập trung ôn lại giá trị, tư tưởng, văn hóa trong Di chúc của Bác; về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tấm gương đạo đức của Người; về những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam qua 45 năm thực hiện Di chúc của Bác; kết hợp việc học tập Di chúc và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nêu gương tập thể và cá nhân điển hình; phổ biến kinh nghiệm và cách làm hay của đơn vị, địa phương trong thực hiện Di chúc và học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; chủ động đấu tranh, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lãnh tụ; phê phán những hành vi không đúng với lời dạy của Người.

 

Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể tổ chức ôn lại nôi dung, giá trị, ý nghĩa của Di chúc; gắn việc kiểm điểm, đánh giá kết quả 45 năm thực hiện Di chúc với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức triển khai, lòng ghép vào sinh hoạt ở các cơ quan chính quyền, đoàn thể các cấp bằng các hình thức phù hợp; tổ chức các chương trình nghệ thuật đặc biệt ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới; tổ chức hội thảo khoa học, tọa đàm, giao lưu; xây dựng và chiếu phim tài liệu…

 

Ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phân tích khá sâu hoàn cảnh và quá trình viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; những nội dung cốt lõi của Di chúc, giá trị cơ bản của Di chúc, ý nghĩa của Di chúc và những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam qua 45 năm thực hiện Di chúc.

 

Kết luận Hội nghị, ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các đảng ủy, các tổ chức chính trị -xã hội; các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; các cơ quan truyền thông, báo, đài Trung ương, địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể, chuẩn bị nội dung, tài liệu triển khai tại đơn vị, địa phương mình với nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn, xúc động, có sức lan tỏa sâu rộng trong Đảng và trong xã hội về kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

21/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Ngành Tư phápĐẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Ngành Tư pháp
Ngày 04 tháng 6 năm 2013, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 4300/BTP-TĐKT về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Theo đó, Bộ Tư pháp đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

 

Ngày 04 tháng 6 năm 2013, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 4300/BTP-TĐKT về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Theo đó, Bộ Tư pháp đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

Nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp". Thực hiện tốt Quy định số 101-QÐ/TW của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cơ quan, đơn vị.

Tổ chức, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, thực chất, hiệu quả chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp theo quyết định số 2659/QĐ-BTP ngày 03/10/2012 của Bộ Tư pháp. Ban hành quy định cụ thể hóa 05 chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp thành chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị theo hướng ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện, phù hợp với đặc điểm của cơ quan, đơn vị, vị trí công tác. Ðồng thời động viên, khuyến khích, hướng dẫn cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tự giác đề ra nhiệm vụ, chỉ tiêu phấn đấu thực hiện phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của mỗi người.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nguyện là người công bộc, tận tụy, trung thành của nhân dân. Nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức lối sống, chất lượng, hiệu quả công tác. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật, ý thức trách nhiệm; xây dựng cơ quan, đơn vị, cấp ủy, tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trong sạch, vững mạnh hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thực hiện tốt Quyết định số 822/QĐ-BTP ngày 8/4/2013 của Bộ Tư pháp ban hành chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị số 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2013; Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày 25/3/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc và các quy định của Bộ, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Các giải pháp chủ yếu

Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động về ý nghĩa, tầm quan trọng, mục đích, yêu cầu, nội dung về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 03-KH/BCHTW ngày 01/7/2011 của Ban Bí thư, Hướng dẫn số 13-HD/BTGTW ngày 07/9/2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương, Kế hoạch số 113-KH/BCSĐ ngày 28/12/2011 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp và Quyết định số 819/QĐ-BTP ngày 10/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cán bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nhận thức rõ việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn của Ðảng, vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, là công việc thường xuyên hàng ngày, là trách nhiệm cụ thể, thiết thân của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động.

Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc đẩy mạnh học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh kết hợp chặt chẽ với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay", với Quy định về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra đối với việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Tập trung lựa chọn các vấn đề trọng tâm, trọng điểm, vấn đề bức xúc, nổi cộm, những việc khó khăn phức tạp để bàn biện pháp khắc phục, giải quyết dứt điểm.

Thường xuyên quan tâm làm tốt việc phát hiện, lựa chọn những tập thể, cá nhân có cách làm sáng tạo, hiệu quả để xây dựng, nuôi dưỡng thành những mô hình mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, để tuyên truyền phổ biến nhân rộng, tạo sự lan tỏa trong toàn Ngành.

Bám sát hướng dẫn của cấp trên, tiếp tục đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên theo định kỳ của mỗi cơ quan, đơn vị, cấp ủy, tổ chức Đảng. Tổ chức học tập nội dung cụ thể từng chuyên đề hàng tháng. Hàng tháng kiểm điểm đánh giá những ưu điểm, kết quả đã làm được, nhận diện ra những vấn đề còn hạn chế, yếu kém, bức xúc nổi cộm, đề ra biện pháp tổ chức, chỉ đạo thực hiện dứt điểm để khắc phục hạn chế, yếu kém.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ để làm tốt công tác tham mưu giúp Thủ trưởng, cấp ủy, tổ chức Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này, đầu tư nghiên cứu, đề xuất những cách làm năng động, sáng tạo, cụ thể phù hợp với điều kiện của mỗi cơ quan, đơn vị để đưa việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Bác đi vào nền nếp, chất lượng và hiệu quả.

Quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc, việc thực hiện, kịp thời uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, những việc làm chưa tốt, cổ vũ, động viên, biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Lấy kết quả thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh làm một trong những tiêu chí để đánh giá, bình xét thi đua khen thưởng đối với tập thể, cá nhân trong Ngành./.

21/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ngành Tư pháp thực hiện cải cách tư pháp trên lĩnh vực bổ trợ  tư phápNgành Tư pháp thực hiện cải cách tư pháp trên lĩnh vực bổ trợ  tư pháp
Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh (CCTP) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác CCTP năm 2012 và đề ra Chương trình trọng tâm công tác tư pháp năm 2013. Đồng chí Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến dự.

Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh (CCTP) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác CCTP năm 2012 và đề ra Chương trình trọng tâm công tác tư pháp năm 2013. Đồng chí Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến dự.

Bà Trịnh Thị Thanh Bình, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, kiêm Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh thông qua báo cáo tóm tắt công tác cải cách tư pháp năm 2012 và Chương trình trọng tâm công tác tư pháp năm 2013.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, đồng chí Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy đánh giá cao kết quả hoạt động cải cách tư pháp năm 2012 có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp được nâng lên; tinh thần, trách nhiệm của độ ngũ cán bộ, công chức các cơ quan tư pháp được phát huy; chất lượng công tác điều tra, khám phá án, bắt giam, giữ, truy tố, xét xử và thi hành án được nâng lên; một số vụ việc nổi cộm kéo dài đã được giải quyết dứt điểm; không để xảy ra tình trạng xét xử oan, sai; án dân sự được kéo giảm; thi hành án dân sự có tiến bộ hơn trước; công tác bổ trợ tư pháp có nhiều tiến bộ, hoạt động công chứng, luật sư, trợ giúp pháp lý, giám định, định giá, đo đạt, bán đấu giá tài sản đạt kết quả khá tốt; các cấp ủy đảng, chính quyền có sự quan tâm, hỗ trợ, cũng cố tổ chức, bộ máy, tăng cường, bổ sung cán bộ cho các cơ quan tư pháp; mối quan hệ phơi hợp giữa các cơ quan tư pháp với cấp ủy, chính quyền cùng cấp và cấp trên ngày càng chặt chẽ hơn.

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đề nghị Ban Chỉ đạo CCTP tỉnh tiếp tục tham mưu đề xuất kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo CCTP tỉnh; Thường trực huyện ủy, thành ủy quan tâm lãnh đạo công tác CCTP ở cấp mình, đảm bảo phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp cấp huyện. Ban pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh tiến hành kiểm tra, giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có liên quan đến công tác tư pháp. Các cơ quan tư pháp tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy chế phối hợp trong hoạt động tố tụng; nâng cao chất lượng xét xử, không để án oan, sai, bỏ lọt tội phạm; hạn chế thấp nhất án hủy, sửa do lổi chủ quan của thẩm phán. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4; rèn luyện phẩm chất, đạo đức, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ các cơ quan tư pháp. Sở Tư pháp quan tâm hoạt động bổ trợ tư pháp, trong đó, đặc biệt quan tâm hoạt động của công chứng, luật sư, trợ giúp pháp lý, giám định, định giá, đo đạt, bán đấu giá tài sản.

23/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hạnh phúc mong manhHạnh phúc mong manh
Ngày đám cưới vốn dĩ là ngày hạnh phúc với tất cả những người yêu nhau, là kết tinh tình yêu của đôi trai gái, là ngày hai con người được gắn kết bởi một sợi dây mang tên “gia đình”. Hạnh phúc đó phải trải qua bao khó khăn mới đạt được, thế nhưng gìn giữ hạnh phúc ấy trọn quãng đời còn lại càng khó khăn biết bao.

Ngày đám cưới vốn dĩ là ngày hạnh phúc với tất cả những người yêu nhau, là kết tinh tình yêu của đôi trai gái, là ngày hai con người được gắn kết bởi một sợi dây mang tên “gia đình”. Hạnh phúc đó phải trải qua bao khó khăn mới đạt được, thế nhưng gìn giữ hạnh phúc ấy trọn quãng đời còn lại càng khó khăn biết bao.

Chị M và anh H kết hôn đã được hơn bảy năm. Anh H làm tài xế cho một công ty vận tải, còn chị M thì làm công nhân may. Hai người đã có một cậu con trai kháu khỉnh năm tuổi. Ngày ngày anh đi làm, chị cũng đi làm và quán xuyến chuyện nhà cửa, con cái. Cuộc sống gia đình vốn dĩ vẫn tốt đẹp. Nhưng khoảng nửa năm trở lại đây, anh H thường về muộn, hay cáu gắt với chị M. Rồi những cuộc cãi vả, anh bỏ nhà đi mấy ngày không về. Gần đây, tình trạng này trở nên thường xuyên hơn, có khi anh đi không về mà chẳng có lý do. Anh không còn quan tâm nhiều đến gia đình, thậm chí đứa con nhỏ cũng không cảm nhận được tình thương của cha nó. Những bữa cơm thiếu vắng nụ cười, ngôi nhà thiếu vắng bóng hình người đàn ông che chở, không khí gia đình ngày một ảm đạm. Chị M lầm lũi chăm sóc con, chăm sóc gia đình nhỏ. Hạnh phúc gia đình đang tan vỡ từng ngày.

Rồi chuyện gì đến cũng đến, một ngày, anh trở về nhà và nói muốn ly hôn, rồi bỏ nhà đi biệt. Chị M tìm đến công ty anh H để gặp anh nhưng không gặp được anh mà chỉ gặp người quản lý của anh. Vì cũng có biết nhau nên người quản lý cũng có trao đổi với chị chuyện gia đình, rằng H có người khác bên ngoài. Dù chị vẫn không làm gì có lỗi, dù chị đã luôn cố gắng vun vén hạnh phúc gia đình, chồng chị vẫn có người khác bên ngoài, không quan tâm đến vợ con. Chị vẫn tận tụy với gia đình nhỏ, với đứa con thơ, còn anh thì đi biệt. Bản thân chị M vẫn thương chồng, thương con, không muốn con thiếu vắng tình thương, nhưng còn anh, mải mê với niềm vui mới… Một bên đã không còn thiết tha gìn giữ hạnh phúc ấy, một bên lại cố níu giữ hạnh phúc vốn đã rạn nứt không cách nào hàn gắn thì ly hôn là một giải pháp. Nhưng cũng từ đó một gia đình tan rã; đứa con thơ từ đó mà mất đi một gia đình trọn vẹn, mất đi niềm hạnh phúc được yêu thương tròn đầy của cả cha và mẹ trong những chuỗi ngày khôn lớn.

Gia đình hạnh phúc không phải chỉ có một người là có thể xây dựng được, nó cần được mỗi thành viên trong gia đình quan tâm, vun đắp. Nếu như vợ chồng chung sống với nhau mà không có được hạnh phúc thì ly hôn là một cách giải thoát làm lại cuộc đời, tìm kiếm hạnh phúc thực sự. Nhưng suy xét lại, bản thân chúng ta đã hết lòng với gia đình nhỏ của mình hay chưa; bản thân ta có ích kỷ, chỉ sống cho bản thân quá nhiều mà quên mất rằng người thân của mình cũng cần được yêu thương, quên mất trách nhiệm với những người thân yêu. Hạnh phúc là một món quà không dễ dàng có được, tuy thế hạnh phúc cũng mong manh dễ vỡ, do đó chúng ta cần phải biết vun đắp, giữ gìn và trân trọng.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hoạt động Trợ giúp pháp lý lưu động - thực trạng và giải phápHoạt động Trợ giúp pháp lý lưu động - thực trạng và giải pháp
Cùng với việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý. Công tác trợ giúp pháp lý lưu động được đánh giá là hình thức trợ giúp pháp lý đạt hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân tại cơ sở. Hoạt động này thu hút được nhiều đối tượng tham gia, tại một địa điểm nhất định. Chính vì vậy, bên cạnh việc tư vấn, giải đáp thắc mắc cho từng đối tư...

Cùng với việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý. Công tác trợ giúp pháp lý lưu động được đánh giá là hình thức trợ giúp pháp lý đạt hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân tại cơ sở. Hoạt động này thu hút được nhiều đối tượng tham gia, tại một địa điểm nhất định. Chính vì vậy, bên cạnh việc tư vấn, giải đáp thắc mắc cho từng đối tượng thông qua các vụ việc cụ thể, Trung tâm trợ giúp pháp lý đã linh hoạt kết hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho tất cả các đối tượng tham dự qua hình thức báo cáo chuyên đề pháp luật, phát tờ gấp pháp luật.

Nội dung tuyên truyền tập trung vào các quy định pháp luật về: Luật TGPL; Luật Dân sự, Bồi thường và tái định cư khi bị thu hồi đất; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân - Gia đình, Luật Giao thông đường bộ; Luật Đất đai; tội phạm vị thành niên; bạo lực học đường; phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện…. Đặc biệt, tại những địa bàn có “điểm nóng” về khiếu kiện, tranh chấp thì việc tư vấn, hướng dẫn, giải đáp pháp luật đã góp phần không nhỏ trong việc “làm dịu” tình hình, giải tỏa vướng mắc pháp luật của người dân, góp phần giữ gìn ổn định an ninh chính trị, trật tự tại địa phương.

Trợ giúp pháp lý lưu động là phương thức bám sát dân, gần dân, về đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn để giúp đỡ về mặc pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách... tại nơi người dân cư trú và sinh sống. Người dân được cung cấp thông tin pháp luật, được giải đáp thắc mắc, hiểu thêm về các quyền và nghĩa vụ của công dân, nâng cao kiến thức pháp luật về các vấn đề mà họ quan tâm.

Hàng năm, Trung tâmTrợ giúp pháp lý phối hợp với Phòng Tư pháp, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh tổ chức các trợ giúp pháp lý lưu động đến từng địa phương để giới thiệu, sinh hoạt chuyên đề pháp luật và tư vấn trực tiếp giúp bà con giảm bớt việc đi lại hoặc đi lại khó khăn do điều kiện về phương tiện, công việc hoặc vì công việc làm ăn không thể bỏ đi xa nên không có điều kiện đến trung tâm yêu cầu trợ giúp pháp lý.

Nội dung trợ giúp pháp lý được chuẩn bị trên cơ sở các thông tin thu thập được về số lượng đối tượng, nhu cầu trợ giúp và yêu cầu của địa phương nơi đoàn đến trợ giúp, có thể lồng ghép trợ giúp pháp lý lưu động với chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật những quy định pháp luật mới ban hành trong cuộc trợ giúp pháp lý lưu động.

Qua khảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý của các đối tượng tại địa bàn, Trung tâm phối hợp Phòng Tư pháp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đoàn đến để xác định những lĩnh vực pháp luật nào người dân còn nhiều vướng mắc, cần phải tập trung giải quyết. Trên cơ sở đó, Trung tâm sẽ phân công cho Trợ giúp viên pháp lý, Chuyên viên trợ giúp pháp lý, Cộng tác viên soạn thảo kỹ nội dung, lĩnh vực pháp luật cần trợ giúp, chuẩn bị các tài liệu pháp luật cần thiết liên quan đến các lĩnh vực mà đối tượng thường có yêu cầu trợ giúp pháp lý và những giấy tờ cần thiết khác. Ngoài ra, Trung tâm Trợ giúp pháp lý chuẩn bị thêm các tờ gấp pháp luật để cấp phát cho người tham dự qua đó thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng tham gia cuộc trợ giúp pháp lý lưu động.

Thông báo, tuyên truyền về việc tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động: Đây là công việc rất quan trọng, nếu không thông báo cho nhân dân biết thì tất cả quá trình chuẩn bị sẽ không có ý nghĩa, việc tiến hành trợ giúp pháp lý lưu động sẽ kém hiệu quả. Vì vậy, Phòng Tư pháp phối hợp UBND cấp xã, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ cùng cấp có kế hoạch thông báo rộng rãi cho nhân dân biết, đặc biệt đối với những người thuộc diện được trợ giúp theo quy định.

Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp với Phòng Phổ biến tuyên truyền pháp luật của Sở Tư pháp thực hiện nhiều chương trình truyền hình thông qua những câu chuyện pháp luật để tuyên truyền về Luật Trợ giúp pháp lý và những quy định của pháp luật có liên quan về trợ giúp pháp lý.

Trong năm 2012, Trung tâm đã thực hiện 54 đợt trợ giúp pháp lý lưu động, với 2.484 người dân tham gia (Nam: 1.349, nữ: 1.133), cấp phát 15.320 tờ gấp pháp luật, tư vấn cho 241 người (thuộc đối tượng: 43 người). Trung tâm trợ giúp pháp lý đã thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu đã đề ra trong năm. Trong 06 tháng đầu năm 2013 Trung tâm đã thực hiện 43 đợt trợ giúp pháp lý lưu động với 2.199 người dân tham gia (Nam: 987, nữ: 1.212), cấp phát 11.180 tờ gấp pháp luật, tư vấn cho 243 người (thuộc đối tượng: 40 người). Đã tuyên truyền pháp luật cho người dân về: Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật giao thông đường bộ; Luật đất đai; Tội phạm vị thành niên; bạo lực học đường; phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện; bồi thường và tái định cư khi bị thu hồi đất; Hụi, họ, biêu, phường. . .

Công tác trợ giúp pháp lý lưu động thực hiện đạt kết quả nêu trên là:  Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, lãnh đạo Sở Tư pháp, cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, sự phối hợp, ủng hộ, tạo điều kiện của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, nhất là đoàn thể cấp huyện, xã.

Đặc biệt, sự phối hợp thường xuyên của các phòng Tư pháp các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn để thực hiện tốt công tác trợ giúp pháp lý lưu động đạt nhiều kết quả tốt; sự hỗ trợ của Hội luật gia tỉnh trong việc cử cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lưu động mà không nhận thù lao hay công tác phí.

Tập thể Trợ giúp viên, cán bộ, viên chức của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nêu cao tinh thần, trách nhiệm, năng động, sáng tạo, trong hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện đa dạng, phong phú, tổ chức triển khai đến tận cơ sở, đạt nhiều kết quả đáng trân trọng.

Mạng lưới cộng tác viên đều khắp trên các địa bàn huyện, thành phố, đa số các cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý chủ động, tích cực và trách nhiệm cao đã tạo điều kiện cho hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng được phát triển sâu rộng và hiệu quả hơn;

Bên cạnh đó, vẫn còn một số khó khăn như: Kinh phí phục vụ cho công tác trợ giúp pháp lý lưu động hiện nay còn hạn chế, chế độ chính sách đối với người tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động còn rất thấp; phương tiện đi lại còn gặp nhiều khó khăn; trình độ, kỹ năng và kinh nghiệm của một số Trợ giúp viên, cộng tác viên hiện nay còn hạn chế; một số địa phương nhận thức chưa đúng về vị trí, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động; trong việc cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc cho người dân tại cơ sở, kịp thời giải quyết mâu thuẫn, tránh khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp... nên chưa tích cực phối hợp hoặc phối hợp chưa chặt chẽ, đồng bộ; còn có tâm lý “ngại giải trình” với người dân khi tham gia trợ lưu giúp pháp lý lưu động. Có một số địa phương đề nghị hoãn tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động nhiều lần mặc dù đã có kế hoạch, khảo sát từ trước. Ở một số địa phương người dân tham dự buổi trợ giúp pháp lý lưu động phần lớn là những người không thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý; là cán bộ chính quyền, đoàn thể, trưởng ấp tham dự nên hoạt động trợ giúp pháp lý của Trung tâm không đạt được mục đích; nguyên nhân do công tác tuyên truyền, phổ biến của chính quyền địa phương chưa đến được với người dân để họ hiểu rõ quyền lợi khi tham gia trợ giúp pháp lý.

Để thực hiện có hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian tới; cần tiếp tục triển khai Kế hoạch thực hiện Chiến lược trợ giúp pháp lý sâu, rộng hơn. Bên cạnh đó, cần có chế độ hỗ trợ bồi dưỡng thích hợp cho đoàn tham gia trợ giúp pháp lý lưu động. Cần linh hoạt về thời gian tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động cho phù hợp với điều kiện của người dân ở từng địa phương như: Có thể tổ chức ngoài giờ làm việc hoặc tổ chức vào buổi tối để tiện cho người dân tham gia.

25/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩmXử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Ngày 14 tháng 11 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (Nghị định).

Ngày 14 tháng 11 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (Nghị định).

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm.

Vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm quy định tại Nghị định này bao gồm: Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm xuất khẩu; Vi phạm quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn. Các hành vi vi phạm hành chính khác liên quan đến an toàn thực phẩm được quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính về thú y, thủy sản, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, thương mại, văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, lao động và các lĩnh vực khác thì được xử phạt vi phạm hành chính theo các Nghị định đó.

Trong đó, chủ kinh doanh thức ăn đường phố cần quan tâm đến quy định xử phạt tại Điều 22 của Nghị định, vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố như sau:

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Bày bán thức ăn không có bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm an toàn thực phẩm; không có dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, ngăn côn trùng và động vật gây hại; sử dụng nơi bày bán không cách biệt với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm; không có thiết bị bảo quản thực phẩm theo quy định; sử dụng dụng cụ ăn uống, chế biến, chứa đựng, bảo quản thực phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm; dùng tay tiếp xúc trực tiếp với thức ăn.

Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Sử dụng nước không đạt quy chuẩn kỹ thuật để chế biến, kinh doanh thực phẩm; sử dụng nguyên liệu để chế biến thức ăn không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, không bảo đảm an toàn; sử dụng phụ gia thực phẩm không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, không có trong danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng theo quy định, không bảo đảm an toàn; sử dụng bao gói chứa đựng thức ăn không bảo đảm an toàn thực phẩm; kinh doanh thức ăn không bảo đảm an toàn.

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh thức ăn đường phố không bảo đảm an toàn thực phẩm dẫn đến ngộ độc thực phẩm.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy nguyên liệu thực phẩm không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, hỏng, ôi, thiu, thối quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 22; phụ gia thực phẩm quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 22; thực phẩm hỏng, ôi, thiu, thối quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 22; Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm đối với hành vi quy định tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

24/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đọc bài báo dân vận của Bác Hồ để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, viên chức hiểu và làm tốt chức trách nhiệm vụ của mình trước nhân dân Đọc bài báo dân vận của Bác Hồ để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, viên chức hiểu và làm tốt chức trách nhiệm vụ của mình trước nhân dân
 Đã gần 64 năm trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ với bút danh X.Y.Z viết bài báo nói về công tác dân vận, được đăng trên báo Sự thất số 120, ngày 15 tháng 10 năm 1949, những tâm tư, tình cảm vừa tâm huyết, lại vừa mang tính giáo dục sâu sắc đó của Người cho đến hôm nay như vẫn còn nguyên giá trị, nhất là trong giai đoạn hiện nay những lời dạy đó của Bác càng đã trở thành những bài học có tính sống còn ...

Đã gần 64 năm trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ với bút danh X.Y.Z viết bài báo nói về công tác dân vận, được đăng trên báo Sự thất số 120, ngày 15 tháng 10 năm 1949, những tâm tư, tình cảm vừa tâm huyết, lại vừa mang tính giáo dục sâu sắc đó của Người cho đến hôm nay như vẫn còn nguyên giá trị, nhất là trong giai đoạn hiện nay những lời dạy đó của Bác càng đã trở thành những bài học có tính sống còn trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trong mỗi hoạt động của chính quyền và từng việc làm cụ thể của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.

Mở đầu bài viết một lần nữa Bác khẳng định lại bản chất của Nhà nước ta, (Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)“ Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, chính quan điểm này, mà từ khi Nhà nước ra đời, chúng ta luôn nhận thấy, từ Nghị quyết cho đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên và từng tổ chức trong hệ thống chính trị phải thấm nhuần quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng; sau khi dành được chính quyền về tay nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc được xem là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; trong thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước, nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng từng bước đạt được những thành tựu to lớn, bộ mặt thành thị và nông thôn của tỉnh có sự thay đổi ngày một cơ bản và toàn diện hơn trên tất cả lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường;

Để duy trì bền vững sự phát triển của xã hội, tìm được sự đồng thuận trong nhân dân “Huy động sức lực trong nhân dân để thực hiện các công việc của dân”, điều quan trọng nhất phải làm là công tác dân vận phải tốt, nghĩa là tất cả các ngành, các cấp, tất cả cán bộ Đảng viên, công chức, viên chức không trừ một ai trong hệ thống chính trị phải làm công tác vận động quần chúng, vận động nhân dân và toàn xã hội cùng tham gia thực hiện các công việc chung của xã hội, Bác viết “ Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc Chính phủ đã giao cho…Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” trước thực tiển yêu cầu của sự phát triển xã hội, công tác vận động quần chúng của Đảng cần có những đổi mới cơ bản, toàn diện cả về nhận thức cũng như hoạt động, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, cả nước đang tiến lên thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết của Đảng; để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải tích cực phối hợp thực hiện tốt công tác dân vận, mỗi cán bộ, đảng viên phải là một truyên truyền viên tích cực trong việc vận động quần chúng nhân dân “cùng lo cùng làm”, trong thực hiện biết phát huy dân chủ của người dân theo hướng “ …Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành” việc biết phát huy dân chủ với phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” sẽ góp phần quan trọng trong việc huy động sức đóng góp của nhân dân phục vụ vào công việc chung của công đồng và cuối cùng là người dân được hướng thành quả đó, mục tiêu này thời gian qua các ngành, các cấp, các địa phương ở tỉnh ta đã làm khá tốt, nhất là việc tổ chức các buổi đối thoại toạ đàm về thực hiện Quy chế dân chủ đến tận ấp, khu phố, cụ thể là lấy việc làm vì lợi ích của người dân để đem ra dân bàn bạc thống nhất và cùng đóng góp thực hiện, tuy nhiên một số nơi, một số địa phương thời gian qua chưa thấy hết tầm quan trọng của việc làm này, nên hiệu quả thực hiện công việc chưa cao, chưa phát huy hết nội lực trong nhân dân để cùng thực hiện công việc chung, thậm chí một số nơi còn áp đặt, để xảy ra mất dân chủ trong nội bộ làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân mất lòng tin vào cán bộ, vào tổ chức và thiếu an tâm tham gia vào các phong trào chung tại địa phương, đây được xem là những bài học sâu sắc mà mỗi cán bộ, đảng viên và từng tổ chức phải cần rút kinh nghiệm, bởi theo Bác “…Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân; thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” làm được việc đó giúp cho lòng tin của người dân đối với chính quyền ngày một vững chắt hơn, mọi việc sẽ được người dân đồng tình ủng hộ và việc làm được thuận lợi và hiệu quả cao hơn .

Bác chỉ ra “ Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách công tác dân vận…” theo Bác công tác dân vận không phải là trách nhiệm của riêng một tổ chức, đơn vị nào mà phải là nhiệm vụ chung của của cả hệ thống chính trị, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công tác dân vận chính quyền cần phải được quan tâm thực hiện thường xuyên và có hiệu quả hơn; chính quyền là nơi trực tiếp giảy quyết các yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, là nơi để nhân dân gửi gấm niềm tin, giúp nhân dân tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong cuộc sống, do đó, chính quyền phải làm tốt công tác vận động quần chúng, mỗi cán bộ cần phải hiểu và thấm nhuần quan điểm “ cán bộ là công bọc của nhân dân” để thừa hành công việc do nhân dân uỷ thác được tốt hơn, tránh tình trạng gây phiền hà, nhũng nhiễu đối với nhân dân, xây dựng niêm tin trong nhân dân.

Từ rất sơm Bác đã nhận thấy và chỉ ra một quan điểm sai lầm đó là:“ …Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử cán bộ kém rồi bỏ mặt họ…” tuy nhiên, hiện nay trong cách nghỉ và bố trí cán bộ làm công tác dân vận vẫn còn một số nơi, một số địa phương vẫn còn xem nhe công tác dân vận, chính vì vậy mà Bộ Chính trị đã ban hành quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/2/2010 về ban hành quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị, ở tỉnh ta đã có Quyết định số 1669-QĐ/TU về ban hành quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh, từ đó, tầm quan trọng của công tác dân vận được quan tâm hơn và ngày một phát huy được hiệu quả của nó; tuy nhiên, đòi hỏi trước hết mỗi cán bộ làm công tác dân vận tự mình phải nâng cao vai trò vị trí của mình bằng những việc làm hiệu quả, cụ thể, làm một cán bộ dân vận tốt theo Bác chúng ta “Cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh…” với những yêu cầu như vậy, để có được một cán bộ dân vận tốt chúng ta đổi mới nâng chất công tác dân vận thường xuyên, từng cấp uỷ cần quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, huy hoạch, trẻ hoá đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, tuyệt đối không đưa cán bộ kém chất lượng, mất uy tín về làm công tác dân vận, xây dựng hình ảnh người cán bộ dân vận “ Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với nhân dân”

Việc cuối cùng Bác dạy “Lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, để thực hiện được những lời dạy đó của Bác, mục tiêu cấp bách và có chiến lược lâu dày đối với đổi mới, nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng trong tình hình mới, đòi hỏi từng cấp uỷ đảng, từng tổ chức cá nhân trong hệ thống chính trị phải nêu cao tinh thần trách nhiệm công việc trước nhân dân, với phương vchâm việc gì có lợi cho nhân dân thì quyết tâm làm cho bằng được, việc gì gây nguy hại đến nhân dân thì tuyệt đối không làm; đọc bài báo dân vận của Bác cùng với việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương, đạo đức “ Phong cách quần chúng, dân chủ nêu gương của Chủ Tịch Hồ Chí Minh” làm cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức chúng ta càng hiểu hơn, càng trân trọng hơn với công tác dân vận, giúp mỗi người chúng ta trưởng thành hơn trong công việc và trong cuộc sống, đặc biệt là làm người đầy tớ thật trung thành, tận tuỵ trước nhân dân.

 

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009

 

P. CÔNG CHỨNG SỐ 1 MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG

CÔNG CHỨNG NĂM 2009

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ

 

Mục tiêu:

Giải quyết 100% hồ sơ công chứng hợp đồng giao dịch dân sự đúng theo quy định của pháp luật và cải tiến về thời gian theo quy trình của phòng Công chứng.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dânQuy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB...

Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Theo đó, Thông tư quy định các đối tượng không phải đóng học phí, được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cụ thể như sau:

Đối tượng không phải đóng học phí:

Học sinh tiểu học trường công lập; học sinh, sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy đang theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước, được Ngân sách nhà nước cấp bù học phí; người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đối tượng được miễn học phí:

Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Bao gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế. Cụ thể như: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa; trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ (Hiện nay đang được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015).

Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân: theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 87/2013/NĐ-CP ngày 30/7/2013 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với gia đình, thân nhân hạ sĩ quan, chiến sỹ đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân và khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 20/2012/TTLT-BQP-BTC ngày 06/3/2012 của Liên Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 88/2011/NĐ-CP ngày 29/9/2011 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ.

Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên); học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học; học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo. Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Sinh viên học chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; học sinh, sinh viên, học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp Y, Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối tượng được giảm học phí:

Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với dạy nghề (Danh mục các nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định).

Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ; học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở trong thời gian 3 năm kể từ ngày tốt nghiệp đi học trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp.

Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập:

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
 Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông
Trên cơ sở tổng kết Năm An toàn giao thông 2012 của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tại hội nghị trực tuyến, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định chủ đề Năm An toàn giao thông 2013 là “ Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông”.

 

 

Trên cơ sở tổng kết Năm An toàn giao thông 2012 của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tại hội nghị trực tuyến, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định chủ đề Năm An toàn giao thông 2013 là “ Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông”.

Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là:

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, chống ùn tắc giao thông.

- Đổi mới công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông đến mọi tầng lớp nhân dân để nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông, đẩy mạnh xây dựng văn hóa giao thông.

- Đẩy mạnh hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi nguy cơ cao gây tai nạn giao thông; xử lý nghiêm vi phạm của xe chở khách, xe tải, xe contenơ. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực của người thực thi công vụ trong khi làm nhiệm vụ.

- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông: quản lý việc đào tạo, sát hạch lái xe, đăng kiểm phương tiện giao thông, quản lý hoạt động vận tải; tổ chức giao thông sử dụng thông tin từ thiết bị giám sát hành trình.

- Tiếp tục duy trì và nhân rộng các giải pháp đột phá về khắc phục ùn tắc giao thông được thực hiện thành công tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh trong năm an toàn giao thông 2012, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp mới. Đầu tư thêm các cầu vượt nhẹ trong nội thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nâng cao hiệu quả quản lý lòng đường, vỉa hè./.

 

08/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IVSở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá...

Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV.

Theo đó, việc thực hiện phong trào thi đua sẽ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và có sự phối kết hợp chặt chẽ với thực hiện phong trào thi đua thường xuyên hàng năm với công tác khen thưởng và phong trào thi đua theo chuyên đề: “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”; phong trào thi đua “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và những phong trào thi đua khác do Bộ Tư pháp phát động.

Đối tượng phát động và thực hiện phong trào thi đua bao gồm tất cả những tập thể và cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Nội dung thực hiện phong trào thi đua tập trung vào nhóm các lĩnh vực về: công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động truyền thông, kiểm tra kiểm soát thủ tục hành chính; hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức...

Theo kế hoạch, phong trào thi đua được triển khai thực hiện đến trước ngày 31 tháng 8 năm 2015. Đồng thời, giao cho Văn phòng Sở tham mưu Giám đốc Sở tổ chức triển khai, phổ biến, theo dõi và đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch; tổng hợp, báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp theo dõi, chỉ đạo.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làmĐiều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Theo đó, Nghị định quy định Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định này là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền. Doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động dịch việc làm khi có đủ các điều kiện sau đây:

Địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh của doanh nghiệp phải ổn định và có thời hạn từ 03 năm (36 tháng) trở lên; nếu là nhà thuộc sở hữu của người đứng tên đăng ký doanh nghiệp thì trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải có giấy tờ hợp lệ, nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê từ 03 năm (36 tháng) trở lên.

Bộ máy chuyên trách để thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm bao gồm ít nhất 03 nhân viên có trình độ cao đẳng trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, lý lịch rõ ràng.

Đã thực hiện việc ký quỹ theo các quy định như sau: Tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết các rủi ro và các khoản phải đền bù có thể xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nộp tiền ký quỹ là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tại ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch chính (sau đây viết tắt là ngân hàng).

Doanh nghiệp thực hiện thủ tục nộp tiền ký quỹ theo đúng quy định của ngân hàng và quy định của pháp luật. Ngân hàng có trách nhiệm xác nhận tiền ký quỹ kinh doanh hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp được hưởng lãi suất từ tiền ký quỹ theo thỏa thuận với ngân hàng. Sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp, doanh nghiệp được hoàn trả tiền ký quỹ trong các trường hợp sau:

Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp không được cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép;

Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp nộp lại, bị thu hồi giấy phép.

Tiền ký quỹ được rút trong trường hợp nhận được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm xác nhận về việc giải quyết rủi ro hoặc các khoản đền bù xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.

Ngân hàng không được cho doanh nghiệp rút tiền ký quỹ khi chưa có ý kiến bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.

Bên cạnh đó, Doanh nghiệp cần phải chuẩn bị đầy đủ 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gửi đến cơ quan có thẩm quyền, bao gồm: Văn bản đề nghị cấp giấy phép của doanh nghiệp; Bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, xuất trình bản gốc để đối chiếu; Bản sao chứng thực Giấy xác nhận việc đã thực hiện ký quỹ theo quy định tại Điều 10 Nghị định này; Các giấy tờ chứng minh đủ điều kiện về địa điểm theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.

Đặc biệt, Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm chỉ có thời hạn tối đa là 05 năm (60 tháng). Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có quyền gia hạn, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 60 tháng. Trong thời hạn 30 ngày trước ngày giấy phép hết hạn, doanh nghiệp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép. Hồ sơ gia hạn giấy phép gồm: Văn bản đề nghị gia hạn giấy phép của doanh nghiệp; Giấy phép đã hết hạn; Bản sao các giấy tờ chứng minh đủ điều kiện cấp giấy phép quy định tại Điều 7 Nghị định này.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động mà Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của Doanh nghiệp  bị mất, bị hư hỏng hoặc thay đổi một trong các nội dung của giấy phép thì sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp lại.

Doanh nghiệp gửi 01 bộ Hồ sơ cấp lại giấy phép đến cơ quan có thẩm quyền, bao gồm: Văn bản đề nghị cấp lại giấy phép của doanh nghiệp; Giấy phép bị hư hỏng hoặc bản sao các giấy tờ chứng minh việc thay đổi một trong các nội dung của giấy phép.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sởHội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hà...

Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1322/STP-PB đề nghị Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia cùng cấp triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Triển khai quán triệt Công văn số 06/CV-MTTQ-BTT ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc yêu cầu Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở, Công văn số 22/CV-MTTQ-BTT ngày 22 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở và Công văn số 23/CV-HLG ngày 17 tháng 7 năm 2014 của Hội Luật gia tỉnh về việc tham gia hòa giải ở cơ sở đến cán bộ, công chức Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch, các tổ hòa giải ở cơ sở về mời hội viên Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở.

Tổ chức trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp giữa Phòng Tư pháp với Hội Luật gia các huyện, thành phố về mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.

Tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn triển khai đến tổ hoà giải, khi tổ chức hoà giải mời hội viên Hội Luật gia tham gia hoà giải (theo đúng quy định Điều 19 Luật Hoà giải ở cơ sở).

Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ thông báo đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn có liên quan về địa chỉ của huyện, thành hội, chi hội, hội viên; trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn thông báo đến tổ hòa giải để tổ hòa giải chủ động liên hệ trước với chi hội, hội viên Hội Luật gia để trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp.

Bên cạnh đó, Thường trực Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ tiếp nhận và tư vấn miễn phí cho đương sự đối với những vụ việc tổ hòa giải đang thụ lý để chuẩn bị hòa giải, nếu đương sự có yêu cầu và được tổ hòa giải giới thiệu đến.

Thời gian bắt đầu triển khai mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở: tháng 9/2014.

Hàng năm, phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho hội viên Hội Luật gia, có thể lồng ghép với tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho Hòa giải viên.

Định kỳ 6 tháng và hàng năm phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức sơ kết, đánh giá những mặt làm được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân để rút kinh nghiệm; qua đó đề xuất những giải pháp để hoạt động phối hợp công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn và báo cáo kết quả công tác phối hợp về Sở Tư pháp (có thể lồng ghép trong báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng và hàng năm).

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tư pháp Bến Tre: ban hành Kế hoạch thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và quản lý công tác bồi thường của Nhà nước năm 2013 Tư pháp Bến Tre: ban hành Kế hoạch thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và quản lý công tác bồi thường của Nhà nước năm 2013
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; đảm bảo hoạt động bồi thường của Nhà nước đi vào nề nếp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương; ngày 28 tháng 12 năm 2012 Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2075/KH-STP về thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp ...

 

 

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; đảm bảo hoạt động bồi thường của Nhà nước đi vào nề nếp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương; ngày 28 tháng 12 năm 2012 Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2075/KH-STP về thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và quản lý công tác bồi thường Nhà nước của ngành Tư pháp Bến Tre trong năm 2013.

Theo Kế hoạch, đối với công tác xây dựng văn bản, dự kiến trong năm 2013 Sở Tư pháp sẽ phối hợp xây dựng 01 Nghị quyết quy định mức chi đảm bảo cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp (dự kiến trình tại kỳ họp giữa năm của Hội đồng nhân dân tỉnh); phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành và theo dõi việc thực hiện Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị năm 2013 (dự kiến trong tháng 1/2013); tổ chức tập huấn về nghiệp vụ công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (trong Quý III/2013); tiến hành kiểm tra công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở 8 xã, phường, thị trấn và bảo đảm thực hiện tốt việc soạn thảo văn bản khi được Ủy ban nhân dân cùng cấp yêu cầu.

Ngoài ra, Sở sẽ tiếp nhận và thực hiện thẩm định, góp ý 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu; tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (Quý III/2013); hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường nhà nước cho các cơ quan, đơn vị.

Giám đốc Sở giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch này; có biện pháp bảo đảm thực hiện các công việc theo đúng tiến độ đã đề ra; cuối năm tổng hợp kết quả thực hiện Kế hoạch này và báo cáo Ủy ban nhân tỉnh.

Đồng thời, chỉ đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố căn cứ vào Kế hoạch này xây dựng kế hoạch chi tiết để tổ chức triển khai và thực hiện phù hợp với điều kiện của cấp mình; cuối năm báo cáo chuyên đề về việc thực hiện Kế hoạch này của địa phương gửi Sở Tư pháp tổng hợp.

 

09/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội đồng nhân dân tỉnh triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992Hội đồng nhân dân tỉnh triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992
 Ngày 15 tháng 01 năm 2013, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ông Võ Thành Hạo – Phó Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì hội nghị.

Ngày 15 tháng 01 năm 2013, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ông Võ Thành Hạo – Phó Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì hội nghị.

Trước đó, căn cứ Nghị quyết số 38/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, thực hiện Kế hoạch số 216/KH-UBDTSĐHP ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2012 tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Kế hoạch đã đặt ra mục đích, yêu cầu trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, đó là: phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của các tổ chức và nhân dân ở địa phương, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với việc sửa đổi Hiến pháp và thi hành Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở địa phương phải được tiến hành rộng rãi, dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực, chính xác, báo cáo về Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để tổng hợp báo cáo Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và Chính phủ đúng tiến độ thời gian.

Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, bao gồm: lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.

Căn cứ vào Kế hoạch này, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm ở cấp tỉnh, huyện, xã sẽ tiến hành đồng loạt các hoạt động nhằm tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Thời gian tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở địa bàn tỉnh bắt đầu từ ngày 08 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2013. Tài liệu phục vụ việc lấy ý kiến nhân dân được đăng tải trên trang thông tin điện tử http://duthaoonline.quochoi.vnhttp://www.bentre.gov.vn.

22/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật
Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 thá...

Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (các nội dung khác của Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg vẫn tiếp tục triển khai thi hành).

Bộ Tư pháp tổ chức triển khai làm thử việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng ở 3 cấp đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg trong 2 năm, từ năm 2014 đến năm 2015, tại các tỉnh: Quảng Bình, Thái Bình, Điện Biên, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh để Bộ có điều kiện tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này. Căn cứ vào kết quả làm thử, trong quý II năm 2016, Bộ Tư pháp tổng kết, đánh giá, báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg cho phù hợp.

Đồng thời, để Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước, ngày 15 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3120/BTP-PBGDPL về việc hướng dẫn thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tiếp cận pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao liên quan đến xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 12 của Quy định và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 7730/BTP-PBGDPL ngày 18/11/2013 về việc triển khai Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (trừ điểm 4 và điểm 5); đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2015 ở địa phương theo điểm 1 Công văn số 2961/BTP-PBGDPL ngày 03/7/2014 của Bộ Tư pháp về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và hòa giải ở cơ sở năm 2015.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ 5 tỉnh, thành phố được lựa chọn làm thử) báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg năm 2014 cùng với báo cáo chung về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm và gửi về Bộ Tư pháp (qua Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật). Nội dung báo cáo cần nêu rõ các hoạt động đã được thực hiện để triển khai thi hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và kiến nghị, đề xuất cụ thể các giải pháp để triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Báo cáo của địa phương cần nêu rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh, nhất là tính khả thi của các chỉ tiêu, tiêu chí; các giải pháp cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật tại địa phương; sáng kiến, kinh nghiệm trong xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật.

29/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệpPháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệp
Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực t...

Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Hiện nay, đa số các doanh nghiệp ở nước ta là vừa và nhỏ, trình độ chuyên môn và thực lực kinh tế còn hạn chế. Chính vì vậy, họ chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Làm sao để tồn tại, phát triển, có lợi nhuận,… mà ít quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, các doanh nghiệp hiện nay không có bộ phận pháp chế hoặc có nhưng vẫn còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, có chăng họ cũng chỉ quan tâm đến những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh để sinh lời như: Thương mại, dân sự, xây dựng,… mà ít quan tâm đến các quy định của pháp luật mang tính giải quyết hậu quả như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Đến nay, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cơ bản đã đầy đủ. Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến pháp luật về bồi thường của Nhà nước chưa được phổ biến một cách sâu, rộng đến các doanh nghiệp thông qua các kênh truyền thông. Nguyên nhân là do cơ sở vật chất, nhân sự của các cơ quan thẩm quyền còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc truyền tải thông tin, kinh phí dành cho việc thực hiện các công việc nêu trên còn khiêm tốn. Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp khi bị thiệt hại thường có tâm lý hoang mang và không có ý thức là mình sẽ được bồi thường, họ cũng chỉ thu thập các chứng cứ để minh oan, ít khi họ có động thái thu thập hoặc thu thập không đầy đủ chứng cứ để sau này làm căn cứ cho việc bồi thường thiệt hại.

Việc thương lượng giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước ít khi đi đến kết quả, do từ trước tới nay một số cơ quan nhà nước chỉ quen cầm cân nảy mực. Vì vậy, họ khó thông cảm đến thiệt hại của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày doanh nghiệp bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, khi khởi kiện đa phần doanh nghiệp có tâm lý kiện chắc gì đã thắng, một số doanh nghiệp còn theo lối tư duy cũ là khi bị thiệt hại thì hay dàn xếp hơn là tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường của Nhà nước để từ đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua những quy định của pháp luật hiện hành.

Do đó, tự bản thân doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng. Cùng với đó, doanh nghiệp nên thay đổi lối tư duy cũ thay vào đó là cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để vận dụng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi có thiệt hại xảy ra.

21/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thường trực Tỉnh ủy làm việc định kỳ với Khối nội chínhThường trực Tỉnh ủy làm việc định kỳ với Khối nội chính
Chiều ngày 17/6/2014, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức làm việc định kỳ với Khối nội chính để nghe các cơ quan nội chính báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2014. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đến dự và chủ trì cuộc họp.

Chiều ngày 17/6/2014, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức làm việc định kỳ với Khối nội chính để nghe các cơ quan nội chính báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2014. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đến dự và chủ trì cuộc họp.

Tại cuộc họp các đại biểu thống nhất đánh giá tình hình an ninh, trật tự 6 tháng đầu năm 2014 có nhiều diễn biễn phức tạp, nhất là những ngày gần đây, tình hình Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 đang diễn ra hết sức phức tạp, đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam tại Biển Đông. Tình hình trên đã ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, lòng yêu nước, cũng như những băn khăn, lo ngại của cán bộ, đảng viên về hành động ngan ngược của Trung Quốc.


Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các sở, ngành tỉnh và các huyện, thành phố phổ biến, quán triệt đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức yên tâm, bình tỉnh, tin tưởng tuyệt đối vào những chủ trương, chiến lược, sách lược khôn khéo, cương quyết của Đảng và Nhà nước ta. Chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Liên Đoàn lao động tỉnh kịp thời nắm tình, quản lý công nhân ở các Khu công nghiệp, học sinh, sinh viên ở các trường không được tham gia biểu tình gây rối; cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu, phần tử cơ hội lợi dụng xuyên tạc, kích động gây phức tạp tình hình, có những hành động, việc làm vi phạm pháp luật.

Tình hình phạm pháp hình sự được kéo giảm, xảy ra 266/267 vụ, chết 10/10 người, bị thương 49/49 người, thiệt hại trên 2.7 triệu đồng; đã điều tra làm rõ 228 vụ, khởi tố 212 vụ, 298 bị can; trong đó, tội giết người, xâm phạm tình dục trẻ em, cố ý gây thường tích, tội phạm ma túy, trộm cắp tài sản có xu hướng gia tăng; tính chất, hậu quả nghiêm trọng; tai nạn gia thông đường bộ tuy có giảm về số vụ, nhưng số người chết tăng cao (95/54 người); đáng chú ý là tội giết người do mâu thuẫn trong gia đình; tình trạng bắt, giữ người trái pháp luật.

Kết luận cuộc họp, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đánh giá cao sự nỗ lực phấn đấu của các ngành trong Khối nội chính, đã thể hiện vai trò trách nhiệm cao trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đề nghị các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhất là các cơ quan nội chính tiếp tục phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác nội chính trong thời gian tới; triển khai nghiêm túc Công văn số 192-CV ngày 15/5/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Công văn số 2008-CV/TU ngày 22/5/2014 của Bna Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các biện pháp đấu tranh với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặt quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”;

Nắm chắc diễn biến tình hình, kiểm soát chặt chẽ, triển khai có hiệu quả các giải pháp đấu tranh với các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu; đề xuất xử lý kịp thời, không để công nhân, sinh viên, học sinh và nhân dân tham gia biểu tình, gây rối.

Đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, không để lộ lọt bí mật, mất cắp tài sản, phá hoại, gây cháy nỗ, kéo giảm tội phạm giết người, xâm phạm tình dục trẻ em, cố ý gây thường tích, trộm cắp tài sản, tội phạm ma túy, tai nạn giao thông.

Củng cố, nâng cao chất lượng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh, Tổ quốc; phối hợp các ngành, đoàn thể tăng cường công tác tuyền truyền, giáo dục pháp luật, hoạt động trợ giúp pháp lý và hòa giải ở cơ sở; nhằm góp phần đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; kịp thời phát hiện, giải quyết, xử lý các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh tại cơ sở.

19/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
GIỚI THIỆU MÔ HÌNH DÂN VẬN KHÉO VỀ AN NINH TRÂT TỰ - Mô hình “Chiếc gậy an ninh” ấp Long Hoà II xã Long Định, huyện Bình ĐạiGIỚI THIỆU MÔ HÌNH DÂN VẬN KHÉO VỀ AN NINH TRÂT TỰ - Mô hình “Chiếc gậy an ninh” ấp Long Hoà II xã Long Định, huyện Bình Đại
 Nhằm phát huy hiệu quả hoạt động các mô hình dân vận khéo trên địa bàn toàn tỉnh; thông tin đến các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân được biết để nghiên cứu, học tập, vận dụng vào thực tiển công tác vận động quần chúng ở địa phương, đơn vị mình, đồng thời góp ý rút kinh nghiệm cùng xây dựng mô hình dân vận khéo được tốt hơn trong thời gian tới.

 

 

Nhằm phát huy hiệu quả hoạt động các mô hình dân vận khéo trên địa bàn toàn tỉnh; thông tin đến các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân được biết để nghiên cứu, học tập, vận dụng vào thực tiển công tác vận động quần chúng ở địa phương, đơn vị mình, đồng thời góp ý rút kinh nghiệm cùng xây dựng mô hình dân vận khéo được tốt hơn trong thời gian tới.

Với thực trạng của ấp Long Hoà II, xã Long Định cặp hai bên tuyến lô thuộc Tổ NDTQ số 01, 02 các hộ dân thường hay bị mất trộm chó, gà, vịt và trộm vặt, ý thức cảnh giác và sự phối hợp cùng nhau phòng chống tội phạm của người dân chưa cao, nên khi xảy ra sự việc đối tượng dễ dàng trốn thoát và an ninh trật tự nơi đây luôn không được ổn định.

Trên cơ sở đó ấp Long Hoà được huyện chọn thực hiện mô hình “Chiếc gậy an ninh”, bước đầu Ban vận động ấp phối hợp cùng Công an xã tổ chức mời các hộ dân cặp hai bên tuyến lộ để họp bàn về chủ trương và cách thức thực hiện mô hình, ngay lập tức chủ trương trên được nhân dân đồng tình và hưởng ứng rất cao; tiếp sau đó mỗi hộ dân đã cùng làm 25 chiếc gậy chiều dài 2m sơn màu trắng, đỏ (mỗi nhà một chiếc gậy) cùng 50m dây dù và 8 mõ tre (cứ 5 nhà sẽ có một mõ tre).

Mô hình được Công an huyện và chính quyền địa phương chủ trì diễn tập với tình huống đặt ra là “khi đối tượng trộm cắp thực hiện hành vi trên địa bàn tổ và bị phát hiện thì những tiếng mõ tre được đánh lên trong toàn tổ, các gia đình với gậy an ninh và dây dù cùng nhau truy bắt đối tượng giao nộp cho chính quyền địa phương, ngoài ra người dân trong tổ còn phân công nhau thay phiên tuần tra với gậy an ninh trên toàn địa bàn nhằm góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho nhân dân trong xóm, ấp”.

Từ khi triển khai và áp dụng mô hình này trên địa bàn ấp, ý thức tự giác phòng chống tội phạm của người dân trong khu vực được nâng lên, nhân dân đoàn kết một lòng cùng nhau phòng chống tôi phạm, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn giảm hẳn, trộm cắp và ăn cắp vặt trên địa bàn không còn xãy ra, đời sống bà con nhân dân trong khu vực ổn định, người dân an tâm làm ăn phát triển sản xuất và tăng thu nhập.

 

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2013Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2013
Sáng ngày 30/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) năm 2013. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Sáng ngày 30/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) năm 2013. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Ông Lê Văn Hoàng, Tỉnh Ủy viên, Phó Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải, Phó Ban Thường trực Ban ATGT tỉnh thông qua báo cáo kết quả công tác đảm bảo trật tự ATGT năm 2013 và triển khai nhiệm vụ công tác đảm bảo trật tự ATGT năm 2014; triển khai Nội dung  cam kết trách nhiệm về ATGT năm 2014 giữa Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.

Năm 2013, mặc dù các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp, mở nhiều đợt cao điểm tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm trật tự tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn chưa được kiềm chế, kéo giảm; tai nạn giao thông đường bộ đã xảy ra 149/110 vụ (tăng 39 vụ=35,45%), chết 152/119 người (tăng 33 người chết=27,73%), bị thương 73/53 người (tăng 20 người bị thương= 37,73%); so với năm 2012, tăng cả 3 tiêu chí. Va chạm giao thông đường bộ 213/352 vụ (giảm 161 vụ =56,95%), bị thương 332/498 người (giảm 196 người bị thương=62,87%). Va chạm giao thông đường thủy xảy ra 2/4 vụ.


Tình trạng trên là do ý thức chấp hành pháp luật về ATGT của một bộ phận người dân khi tham gia giao thông chưa cao, các vụ tai nạn giao thông phần lớn do lỗi đi không đúng phần đường quy định, chuyển hướng thiếu quan sát, bất cẩn, không làm chủ tai lái, tốc độ; uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn…; độ tuổi vi phạm đa số từ 18 đến 30 tuổi.

Tình trạng lấn chiến lòng, lề đường, vĩa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh vẫn còn xảy ra, nhất là tuyến QL 60 đường vào cầu Rạch Miễu, QL 57, tuyến sông huyện Mỏ Cày Nam.

Việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, chất lượng không đảm bảo, trích xuất thông tin không đầu đủ. Việc trang bị công cụ, phương tiện, hỗ trợ kinh phí cho lực lượng tuần tra, kiểm soát còn khó khăn, chưa kịp thời.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trần Anh Tuấn đánh giá sự nỗ lực, cố gắng tập trung của cả hệ thống chính trị, của các lực lượng nhưng tình hình trật tự an toàn giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp; một số địa phương để xảy tai nạn giao thông tăng cả 3 mặt.


Để thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2014, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trần Anh Tuấn đề nghị các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Ban ATGT các huyện, thành phố tiếp tục triển khai kế hoạch đảm bảo trật tự ATGT các ngày tết Dương lịch, tết Giáp Ngọ, lễ hội xuân năm 2014; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT trong cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân; trong đó tập trung đối tượng thanh, thiếu niên, các đối tượng cá biệt, có nguy cơ vi phạm trật tự ATGT; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, cải tiến nội dung, hình thức, xây dựng tiểu phẩm, lòng ghép trong các bản tin, trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành tỉnh sát hợp với cuộc sống, sinh hoạt của người dân; tổ chức sinh hoạt pháp luật về ATGT ở các câu lạc bộ, tổ nhân dân tự quản; củng cố Đội Thanh niên xung kích, các tổ chức đoàn trong các trường học, ấp, khu phố; tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm trật tự ATGT, nhất là uống rượu, bia quá nồng độ, dùng chất kích thích, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; chở quá khổ, quá trọng tải, quá số người quy định; xử lý kiên quyết việc lấn chiếm hành lang ATGT, lấn chiến lòng, lề đường, vĩa hè; nhất là ở các tuyến QL 60 đường vào cầu Rạch Miễu, QL 57, các tuyến sông thuộc huyện Mỏ Cày Nam; trang bị công cụ, phương tiện, hỗ trợ kinh phí kịp thời, và sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.

Nhân dịp này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tặng 04 Bằng khen cho 02 tập thể và 02 cá nhân; Ban ATGT tỉnh tặng giấy khen cho 18 tập thể và 43 cá nhân.

02/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Những bước chuyển biến trong công tác cải cách hành chính ở Bến TreNhững bước chuyển biến trong công tác cải cách hành chính ở Bến Tre
  Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, theo tinh thần Kế hoạch số 5814/KH-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh “về thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2011-2015”, ngày 13/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về “ Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai ...

Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, theo tinh thần Kế hoạch số 5814/KH-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh “về thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2011-2015”, ngày 13/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về “ Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020”, Sở Nội Vụ đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh phối hợp với các ngành chức năng trong tỉnh tăng cường thực hiện các nội dung trong công tác CCHC trên địa bàn tỉnh.

Đến nay, Đoàn kiểm tra công tác CCHC (thực hiện theo Kế hoạch số 05/KH-SNV của Sở Nội Vụ) đã tiến hành kiểm tra tại 3 huyện: huyện Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Bắc; 4 Sở gồm Sở Giao thông Vận tải, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Ngoài ra, các huyện, thành phố còn lại cũng đã xây dựng kế hoạch và tiến hành kiểm tra CCHC ở các cơ quan chuyên môn cấp huyện và UBND cấp xã. Qua đó, nghiêm túc chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, góp phần hoàn thiện công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân. Bên cạnh đó, công tác CCHC gắn với công tác dân vận chính quyền ngày càng được lãnh đạo các địa phương, đơn vị quan tâm quán triệt trong cán bộ công chức, viên chức thực hiện, cụ thể là nội dung “ Ba không, ba nên, ba cần” được niêm yết công khai trước trụ sở các cơ quan, đơn vị thực hiện và người dân theo dõi, giám sát.

Việc công khai và hướng dẫn đầy đủ, kịp thời các loại thủ tục hành chính thông qua nhiều hình thức như niêm yết công khai, trang tin, Website, báo đài đã góp phần làm cho người dân ngày càng tiếp cận dễ dàng với các loại thủ tục hành chính cho từng lĩnh vực theo nhu cầu của người dân. Toàn tỉnh có 17/17 sở ngành; 8/9 huyện, thành phố công khai thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (riêng Mỏ Cày Bắc mới thành lập bộ phận một cửa chưa thực hiện). Đến nay, trong toàn tỉnh có 270 thủ tục hành chính được ban hành; sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ cụ thể trong đó ban hành mới là 142, sửa đổi, bổ sung 64, bãi bỏ 57, thay thế 3, điều chỉnh tên 4. Tính đến nay, đã có 17/17 sở ngành tỉnh; 9/9 huyện, thành phố; 164/164 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa, 5/9 huyện, thành phố thực hiện cơ chế một cửa liên thông (Thành phố Bến tre, Ba Tri, Giồng Trôm, Chợ Lách, Bình Đại) và 4 mô hình liên thông cấp tỉnh gồm: Liên thông giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư – Công an tỉnh - Cục thuế tỉnh; Ban Quản lý các Khu công nghiệp-Sở Kế hoạch và Đầu tư -Sở Công thương; Sở Tư pháp – Văn phòng UBND tỉnh – Công an tỉnh; Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch - Sở Xây dựng - Sở Y tế - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch 744/KH-UBND của UBND tỉnh đến nay là 8.348 văn bản, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và UBND các cấp ban hành từ năm 1976 đến 31/12/2012 đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, đảm bảo về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã quyết định cử đi học 54 người (sau đại học 10, Đại học 44); bồi dưỡng chương trình chuyên viên chính cho 100 cán bộ, chương trình chuyên viên cho 225 cán bộ; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ 2.621 người (cán bộ công chức cấp xã 1.256 người); mở 2 lớp đào tạo nguồn chức danh Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn với 86 người tham dự; mở 1 lớp tin học trình độ A, 04 lớp tin học trình độ B với 103 học viên; về Anh ngữ mở 2 lớp anh văn trình độ B1 (theo chương trình khung Châu Âu) với 59 học viên, 2 lớp Anh văn trình độ B/76 học viên; bồi dưỡng An ninh - Quốc phòng tại Sóc Trăng cho đối tượng 2 là 22 người, Hà nội 02 người; thực hiện đề án Đào tạo 50 cán bộ, khoa học kỹ thuật trình độ sau đại học ở nước ngoài UBND tỉnh đã ra quyết định cử 2 úng viên đi học thạc sĩ tại Thái Lan, chuẩn bị đưa 2 ứng viên học thạc sĩ ở Hungary; phối hợp tổ chức 2 kỳ thi nâng ngạch cho cán bộ công chức, viên chức cấp tỉnh và các huyện, thành phố. Toàn tỉnh có 11/17 cơ quan chuyên môn và UBND thành phố Bến Tre có website, 22 đơn vị đã triển khai thực hiện hệ thống quản lý văn bản và điều hành (M-office), phần lớn các sở, ban, ngành tỉnh được trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị và phương tiện làm việc như bàn ghế, máy vi tính kết nối Internet và hệ thống mạng LAN; có 17/17 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và 9/9 UBND huyện, thành phố và 14 UBND xã, phường, thị trấn đã xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

Với việc triển khai đồng bộ, toàn diện trên các nội dung về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách hành chính công, hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước, đặc biệt UBND tỉnh đã triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ, giờ giấc làm việc và văn hoá ứng xử nơi công sở. Từ đó xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh, làm cho công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đạt những kết quả quan trọng trên nhiều mặt, đồng thời thực hiện tốt công tác dân vận chính quyền theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 ( khoá XI) “về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” đã đề ra.

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ...

Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Có 95 vụ việc được đánh giá, trong đó, 50 hồ sơ tư vấn pháp luật, 39 hồ sơ tham gia tố tụng, 06 hồ sơ hòa giải. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc theo các nội dung quy định tại Điều 21 Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và các quy định có liên quan của Bộ Tiêu chuẩn, bằng phương pháp đánh giá trực tiếp kiểm tra, nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ việc TGPL.

Kết quả số vụ việc TGPL đạt chất lượng tốt là 93 vụ việc (chiếm tỷ lệ 97,9 %), số vụ việc TGPL đạt chất lượng là 02 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1 %), không có  vụ việc TGPL không đạt chất lượng.

Tuy nhiên, chất lượng vụ việc TGPL cũng còn hạn chế, trong hồ sơ người thực hiện TGPL hướng dẫn đối tượng viết đơn yêu cầu TGPL còn nhiều trường hợp ghi thiếu thông tin (như chứng minh nhân dân, đối tượng….). Bên cạnh đó, còn một vài hồ sơ chưa lập phiếu phân công và sắp xếp hồ sơ theo đúng trình tự thời gian của vụ việc.

Qua đó, Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL yêu cầu người thực hiện TGPL rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện TGPL, nhất là ghi chép thông tin, lập phiếu, sắp xếp hồ sơ. Trung tâm TGPL tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, nhất là hướng dẫn các kỹ năng cho người thực hiện TGPL và tiếp tục phổ biến Thông tư 02/2013/TT-BTP về việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đến người thực hiện TGPL trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh sẽ tổ chức tập huấn cho Trợ giúp viên, Luật sư- cộng tác viên vào cuối tháng 8/2014.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến TreCông bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến Tre
Sáng ngày 10/6/2014, Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc họp công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh. Ông Trần Ngọc Tam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh đến dự và chủ trì cuộc họp.

Sáng ngày 10/6/2014, Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc họp công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh. Ông Trần Ngọc Tam, Ủy viên Ban Thường vị Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh đến dự và chủ trì cuộc họp.

Tham dự cuộc họp có đại diện Vụ gia đình – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban quản lý dự án “Xây dựng ứng phó quốc gia đối với bạo lực gia đình” Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA); thành viên Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh.

Ông Huỳnh Văn Hùng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể dục và Du lịch, kiêm Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh; thông qua Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh; Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh; ông Đàm Ngọc Hùng, Trưởng phòng Xây dựng Nếp sống Văn hóa và Gia đình, Sở Văn hóa, Thể dục và Du lịch, Ủy viên Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh, Tổ trưởng Tổ giúp việc triển khai một số nội dung có liên quan đến công tác gia đình.

Hiện nay, theo đồng hồ dân số (tính đến ngày 01/11/2013), dân số Việt Nam có khoảng 90.000.000 người (tính đến ngày 01/4/2012, có 88,526.883 người, tăng 915.936 người so với 01/4/2011). Trong đó, dân số nam 43.792.120, chiếm 49,5% tổng dân số. Ở Bến Tre, hiện có 348.753 hộ gia đình, với dân số là 1.256.882 người.

Thời gian qua, việc thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư khóa IX về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Hôn nhân và gia đình ở tỉnh ta đạt nhiều kết quả nhất định. Nhiều chương trình, kế hoạch về xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình được triển khai thực hiện nghiêm túc; công tác xây dựng gia đình theo tiêu chí “ Ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ và phát triển bền vững”  luôn được cấc cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, nhân dân quan tâm và hưởng ứng tích cực; góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình có nhiều chuyển biến. Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” ngày càng tăng. Nhiều mô hình “ Xây dựng nếp sống văn minh – gia đình văn hóa”, “Người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan”, “ Đền ơn đáp nghĩa”, “Vì người nghèo” …được tập trung triển khai nhân rộng khá tốt.


Tuy nhiên, công tác gia đình ở tỉnh ta trong thời gian qua cũng còn nhiều khó khăn, vướng mắc; phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phát triển mạnh về số lượng, nhưng ở một số địa phương chưa quan tâm đến chất lượng, chưa chú trọng nội dung xây dựng lối sống văn hóa trong từng gia đình. Tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng gia tăng, nhưng việc xử lý có nơi thiếu kiên quyết; kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa thật sự bền vững; nhiều tệ nạn ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, mai dâm …chưa được ngăn chặn triệt để, đã và đang len lỏi trong từng gia đình; nhiều vụ việc tiêu cực vẫn còn xảy ra, đã tác động xấu đến thuần phong, mỹ tục, đạo đức, lối sống, ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình, nhất là thế hệ trẻ.

Phát biểu kết luận cuộc họp, ông Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh đánh giá cao kết quả công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh ta trong thời gian qua; các ngành, địa phương đã phối hợp thực hiện khá tốt, nhất là triển khai Dự án “Xây dựng ứng phó quốc gia đối với bạo lực gia đình” do Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ nhằm hướng tới mục tiêu chung về giải quyết bạo lực gia đình, nhằm xây dựng và đưa vào sử dụng một bộ chỉ số thống nhất về phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng gói can thiệp tối thiểu, toàn diện về phòng, chống bạo lực gia đình có tính tới chi phí hiệu quả; nâng cao năng lực điều phối của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần kéo giảm bạo lực gia đình và bạo lực giới.

Ông Trần Ngọc Tam đề nghị thành viên Ban Chỉ đạo, các ngành liên quan và các địa phương tiếp tục thực hiện Công văn số 1954-CV/TU ngày 31/3/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường lãnh đạo công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định 104/QĐ-UBND ngày 16/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh, Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình; chú ý thực hiện tốt công tác phối hợp, với phương châm “lấy xây để chống”; nâng cao trách nhiệm, phân công cụ thể, tận dụng nhiều giải pháp phát hiện, can thiệp ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả đối với hành vi bạo lực gia đình; tập trung công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; vận động cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia phát hiện, ngăn chặn, hành vi có nguy cơ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe đến người thân, trẻ em, phụ nữ trong gia đình.

13/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổ ấm gia đìnhTổ ấm gia đình
 Với nhịp sống nhanh trong xã hội hiện đại, thiết nghĩ cụm từ “tổ ấm gia đình” càng nên được nhắc nhỡ, khuyên nhủ với nhau thường xuyên. Bởi sự tất bật với công việc, rồi hội họp, tiệc tùng, giao du… chúng ta không có nhiều thì giờ rãnh rỗi, nên dễ xao lãng với “tổ ấm” của mình, mà lẽ ra ta phải chăm chút nó từng ngày. Vì đây là nơi “neo đậu” bình yên, vỗ về, ấm áp cho mỗi con người trong cuộc đ...

Với nhịp sống nhanh trong xã hội hiện đại, thiết nghĩ cụm từ “tổ ấm gia đình” càng nên được nhắc nhỡ, khuyên nhủ với nhau thường xuyên. Bởi sự tất bật với công việc, rồi hội họp, tiệc tùng, giao du… chúng ta không có nhiều thì giờ rãnh rỗi, nên dễ xao lãng với “tổ ấm” của mình, mà lẽ ra ta phải chăm chút nó từng ngày. Vì đây là nơi “neo đậu” bình yên, vỗ về, ấm áp cho mỗi con người trong cuộc đi xa trở về hay sau khi vật lộn căng thẳng với cuộc mưu sinh…

Ông bà ta nói rằng: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, nhắc nhỡ chúng ta giữ gìn tổ ấm, hạnh phúc gia đình, trong đó đề cao vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình là “Xây tổ ấm”. Từ việc chăm sóc cho cha mẹ, chăm lo cho chồng đến việc nuôi dạy con cái, rồi “công, ngôn, dung hạnh”, “nữ công gia chánh” hay ứng xử trong gia đình “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi bớt lửa chớ đời nào khê”.

Mỗi ngày do công việc chi phối nên những thành viên trong gia đình ít được kết nối tình cảm chặt chẽ và thường xuyên, sự gần gũi để chia sẻ, quan tâm nhau cũng ít dần. Lại có thêm phương tiện thông tin hiện đại, như điện thoại di động, Internet… nên cứ “gặp nhau qua mạng”, thăm hỏi qua nhắn tin, mail, chát, pacbook… nên mỗi ngày tình cảm trong gia đình nhạt đi mà chúng ta người trong cuộc mãi bận rộn quên đi giá trị tinh thần đã mất dần đi. Không ít chuyên gia tâm lý khuyên dù bận rộn, nhưng trong một ngày các thành viên trong gia đình nên có một bữa ngồi ăn cơm chung với nhau. Vì đây chính là một phần yếu tố tạo nên “tổ ấm”. Nơi mà các buồn phiền, căng thẳng… đã tan biến, chỉ còn lời tâm sự nhỏ to ấm áp, ngọt ngào, quan tâm chia sẻ từ miếng thức ăn cho nhau, đến động viên, khích lệ trong học tập, sinh hoạt hằng ngày…

Không phải ở Việt Nam mà nhiều nước văn minh, hiện đại trên thế giới họ cũng coi trọng tổ ấm gia đình. Vì chính nơi đó là nguồn cơn của mọi sự hạnh phúc, thành đạt chung của gia đình, nó giúp cho các thành viên trong gia đình toàn tâm toàn ý, hưng phấn tập trung vào học tập, công việc để thực hiện ước mơ, hoài bão… đi đến thành đạt, thành danh. Chứng minh cho điều đó là bao giờ người phụ nữ cũng cần có “bờ vai” vững chãi của người chồng để nương tựa. Còn người đàn ông phía sau sự thành đạt luôn có bóng dáng của người vợ, hết lòng “nâng khăn sửa túi” cho chồng. Hay con cái trong nhà bao giờ cũng cần sự quan tâm, chia sẽ của cha mẹ về tâm tư, nguyện vọng của mình.

Có lẽ khó có thể tìm từ nào cho thật hay, thật đẹp hơn và khái quát cao hơn từ “tổ ấm” khi đề cập đến gia đình. Không hoa mỹ, không chảy chuốt, chỉ là sự bình dị mà hàm chứa tình cảm sâu sắc, đằm thắm, lung linh khiến cho mọi người nếu xao lãng, thiếu quan tâm khi nhớ đến nó phải giật mình, cân nhắc. Trong cuộc đời không ít người tổ ấm gia đình vì lý do này lý do khác bị đỗ vỡ, cũng như không ít người không có được tổ ấm gia đình. Nỗi bất hạnh đó không có gì bù đắp được. Vậy những ai đang có tổ ấm gia đình nên quan tâm vun đắp, gìn giữ thật tốt. Không những ta giữ cho ta mà ta giữ cho mọi người thân yêu nhất trong tổ ấm của mình, đồng thời qua đó nhằm góp phần làm tốt đẹp cho xã hội hơn.

19/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp triển khai Kế hoạch phổ biến về cải cách hành chính năm 2013 Sở Tư pháp triển khai Kế hoạch phổ biến về cải cách hành chính năm 2013
Nhằm phổ biến, quán triệt những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác cải cách hành chính; góp phần nâng cao nhận thức, ý thức về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan về công tác cải cách hành chính; đồng thời giúp cho các tổ chức và công dân biết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi có nhu cầ...

Nhằm phổ biến, quán triệt những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác cải cách hành chính; góp phần nâng cao nhận thức, ý thức về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan về công tác cải cách hành chính; đồng thời giúp cho các tổ chức và công dân biết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi có nhu cầu thực hiện giao dịch với cơ quan hành chính. Vừa qua, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch tuyên truyền về cải cách hành chính năm 2013 (Kế hoạch số 29/KH-STP ngày 07 tháng 01 năm 2013).

Theo đó, việc tuyên truyền sẽ tập trung vào các nội dung chính sau: tuyên truyền về các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, những văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương về công tác cải cách hành chính; quán triệt những chủ trương, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về những nội dung có liên quan đến công tác cải cách hành chính; tình hình thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính trong lĩnh vực tư pháp thời gian qua và mục tiêu, yêu cầu, nội dung thực hiện nhiệm vụ này trong thời gian tới; các quyền và nghĩa vụ của tổ chức, công dân trong mối quan hệ với cơ quan hành chính nhà nước; trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân; các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp đang được áp dụng tại Sở và tại cấp huyện, cấp xã, cũng như biểu dương những tập thể, cá nhân có những sáng kiến, thành tích tốt trong công tác cải cách hành chính tại cơ quan.

Công tác tuyên truyền được tổ chức thông qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú như: phổ biến trong các buổi sinh hoạt đầu tuần, sinh hoạt “Ngày Pháp luật”, cuộc họp cơ quan để triển khai những nội dung, kế hoạch, nhiệm vụ cải cách hành chính cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức; lồng ghép nội dung tuyên truyền về cải cách hành chính trong chương trình “Pháp luật và đời sống”, chương trình “Tư vấn pháp luật” trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bến Tre; thực hiện việc viết tin, bài có nội dung liên quan đến cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính để đăng tải trên Bản tin Tư pháp và trên Website của Sở.

Giám đốc Sở giao cho Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật là đơn vị chủ trì tham mưu trong việc tổ chức triển khai thực hiện và tổng hợp, báo cáo kết quả công tác tuyên truyền về cải cách hành chính. Đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm của các Phòng, Trung tâm trực thuộc Sở phải thường xuyên viết tin, bài hoặc cung cấp những nội dung, tin ảnh có liên quan đến công tác cải cách hành chính gửi về Thường trực Ban Biên tập của Sở để biên tập.

21/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 ...

Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 huyện, thành phố và công chức, viên chức thuộc Sở.

Các đại biểu cơ bản thống nhất với dự thảo Báo cáo sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014; trong đó, tập trung thảo luận, góp ý một số vấn đề về nâng cao hiệu quả niêm yết, công khai thủ tục hành chính; việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp huyện, cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng; hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.


Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị những tháng còn lại trong năm 2014 và hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV, toàn ngành Tư pháp Bến Tre tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, UBND các cấp; thẩm định, góp ý 100% các dự thảo văn bản khi có yêu cầu. Thực hiện tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền 100% văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương, đặc biệt là tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện năm 2014.

Tiếp tục triển khai, thi hành Hiến pháp năm 2013, tổ chức phổ biến, giới thiệu Hiến pháp đến tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh thông qua các hình thức phù hợp. Phát huy vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. tập trung triển khai thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Đất đai năm 2013...,quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, hòa giải ở cơ sở, phấn đấu đạt 85% tỷ lệ hoà giải thành theo chỉ tiêu đề ra. Tiếp tục triển khai thực hiện công tác xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch của UBND tỉnh.


Cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng, hiệu quả, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; triển khai thực hiện hiệu quả giải pháp tránh bỏ sót đối tượng trợ giúp pháp lý.

Đẩy mạnh công tác kiểm soát thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh; tập trung mọi nguồn lực triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch rà soát, đánh giá quy định, thủ tục hành chính năm 2014, xây dựng phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, báo cáo Bộ Tư pháp đúng thời gian quy định. Thường xuyên cập nhật, tổ chức niêm yết công khai đầy đủ, kịp thời 100% thủ tục hành chính đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong hoạt động hành chính tư pháp; đặc biệt là việc xây dựng và triển khai thực hiện mô hình một cửa liên thông trong đăng ký khai sinh - hộ khẩu - bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi; đăng ký khai tử - xóa đăng ký thường trú; phần mềm hộ tịch trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tổ chức tổng kết công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh, báo cáo UBND tỉnh, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định.

Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020. Phối hợp Đoàn luật sư xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề và đạo đức ứng xử nghề nghiệp cho luật sư trên địa bàn tỉnh.

Kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức; thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2013 của Bộ Tư pháp về việc cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc. Tổ chức thực hiện hiệu quả các hoạt động hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp và Đại hội thi đua yêu nước, đặc biệt là phong trào thi đua ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình chứng nhận hợp đồng giao dịch nhân sự năm 2008Quy trình chứng nhận hợp đồng giao dịch nhân sự năm 2008

 

PHÒNG CÔNG CHỨNG SỐ 1

TỈNH BẾN TRE

QUY TRÌNH CHỨNG NHẬN

HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH DÂN SỰ NĂM 2008

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ
  • Mục đích: Nhằm đem lại tính xác thực cho các hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật
  • Phạm vi áp dụng: Cho tất cả các đối tượng có yêu cầu giao dịch dân sự
  • Tài liệu áp dụng: Bộ Luật Dân sự, Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 12/8/2000 của Chính phủ; Thông tư số: 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường; Luật Công chứng số 82/2006/QH11
  • Thuật ngữ : Phổ thông, dễ hiểu
Số TT Nội dung công việc Người thực hịên Thời gian hoàn thành
01 Tiếp nhận hồ sơ, chuyển giao Nhân viên

- Trường hợp đơn giản không quá 20 phút (theo quy định: 03 ngày/trường hợp)

- Trường hợp phức tạp không quá 05 ngày làm việc (theo quy định: 10 ngày/trường hợp)
02 Kiểm tra nội dung hồ sơ. Công chứng viên
03 Yêu cầu các đối tượng có liên quan trong hợp đồng giao dịch dân sự xem lại nội dung trước khi ký tên vào sổ lưu công chứng Công chứng viên
04 Viết lời chứng theo mẫu và ký tên Công chứng viên
05 Ghi danh mục hồ sơ lưu và cho số công chứng, vào sổ lưu Công chứng viên
06 Đóng dấu; Thu lệ phí, trả hồ sơ Nhân viên
07 Lưu hồ sơ Nhân viên
07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Đôi điều về đốt tiền vàng mã trong ngày tếtĐôi điều về đốt tiền vàng mã trong ngày tết
Trong văn hóa của người Việt Nam từ nhiều đời nay, ngày Tết Nguyên đán là ngày nhà nhà chuẩn bị đón chào một năm mới với nhiều niềm hy vọng mọi việc đều tốt lành.

Trong văn hóa của người Việt Nam từ nhiều đời nay, ngày Tết Nguyên đán là ngày nhà nhà chuẩn bị đón chào một năm mới với nhiều niềm hy vọng mọi việc đều tốt lành.

Bắt đầu từ ngày 23 tháng chạp là ngày đưa ông Táo về trời là báo hiệu những ngày cận tết, rồi đến những ngày cúng tết truyền thống như cúng ông bà, đón giao thừa, cúng các ngày mùng 3, mùng 5. Điều đặc biệt là trong những lần cúng này không thể thiếu vắng việc đốt tiền vàng mã. Có thể hiểu việc đốt tiền vàng mã đó là vấn đề tâm linh đã thâm nhập vào tư tưởng của người Việt Nam ta từ bao đời nay bởi một phần do sự ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa khi đất nước ta bị đô hộ. Bởi có thể do người sống nghĩ một năm có một cái tết, người sống muốn sang năm mới có cuộc sống sung túc thì người ở bên kia thế giới nhất là người thân cũng phải có cuộc sống đầy đủ nên người sống thường đốt rất nhiều tiền vàng mã và đồ mã để gửi đến người quá cố hay thần linh. Ngày nay, vàng mã cũng được biến tấu rất đa dạng như tiền đô, tiền với mệnh giá lớn, hay vàng miếng bằng giấy; còn đồ mã là nhà lầu, xe hơi, quần áo, điện thoại… bằng giấy. Qua đó, hàng năm không thể tính được chính xác người dân dùng bao nhiêu tiền thật mua vàng mã, đồ mã bằng giấy để đốt gửi đến người ở bên thế giới vì theo tâm linh họ nghĩ gửi đến thì những người đó sẽ phù hộ độ trì cho được bình an mạnh khỏe, làm ăn may mắn, mọi việc điều suôn sẽ…

Chuyện đốt vàng mã trong ngày tết là chuyện thường niên, tuy nhiên suy nghĩ đốt tiền vàng giấy để gửi đến người thân như ông bà cha mẹ những người đã khuất có phải là việc làm cần thiết hay không? Bởi lẽ, hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn còn sự việc con đánh mắng, hất hủi, bỏ đói cha mẹ, ông bà. Vì vậy, khi ông bà cha mẹ còn sống hãy đền ơn, báo hiếu chứ đừng để khi họ qua đời mới gửi đến thật nhiều thứ tiền, vàng, vật dụng bằng giấy.

Đốt giấy tiền vàng mã ngày tết đã ăn sâu vào tư tưởng đối với người dân, điều này khó có thể thay đổi nhưng thiết nghĩ người dân cần có nhận thức nhằm tránh đốt tiền vàng mã bừa bãi gây lãng phí giấy tiền vàng mã cũng được mua bằng tiền thật; mà còn có thể bị xử phạt theo Điểm c, Điều 18 Nghị định 75/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa quy định phạt tiền từ 500.000 - 1.000.000đ đối với hành vi đốt đồ hàng mã tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa, nơi công cộng khác.

11/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre “Ý Đảng – Lòng dân” từ việc xây dựng các mô hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốcBến Tre “Ý Đảng – Lòng dân” từ việc xây dựng các mô hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc
 Hiện nay, toàn tỉnh có 53 mô hình “Dân vận khéo” trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc (BVANTQ), những mô hình này đang ngày một phát huy hiệu quả, khẳng định được vai trò quan trọng, chủ thể của quần chúng nhân dân trong việc góp phần giữa gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTXH) tại địa phương

Thời gian qua, cùng với chủ trương chung của các cấp uỷ đảng, sự phối hợp, hướng dẫn đồng bộ của lãnh đạo Công an tỉnh, hệ thống Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội từ tỉnh đến cơ sở, lực lượng công an các địa phương trong tỉnh đã tăng cương công tác phối hợp với các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng các mô hình “ Dân vận khéo” trong phòng trào quần chúng tham gia BVANTQ, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Với mục tiêu đặt ra là kéo giảm thấp nhất các tai tệ nan xã hội ở địa phương, xây dựng xóm làng yên vui, hoà thuận, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, cảm hoá giáo dục người lầm lổi tại công đồng, từ đó, nhiều mô hình “ Dân vận khéo” trong phong trào này đã ra đời và lan toả đến khắp các xóm làng, tổ NDTQ ở các huyện, thành phố trong tỉnh; điển hình đến nay mô hình “ Liên tịch tứ trụ” có 100% xã, phường, thị trấn triển khai và duy trì hoạt động, hàng năm đều có sơ tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm, hiệu quả từ mô hình này là do công tác quản lý, cảm hoá, giáo dục người lầm lổi và người có nguy cơ vi phạp pháp lậut tại khu dân cư; nhiều địa phương đã làm tốt mô hình này và nhân rộng thành “6 trụ” ( có thêm Hội LH Phụ nữ, Hội Nông dân), như huyện Chợ Lách; Phường 5 thánh phố Bến Tre “ 8 trụ” ( thêm hội Phụ Nữ, Nông Dân, người cao tuổi, MTTQ); mô hình “ Tiếng mõ An ninh” hiện huyện Mỏ Cày Nam còn duy trì trong các trường hợp báo động, tập hợp lực lượng cứu hộ, cứu nạn, chết đuối, cháy và các trường hợp già neo đơn cần cấp cứu, hỗ trợ; huyện Mỏ Cày Bắc và huyện Bình Đại lồng ghép vào trong mô hình mới như “ Cổng rào nhân dân tự phòng, tự quản”, “ Chiếc gậy an ninh”…; hiện nay, trong toàn tỉnh có 53 mô hình đang duy trì hoạt động, cụ thể : Huyện Mỏ Cày Bắc có 10 mô hình như “ gặp gỡ đối thạoi với người lầm lỗi, người có nguy cơ vi phạp pháp luật tại cộng đồng dân cư”, “ An toàn giao thông”, “ Đội dân phòng cơ động”, “ CLB lưu trú an toàn về ANTT”, “ CLB hướng thiện”…; huyện Giồng Trôm 5 mô hình “ Nhóm tự phòng”, “ 5 tự quản”, “ đội dân phòng xung kích”…;huyện Mỏ Cày Nam có 7 mô hình “ Ba xây, ba chống”, “ thắp sáng đèn đường”, “ ATGT”, “ Tự phòng, tự quản”…; huyện Châu Thành có 4 mô hình “ Tổ Chống trộm”, “ Tổ công nhân tự quản”, “ Kéo giảm TNGT”…; huyện Bình Đại có 4 mô hình “Đội dân phòng ven sông”, Chiếc gậy an ninh”, “ Ánh sáng an ninh”…; huyện Ba Tri có 7 mô hình “ Cảm hoá TTN vi phạm GT”, “ Cảm hoá GD TTN chậm tiến”, “ Tổ NDTQ an toàn”…; huyện Chợ Lách có 8 mô hình “ Xóm đạo bình yên”, “ Xoá nạn cờ bạc, số đề”, “ Giáo dục cá biệt”, “ Chốt chặn”..và huyện Thạnh phú có 5 mô hình “ Văn hoá giao thông, bình yên sông nước”, “ ANTT”, “ ATGT”…, ngoài ra trong năm 2013, công an các địa phương đã phối hợp với Khối vận các cấp đăng ký nhiều mô hình “ Dân vận khéo” về “ An ninh trật tự”; trong đó, có 25 mô hình được đăng ký cấp tỉnh.

Có thể thấy, những mô hình trên được thành lập và duy trì hoạt động đã góp phần không nhỏ vào việc cùng với chính quyền, các ngành chức năng, nhất là lực lượng công an các địa phương đã kịp thời phát hiện ngăn chặn tại chổ, phát huy vai trò tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân, tăng cường hơn nữa ý thức trách nhiệm của người dân cùng tham gia giữ gìn ANTT tại nơi mình sinh sống và tại địa phương, nhiều mô hình đến nay đã phát huy hiệu quả và thật sự đi vào đời sống người dân, được các cấp uỷ đảng đánh giá cao và nhân rộng ra nhiều địa phương học tập, rút kinh nghiệm vận dụng như mô hình “ tự phòng, tự quản”, mô hình “ ánh sáng an ninh”, đặc biệt trong đó có những mô hình các tỉnh bạn đến học tập rút kinh nghiệm như mô hình “ xóm đạo bình yên”, “ Cổng rào tự phòng, tự quản”.

Hiện nay, Công an tỉnh đang phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh uỷ và MTTQ tỉnh tiếp tục khẩn trương thực hiện công tác khảo sát, đánh giá lại hiệu quả từng mô hình cụ thể để từ đó kịp thời chấn chỉnh, bổ sung hoàn thiện các nhực điểm, khiếm khuyết, hạn chế của từng mô hình, hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng các nội quy, quy chế hoạt động cho phù hợp, trên nguyên tắc đảm bảo sự đồng tình hưởng ứng của người dân, đồng thời đi đôi với việc chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật hiện hành. Việc phát động nhân dân cùng tham gia “phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ” trên khắp các địa bàn trong tỉnh, đã và đang là chủ trương có tinh chiến lược của Đảng ta, và là việc làm thường xuyên, lâu dài, bền bỉ của các cấp chính quyền và toàn hệ thống chính trị trong tỉnh, thể hiện rất rõ “ Ý Đảng hợp lòng dân”; từ đó làm chuyển biến nhận thức và hành động của người dân trong công đồng dân cư; ngày càng nhiều mô hình trong phong trào này được ra đời và đi vào cuộc sống, làm cho đại bộ phận quần chúng nhân cùng tham gia góp phần xây dựng một xã hội đồng thuận, dân chủ và an toàn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội ở từng địa phương.

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn