Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Phòng phổ biến giáo dục pháp luật
Sáng ngày 20 tháng 8 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, dự Hội nghị có lãnh đạo Ban Tuyên giáo ... 
 
Sáng ngày 14/8/2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tổ chức Hội thảo “Mùa hè xanh Đồng Khởi 15 năm – Những con số biết nói” giai đoạn 2000 -2014. Dự Hội thảo có Thành đoàn, Hội sinh viên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh; thành viên Ban Chỉ đạo Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre; các đồng chí nguyên là Bí thư Tỉnh đoàn qua... 
 
Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới;... 
 
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.  
 
Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.  
 
Trong xã hội, các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình luôn diễn ra đa dạng, phức tạp, với những hình thức khác nhau. Vì vậy để xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, chậm tiến bộ trong hôn nhân gia đình là vấn đề đang được quan tâm.  
 
Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng lý thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi”.  
 
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước. Vì vậy, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng ... 
 
Thời gian qua, thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả khá toàn diện, các cơ quan hành chính thường xuyên rà soát thủ tục hành chính, kiến nghị kịp thời cấp có thẩm quyền về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; ... 
 
Ngày 28 tháng 7 năm 2014, Công an tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã ban hành Chương trình phối hợp về “Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; với mục đích nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và Công an các cấp, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chín... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩmXử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Ngày 14 tháng 11 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (Nghị định).

Ngày 14 tháng 11 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (Nghị định).

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm.

Vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm quy định tại Nghị định này bao gồm: Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm xuất khẩu; Vi phạm quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn. Các hành vi vi phạm hành chính khác liên quan đến an toàn thực phẩm được quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính về thú y, thủy sản, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, thương mại, văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, lao động và các lĩnh vực khác thì được xử phạt vi phạm hành chính theo các Nghị định đó.

Trong đó, chủ kinh doanh thức ăn đường phố cần quan tâm đến quy định xử phạt tại Điều 22 của Nghị định, vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố như sau:

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Bày bán thức ăn không có bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm an toàn thực phẩm; không có dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, ngăn côn trùng và động vật gây hại; sử dụng nơi bày bán không cách biệt với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm; không có thiết bị bảo quản thực phẩm theo quy định; sử dụng dụng cụ ăn uống, chế biến, chứa đựng, bảo quản thực phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm; dùng tay tiếp xúc trực tiếp với thức ăn.

Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Sử dụng nước không đạt quy chuẩn kỹ thuật để chế biến, kinh doanh thực phẩm; sử dụng nguyên liệu để chế biến thức ăn không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, không bảo đảm an toàn; sử dụng phụ gia thực phẩm không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, không có trong danh mục phụ gia thực phẩm được phép sử dụng theo quy định, không bảo đảm an toàn; sử dụng bao gói chứa đựng thức ăn không bảo đảm an toàn thực phẩm; kinh doanh thức ăn không bảo đảm an toàn.

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh thức ăn đường phố không bảo đảm an toàn thực phẩm dẫn đến ngộ độc thực phẩm.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy nguyên liệu thực phẩm không có nguồn gốc, xuất xứ; hết hạn sử dụng, hỏng, ôi, thiu, thối quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 22; phụ gia thực phẩm quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 22; thực phẩm hỏng, ôi, thiu, thối quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 22; Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm đối với hành vi quy định tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

24/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đọc bài báo dân vận của Bác Hồ để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, viên chức hiểu và làm tốt chức trách nhiệm vụ của mình trước nhân dân Đọc bài báo dân vận của Bác Hồ để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, viên chức hiểu và làm tốt chức trách nhiệm vụ của mình trước nhân dân
 Đã gần 64 năm trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ với bút danh X.Y.Z viết bài báo nói về công tác dân vận, được đăng trên báo Sự thất số 120, ngày 15 tháng 10 năm 1949, những tâm tư, tình cảm vừa tâm huyết, lại vừa mang tính giáo dục sâu sắc đó của Người cho đến hôm nay như vẫn còn nguyên giá trị, nhất là trong giai đoạn hiện nay những lời dạy đó của Bác càng đã trở thành những bài học có tính sống còn ...

Đã gần 64 năm trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ với bút danh X.Y.Z viết bài báo nói về công tác dân vận, được đăng trên báo Sự thất số 120, ngày 15 tháng 10 năm 1949, những tâm tư, tình cảm vừa tâm huyết, lại vừa mang tính giáo dục sâu sắc đó của Người cho đến hôm nay như vẫn còn nguyên giá trị, nhất là trong giai đoạn hiện nay những lời dạy đó của Bác càng đã trở thành những bài học có tính sống còn trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trong mỗi hoạt động của chính quyền và từng việc làm cụ thể của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.

Mở đầu bài viết một lần nữa Bác khẳng định lại bản chất của Nhà nước ta, (Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)“ Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, chính quan điểm này, mà từ khi Nhà nước ra đời, chúng ta luôn nhận thấy, từ Nghị quyết cho đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên và từng tổ chức trong hệ thống chính trị phải thấm nhuần quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng; sau khi dành được chính quyền về tay nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc được xem là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; trong thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước, nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng từng bước đạt được những thành tựu to lớn, bộ mặt thành thị và nông thôn của tỉnh có sự thay đổi ngày một cơ bản và toàn diện hơn trên tất cả lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường;

Để duy trì bền vững sự phát triển của xã hội, tìm được sự đồng thuận trong nhân dân “Huy động sức lực trong nhân dân để thực hiện các công việc của dân”, điều quan trọng nhất phải làm là công tác dân vận phải tốt, nghĩa là tất cả các ngành, các cấp, tất cả cán bộ Đảng viên, công chức, viên chức không trừ một ai trong hệ thống chính trị phải làm công tác vận động quần chúng, vận động nhân dân và toàn xã hội cùng tham gia thực hiện các công việc chung của xã hội, Bác viết “ Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc Chính phủ đã giao cho…Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” trước thực tiển yêu cầu của sự phát triển xã hội, công tác vận động quần chúng của Đảng cần có những đổi mới cơ bản, toàn diện cả về nhận thức cũng như hoạt động, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, cả nước đang tiến lên thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết của Đảng; để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải tích cực phối hợp thực hiện tốt công tác dân vận, mỗi cán bộ, đảng viên phải là một truyên truyền viên tích cực trong việc vận động quần chúng nhân dân “cùng lo cùng làm”, trong thực hiện biết phát huy dân chủ của người dân theo hướng “ …Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành” việc biết phát huy dân chủ với phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” sẽ góp phần quan trọng trong việc huy động sức đóng góp của nhân dân phục vụ vào công việc chung của công đồng và cuối cùng là người dân được hướng thành quả đó, mục tiêu này thời gian qua các ngành, các cấp, các địa phương ở tỉnh ta đã làm khá tốt, nhất là việc tổ chức các buổi đối thoại toạ đàm về thực hiện Quy chế dân chủ đến tận ấp, khu phố, cụ thể là lấy việc làm vì lợi ích của người dân để đem ra dân bàn bạc thống nhất và cùng đóng góp thực hiện, tuy nhiên một số nơi, một số địa phương thời gian qua chưa thấy hết tầm quan trọng của việc làm này, nên hiệu quả thực hiện công việc chưa cao, chưa phát huy hết nội lực trong nhân dân để cùng thực hiện công việc chung, thậm chí một số nơi còn áp đặt, để xảy ra mất dân chủ trong nội bộ làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân mất lòng tin vào cán bộ, vào tổ chức và thiếu an tâm tham gia vào các phong trào chung tại địa phương, đây được xem là những bài học sâu sắc mà mỗi cán bộ, đảng viên và từng tổ chức phải cần rút kinh nghiệm, bởi theo Bác “…Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân; thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” làm được việc đó giúp cho lòng tin của người dân đối với chính quyền ngày một vững chắt hơn, mọi việc sẽ được người dân đồng tình ủng hộ và việc làm được thuận lợi và hiệu quả cao hơn .

Bác chỉ ra “ Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách công tác dân vận…” theo Bác công tác dân vận không phải là trách nhiệm của riêng một tổ chức, đơn vị nào mà phải là nhiệm vụ chung của của cả hệ thống chính trị, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công tác dân vận chính quyền cần phải được quan tâm thực hiện thường xuyên và có hiệu quả hơn; chính quyền là nơi trực tiếp giảy quyết các yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, là nơi để nhân dân gửi gấm niềm tin, giúp nhân dân tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong cuộc sống, do đó, chính quyền phải làm tốt công tác vận động quần chúng, mỗi cán bộ cần phải hiểu và thấm nhuần quan điểm “ cán bộ là công bọc của nhân dân” để thừa hành công việc do nhân dân uỷ thác được tốt hơn, tránh tình trạng gây phiền hà, nhũng nhiễu đối với nhân dân, xây dựng niêm tin trong nhân dân.

Từ rất sơm Bác đã nhận thấy và chỉ ra một quan điểm sai lầm đó là:“ …Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử cán bộ kém rồi bỏ mặt họ…” tuy nhiên, hiện nay trong cách nghỉ và bố trí cán bộ làm công tác dân vận vẫn còn một số nơi, một số địa phương vẫn còn xem nhe công tác dân vận, chính vì vậy mà Bộ Chính trị đã ban hành quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/2/2010 về ban hành quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị, ở tỉnh ta đã có Quyết định số 1669-QĐ/TU về ban hành quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh, từ đó, tầm quan trọng của công tác dân vận được quan tâm hơn và ngày một phát huy được hiệu quả của nó; tuy nhiên, đòi hỏi trước hết mỗi cán bộ làm công tác dân vận tự mình phải nâng cao vai trò vị trí của mình bằng những việc làm hiệu quả, cụ thể, làm một cán bộ dân vận tốt theo Bác chúng ta “Cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh…” với những yêu cầu như vậy, để có được một cán bộ dân vận tốt chúng ta đổi mới nâng chất công tác dân vận thường xuyên, từng cấp uỷ cần quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, huy hoạch, trẻ hoá đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, tuyệt đối không đưa cán bộ kém chất lượng, mất uy tín về làm công tác dân vận, xây dựng hình ảnh người cán bộ dân vận “ Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với nhân dân”

Việc cuối cùng Bác dạy “Lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, để thực hiện được những lời dạy đó của Bác, mục tiêu cấp bách và có chiến lược lâu dày đối với đổi mới, nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng trong tình hình mới, đòi hỏi từng cấp uỷ đảng, từng tổ chức cá nhân trong hệ thống chính trị phải nêu cao tinh thần trách nhiệm công việc trước nhân dân, với phương vchâm việc gì có lợi cho nhân dân thì quyết tâm làm cho bằng được, việc gì gây nguy hại đến nhân dân thì tuyệt đối không làm; đọc bài báo dân vận của Bác cùng với việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương, đạo đức “ Phong cách quần chúng, dân chủ nêu gương của Chủ Tịch Hồ Chí Minh” làm cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức chúng ta càng hiểu hơn, càng trân trọng hơn với công tác dân vận, giúp mỗi người chúng ta trưởng thành hơn trong công việc và trong cuộc sống, đặc biệt là làm người đầy tớ thật trung thành, tận tuỵ trước nhân dân.

 

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009

 

P. CÔNG CHỨNG SỐ 1 MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG

CÔNG CHỨNG NĂM 2009

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ

 

Mục tiêu:

Giải quyết 100% hồ sơ công chứng hợp đồng giao dịch dân sự đúng theo quy định của pháp luật và cải tiến về thời gian theo quy trình của phòng Công chứng.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dânQuy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB...

Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Theo đó, Thông tư quy định các đối tượng không phải đóng học phí, được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cụ thể như sau:

Đối tượng không phải đóng học phí:

Học sinh tiểu học trường công lập; học sinh, sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy đang theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước, được Ngân sách nhà nước cấp bù học phí; người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đối tượng được miễn học phí:

Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Bao gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế. Cụ thể như: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa; trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ (Hiện nay đang được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015).

Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân: theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 87/2013/NĐ-CP ngày 30/7/2013 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với gia đình, thân nhân hạ sĩ quan, chiến sỹ đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân và khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 20/2012/TTLT-BQP-BTC ngày 06/3/2012 của Liên Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 88/2011/NĐ-CP ngày 29/9/2011 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ.

Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên); học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học; học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo. Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Sinh viên học chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; học sinh, sinh viên, học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp Y, Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối tượng được giảm học phí:

Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với dạy nghề (Danh mục các nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định).

Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ; học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở trong thời gian 3 năm kể từ ngày tốt nghiệp đi học trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp.

Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập:

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
 Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông
Trên cơ sở tổng kết Năm An toàn giao thông 2012 của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tại hội nghị trực tuyến, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định chủ đề Năm An toàn giao thông 2013 là “ Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông”.

 

 

Trên cơ sở tổng kết Năm An toàn giao thông 2012 của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tại hội nghị trực tuyến, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định chủ đề Năm An toàn giao thông 2013 là “ Nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ và ý thức tự giác của người tham gia giao thông”.

Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là:

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, chống ùn tắc giao thông.

- Đổi mới công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông đến mọi tầng lớp nhân dân để nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông, đẩy mạnh xây dựng văn hóa giao thông.

- Đẩy mạnh hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi nguy cơ cao gây tai nạn giao thông; xử lý nghiêm vi phạm của xe chở khách, xe tải, xe contenơ. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực của người thực thi công vụ trong khi làm nhiệm vụ.

- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông: quản lý việc đào tạo, sát hạch lái xe, đăng kiểm phương tiện giao thông, quản lý hoạt động vận tải; tổ chức giao thông sử dụng thông tin từ thiết bị giám sát hành trình.

- Tiếp tục duy trì và nhân rộng các giải pháp đột phá về khắc phục ùn tắc giao thông được thực hiện thành công tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh trong năm an toàn giao thông 2012, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp mới. Đầu tư thêm các cầu vượt nhẹ trong nội thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nâng cao hiệu quả quản lý lòng đường, vỉa hè./.

 

08/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IVSở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá...

Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV.

Theo đó, việc thực hiện phong trào thi đua sẽ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và có sự phối kết hợp chặt chẽ với thực hiện phong trào thi đua thường xuyên hàng năm với công tác khen thưởng và phong trào thi đua theo chuyên đề: “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”; phong trào thi đua “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và những phong trào thi đua khác do Bộ Tư pháp phát động.

Đối tượng phát động và thực hiện phong trào thi đua bao gồm tất cả những tập thể và cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Nội dung thực hiện phong trào thi đua tập trung vào nhóm các lĩnh vực về: công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động truyền thông, kiểm tra kiểm soát thủ tục hành chính; hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức...

Theo kế hoạch, phong trào thi đua được triển khai thực hiện đến trước ngày 31 tháng 8 năm 2015. Đồng thời, giao cho Văn phòng Sở tham mưu Giám đốc Sở tổ chức triển khai, phổ biến, theo dõi và đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch; tổng hợp, báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp theo dõi, chỉ đạo.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làmĐiều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Theo đó, Nghị định quy định Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định này là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền. Doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động dịch việc làm khi có đủ các điều kiện sau đây:

Địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh của doanh nghiệp phải ổn định và có thời hạn từ 03 năm (36 tháng) trở lên; nếu là nhà thuộc sở hữu của người đứng tên đăng ký doanh nghiệp thì trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải có giấy tờ hợp lệ, nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê từ 03 năm (36 tháng) trở lên.

Bộ máy chuyên trách để thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm bao gồm ít nhất 03 nhân viên có trình độ cao đẳng trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, lý lịch rõ ràng.

Đã thực hiện việc ký quỹ theo các quy định như sau: Tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết các rủi ro và các khoản phải đền bù có thể xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nộp tiền ký quỹ là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tại ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch chính (sau đây viết tắt là ngân hàng).

Doanh nghiệp thực hiện thủ tục nộp tiền ký quỹ theo đúng quy định của ngân hàng và quy định của pháp luật. Ngân hàng có trách nhiệm xác nhận tiền ký quỹ kinh doanh hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp được hưởng lãi suất từ tiền ký quỹ theo thỏa thuận với ngân hàng. Sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp, doanh nghiệp được hoàn trả tiền ký quỹ trong các trường hợp sau:

Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp không được cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép;

Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp nộp lại, bị thu hồi giấy phép.

Tiền ký quỹ được rút trong trường hợp nhận được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm xác nhận về việc giải quyết rủi ro hoặc các khoản đền bù xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.

Ngân hàng không được cho doanh nghiệp rút tiền ký quỹ khi chưa có ý kiến bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.

Bên cạnh đó, Doanh nghiệp cần phải chuẩn bị đầy đủ 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gửi đến cơ quan có thẩm quyền, bao gồm: Văn bản đề nghị cấp giấy phép của doanh nghiệp; Bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, xuất trình bản gốc để đối chiếu; Bản sao chứng thực Giấy xác nhận việc đã thực hiện ký quỹ theo quy định tại Điều 10 Nghị định này; Các giấy tờ chứng minh đủ điều kiện về địa điểm theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.

Đặc biệt, Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm chỉ có thời hạn tối đa là 05 năm (60 tháng). Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có quyền gia hạn, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 60 tháng. Trong thời hạn 30 ngày trước ngày giấy phép hết hạn, doanh nghiệp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép. Hồ sơ gia hạn giấy phép gồm: Văn bản đề nghị gia hạn giấy phép của doanh nghiệp; Giấy phép đã hết hạn; Bản sao các giấy tờ chứng minh đủ điều kiện cấp giấy phép quy định tại Điều 7 Nghị định này.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động mà Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của Doanh nghiệp  bị mất, bị hư hỏng hoặc thay đổi một trong các nội dung của giấy phép thì sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp lại.

Doanh nghiệp gửi 01 bộ Hồ sơ cấp lại giấy phép đến cơ quan có thẩm quyền, bao gồm: Văn bản đề nghị cấp lại giấy phép của doanh nghiệp; Giấy phép bị hư hỏng hoặc bản sao các giấy tờ chứng minh việc thay đổi một trong các nội dung của giấy phép.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sởHội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hà...

Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1322/STP-PB đề nghị Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia cùng cấp triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Triển khai quán triệt Công văn số 06/CV-MTTQ-BTT ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc yêu cầu Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở, Công văn số 22/CV-MTTQ-BTT ngày 22 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở và Công văn số 23/CV-HLG ngày 17 tháng 7 năm 2014 của Hội Luật gia tỉnh về việc tham gia hòa giải ở cơ sở đến cán bộ, công chức Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch, các tổ hòa giải ở cơ sở về mời hội viên Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở.

Tổ chức trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp giữa Phòng Tư pháp với Hội Luật gia các huyện, thành phố về mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.

Tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn triển khai đến tổ hoà giải, khi tổ chức hoà giải mời hội viên Hội Luật gia tham gia hoà giải (theo đúng quy định Điều 19 Luật Hoà giải ở cơ sở).

Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ thông báo đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn có liên quan về địa chỉ của huyện, thành hội, chi hội, hội viên; trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn thông báo đến tổ hòa giải để tổ hòa giải chủ động liên hệ trước với chi hội, hội viên Hội Luật gia để trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp.

Bên cạnh đó, Thường trực Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ tiếp nhận và tư vấn miễn phí cho đương sự đối với những vụ việc tổ hòa giải đang thụ lý để chuẩn bị hòa giải, nếu đương sự có yêu cầu và được tổ hòa giải giới thiệu đến.

Thời gian bắt đầu triển khai mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở: tháng 9/2014.

Hàng năm, phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho hội viên Hội Luật gia, có thể lồng ghép với tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho Hòa giải viên.

Định kỳ 6 tháng và hàng năm phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức sơ kết, đánh giá những mặt làm được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân để rút kinh nghiệm; qua đó đề xuất những giải pháp để hoạt động phối hợp công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn và báo cáo kết quả công tác phối hợp về Sở Tư pháp (có thể lồng ghép trong báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng và hàng năm).

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tư pháp Bến Tre: ban hành Kế hoạch thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và quản lý công tác bồi thường của Nhà nước năm 2013 Tư pháp Bến Tre: ban hành Kế hoạch thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và quản lý công tác bồi thường của Nhà nước năm 2013
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; đảm bảo hoạt động bồi thường của Nhà nước đi vào nề nếp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương; ngày 28 tháng 12 năm 2012 Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2075/KH-STP về thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp ...

 

 

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; đảm bảo hoạt động bồi thường của Nhà nước đi vào nề nếp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương; ngày 28 tháng 12 năm 2012 Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2075/KH-STP về thực hiện công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và quản lý công tác bồi thường Nhà nước của ngành Tư pháp Bến Tre trong năm 2013.

Theo Kế hoạch, đối với công tác xây dựng văn bản, dự kiến trong năm 2013 Sở Tư pháp sẽ phối hợp xây dựng 01 Nghị quyết quy định mức chi đảm bảo cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp (dự kiến trình tại kỳ họp giữa năm của Hội đồng nhân dân tỉnh); phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành và theo dõi việc thực hiện Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị năm 2013 (dự kiến trong tháng 1/2013); tổ chức tập huấn về nghiệp vụ công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (trong Quý III/2013); tiến hành kiểm tra công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở 8 xã, phường, thị trấn và bảo đảm thực hiện tốt việc soạn thảo văn bản khi được Ủy ban nhân dân cùng cấp yêu cầu.

Ngoài ra, Sở sẽ tiếp nhận và thực hiện thẩm định, góp ý 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu; tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (Quý III/2013); hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường nhà nước cho các cơ quan, đơn vị.

Giám đốc Sở giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch này; có biện pháp bảo đảm thực hiện các công việc theo đúng tiến độ đã đề ra; cuối năm tổng hợp kết quả thực hiện Kế hoạch này và báo cáo Ủy ban nhân tỉnh.

Đồng thời, chỉ đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố căn cứ vào Kế hoạch này xây dựng kế hoạch chi tiết để tổ chức triển khai và thực hiện phù hợp với điều kiện của cấp mình; cuối năm báo cáo chuyên đề về việc thực hiện Kế hoạch này của địa phương gửi Sở Tư pháp tổng hợp.

 

09/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội đồng nhân dân tỉnh triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992Hội đồng nhân dân tỉnh triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992
 Ngày 15 tháng 01 năm 2013, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ông Võ Thành Hạo – Phó Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì hội nghị.

Ngày 15 tháng 01 năm 2013, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ông Võ Thành Hạo – Phó Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì hội nghị.

Trước đó, căn cứ Nghị quyết số 38/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, thực hiện Kế hoạch số 216/KH-UBDTSĐHP ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2012 tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Kế hoạch đã đặt ra mục đích, yêu cầu trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, đó là: phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của các tổ chức và nhân dân ở địa phương, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với việc sửa đổi Hiến pháp và thi hành Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở địa phương phải được tiến hành rộng rãi, dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực, chính xác, báo cáo về Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để tổng hợp báo cáo Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và Chính phủ đúng tiến độ thời gian.

Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, bao gồm: lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.

Căn cứ vào Kế hoạch này, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm ở cấp tỉnh, huyện, xã sẽ tiến hành đồng loạt các hoạt động nhằm tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Thời gian tổ chức lấy ý kiến nhân dân ở địa bàn tỉnh bắt đầu từ ngày 08 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2013. Tài liệu phục vụ việc lấy ý kiến nhân dân được đăng tải trên trang thông tin điện tử http://duthaoonline.quochoi.vnhttp://www.bentre.gov.vn.

22/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật
Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 thá...

Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (các nội dung khác của Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg vẫn tiếp tục triển khai thi hành).

Bộ Tư pháp tổ chức triển khai làm thử việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng ở 3 cấp đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg trong 2 năm, từ năm 2014 đến năm 2015, tại các tỉnh: Quảng Bình, Thái Bình, Điện Biên, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh để Bộ có điều kiện tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này. Căn cứ vào kết quả làm thử, trong quý II năm 2016, Bộ Tư pháp tổng kết, đánh giá, báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg cho phù hợp.

Đồng thời, để Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước, ngày 15 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3120/BTP-PBGDPL về việc hướng dẫn thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tiếp cận pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao liên quan đến xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 12 của Quy định và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 7730/BTP-PBGDPL ngày 18/11/2013 về việc triển khai Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (trừ điểm 4 và điểm 5); đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2015 ở địa phương theo điểm 1 Công văn số 2961/BTP-PBGDPL ngày 03/7/2014 của Bộ Tư pháp về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và hòa giải ở cơ sở năm 2015.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ 5 tỉnh, thành phố được lựa chọn làm thử) báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg năm 2014 cùng với báo cáo chung về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm và gửi về Bộ Tư pháp (qua Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật). Nội dung báo cáo cần nêu rõ các hoạt động đã được thực hiện để triển khai thi hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và kiến nghị, đề xuất cụ thể các giải pháp để triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Báo cáo của địa phương cần nêu rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh, nhất là tính khả thi của các chỉ tiêu, tiêu chí; các giải pháp cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật tại địa phương; sáng kiến, kinh nghiệm trong xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật.

29/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệpPháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệp
Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực t...

Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Hiện nay, đa số các doanh nghiệp ở nước ta là vừa và nhỏ, trình độ chuyên môn và thực lực kinh tế còn hạn chế. Chính vì vậy, họ chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Làm sao để tồn tại, phát triển, có lợi nhuận,… mà ít quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, các doanh nghiệp hiện nay không có bộ phận pháp chế hoặc có nhưng vẫn còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, có chăng họ cũng chỉ quan tâm đến những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh để sinh lời như: Thương mại, dân sự, xây dựng,… mà ít quan tâm đến các quy định của pháp luật mang tính giải quyết hậu quả như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Đến nay, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cơ bản đã đầy đủ. Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến pháp luật về bồi thường của Nhà nước chưa được phổ biến một cách sâu, rộng đến các doanh nghiệp thông qua các kênh truyền thông. Nguyên nhân là do cơ sở vật chất, nhân sự của các cơ quan thẩm quyền còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc truyền tải thông tin, kinh phí dành cho việc thực hiện các công việc nêu trên còn khiêm tốn. Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp khi bị thiệt hại thường có tâm lý hoang mang và không có ý thức là mình sẽ được bồi thường, họ cũng chỉ thu thập các chứng cứ để minh oan, ít khi họ có động thái thu thập hoặc thu thập không đầy đủ chứng cứ để sau này làm căn cứ cho việc bồi thường thiệt hại.

Việc thương lượng giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước ít khi đi đến kết quả, do từ trước tới nay một số cơ quan nhà nước chỉ quen cầm cân nảy mực. Vì vậy, họ khó thông cảm đến thiệt hại của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày doanh nghiệp bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, khi khởi kiện đa phần doanh nghiệp có tâm lý kiện chắc gì đã thắng, một số doanh nghiệp còn theo lối tư duy cũ là khi bị thiệt hại thì hay dàn xếp hơn là tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường của Nhà nước để từ đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua những quy định của pháp luật hiện hành.

Do đó, tự bản thân doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng. Cùng với đó, doanh nghiệp nên thay đổi lối tư duy cũ thay vào đó là cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để vận dụng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi có thiệt hại xảy ra.

21/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thường trực Tỉnh ủy làm việc định kỳ với Khối nội chínhThường trực Tỉnh ủy làm việc định kỳ với Khối nội chính
Chiều ngày 17/6/2014, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức làm việc định kỳ với Khối nội chính để nghe các cơ quan nội chính báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2014. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đến dự và chủ trì cuộc họp.

Chiều ngày 17/6/2014, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức làm việc định kỳ với Khối nội chính để nghe các cơ quan nội chính báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2014. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đến dự và chủ trì cuộc họp.

Tại cuộc họp các đại biểu thống nhất đánh giá tình hình an ninh, trật tự 6 tháng đầu năm 2014 có nhiều diễn biễn phức tạp, nhất là những ngày gần đây, tình hình Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 đang diễn ra hết sức phức tạp, đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam tại Biển Đông. Tình hình trên đã ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, lòng yêu nước, cũng như những băn khăn, lo ngại của cán bộ, đảng viên về hành động ngan ngược của Trung Quốc.


Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các sở, ngành tỉnh và các huyện, thành phố phổ biến, quán triệt đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức yên tâm, bình tỉnh, tin tưởng tuyệt đối vào những chủ trương, chiến lược, sách lược khôn khéo, cương quyết của Đảng và Nhà nước ta. Chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Liên Đoàn lao động tỉnh kịp thời nắm tình, quản lý công nhân ở các Khu công nghiệp, học sinh, sinh viên ở các trường không được tham gia biểu tình gây rối; cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu, phần tử cơ hội lợi dụng xuyên tạc, kích động gây phức tạp tình hình, có những hành động, việc làm vi phạm pháp luật.

Tình hình phạm pháp hình sự được kéo giảm, xảy ra 266/267 vụ, chết 10/10 người, bị thương 49/49 người, thiệt hại trên 2.7 triệu đồng; đã điều tra làm rõ 228 vụ, khởi tố 212 vụ, 298 bị can; trong đó, tội giết người, xâm phạm tình dục trẻ em, cố ý gây thường tích, tội phạm ma túy, trộm cắp tài sản có xu hướng gia tăng; tính chất, hậu quả nghiêm trọng; tai nạn gia thông đường bộ tuy có giảm về số vụ, nhưng số người chết tăng cao (95/54 người); đáng chú ý là tội giết người do mâu thuẫn trong gia đình; tình trạng bắt, giữ người trái pháp luật.

Kết luận cuộc họp, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đánh giá cao sự nỗ lực phấn đấu của các ngành trong Khối nội chính, đã thể hiện vai trò trách nhiệm cao trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đề nghị các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhất là các cơ quan nội chính tiếp tục phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác nội chính trong thời gian tới; triển khai nghiêm túc Công văn số 192-CV ngày 15/5/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Công văn số 2008-CV/TU ngày 22/5/2014 của Bna Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các biện pháp đấu tranh với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặt quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”;

Nắm chắc diễn biến tình hình, kiểm soát chặt chẽ, triển khai có hiệu quả các giải pháp đấu tranh với các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu; đề xuất xử lý kịp thời, không để công nhân, sinh viên, học sinh và nhân dân tham gia biểu tình, gây rối.

Đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, không để lộ lọt bí mật, mất cắp tài sản, phá hoại, gây cháy nỗ, kéo giảm tội phạm giết người, xâm phạm tình dục trẻ em, cố ý gây thường tích, trộm cắp tài sản, tội phạm ma túy, tai nạn giao thông.

Củng cố, nâng cao chất lượng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh, Tổ quốc; phối hợp các ngành, đoàn thể tăng cường công tác tuyền truyền, giáo dục pháp luật, hoạt động trợ giúp pháp lý và hòa giải ở cơ sở; nhằm góp phần đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; kịp thời phát hiện, giải quyết, xử lý các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh tại cơ sở.

19/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
GIỚI THIỆU MÔ HÌNH DÂN VẬN KHÉO VỀ AN NINH TRÂT TỰ - Mô hình “Chiếc gậy an ninh” ấp Long Hoà II xã Long Định, huyện Bình ĐạiGIỚI THIỆU MÔ HÌNH DÂN VẬN KHÉO VỀ AN NINH TRÂT TỰ - Mô hình “Chiếc gậy an ninh” ấp Long Hoà II xã Long Định, huyện Bình Đại
 Nhằm phát huy hiệu quả hoạt động các mô hình dân vận khéo trên địa bàn toàn tỉnh; thông tin đến các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân được biết để nghiên cứu, học tập, vận dụng vào thực tiển công tác vận động quần chúng ở địa phương, đơn vị mình, đồng thời góp ý rút kinh nghiệm cùng xây dựng mô hình dân vận khéo được tốt hơn trong thời gian tới.

 

 

Nhằm phát huy hiệu quả hoạt động các mô hình dân vận khéo trên địa bàn toàn tỉnh; thông tin đến các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân được biết để nghiên cứu, học tập, vận dụng vào thực tiển công tác vận động quần chúng ở địa phương, đơn vị mình, đồng thời góp ý rút kinh nghiệm cùng xây dựng mô hình dân vận khéo được tốt hơn trong thời gian tới.

Với thực trạng của ấp Long Hoà II, xã Long Định cặp hai bên tuyến lô thuộc Tổ NDTQ số 01, 02 các hộ dân thường hay bị mất trộm chó, gà, vịt và trộm vặt, ý thức cảnh giác và sự phối hợp cùng nhau phòng chống tội phạm của người dân chưa cao, nên khi xảy ra sự việc đối tượng dễ dàng trốn thoát và an ninh trật tự nơi đây luôn không được ổn định.

Trên cơ sở đó ấp Long Hoà được huyện chọn thực hiện mô hình “Chiếc gậy an ninh”, bước đầu Ban vận động ấp phối hợp cùng Công an xã tổ chức mời các hộ dân cặp hai bên tuyến lộ để họp bàn về chủ trương và cách thức thực hiện mô hình, ngay lập tức chủ trương trên được nhân dân đồng tình và hưởng ứng rất cao; tiếp sau đó mỗi hộ dân đã cùng làm 25 chiếc gậy chiều dài 2m sơn màu trắng, đỏ (mỗi nhà một chiếc gậy) cùng 50m dây dù và 8 mõ tre (cứ 5 nhà sẽ có một mõ tre).

Mô hình được Công an huyện và chính quyền địa phương chủ trì diễn tập với tình huống đặt ra là “khi đối tượng trộm cắp thực hiện hành vi trên địa bàn tổ và bị phát hiện thì những tiếng mõ tre được đánh lên trong toàn tổ, các gia đình với gậy an ninh và dây dù cùng nhau truy bắt đối tượng giao nộp cho chính quyền địa phương, ngoài ra người dân trong tổ còn phân công nhau thay phiên tuần tra với gậy an ninh trên toàn địa bàn nhằm góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho nhân dân trong xóm, ấp”.

Từ khi triển khai và áp dụng mô hình này trên địa bàn ấp, ý thức tự giác phòng chống tội phạm của người dân trong khu vực được nâng lên, nhân dân đoàn kết một lòng cùng nhau phòng chống tôi phạm, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn giảm hẳn, trộm cắp và ăn cắp vặt trên địa bàn không còn xãy ra, đời sống bà con nhân dân trong khu vực ổn định, người dân an tâm làm ăn phát triển sản xuất và tăng thu nhập.

 

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2013Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2013
Sáng ngày 30/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) năm 2013. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Sáng ngày 30/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) năm 2013. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Ông Lê Văn Hoàng, Tỉnh Ủy viên, Phó Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải, Phó Ban Thường trực Ban ATGT tỉnh thông qua báo cáo kết quả công tác đảm bảo trật tự ATGT năm 2013 và triển khai nhiệm vụ công tác đảm bảo trật tự ATGT năm 2014; triển khai Nội dung  cam kết trách nhiệm về ATGT năm 2014 giữa Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.

Năm 2013, mặc dù các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp, mở nhiều đợt cao điểm tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm trật tự tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn chưa được kiềm chế, kéo giảm; tai nạn giao thông đường bộ đã xảy ra 149/110 vụ (tăng 39 vụ=35,45%), chết 152/119 người (tăng 33 người chết=27,73%), bị thương 73/53 người (tăng 20 người bị thương= 37,73%); so với năm 2012, tăng cả 3 tiêu chí. Va chạm giao thông đường bộ 213/352 vụ (giảm 161 vụ =56,95%), bị thương 332/498 người (giảm 196 người bị thương=62,87%). Va chạm giao thông đường thủy xảy ra 2/4 vụ.


Tình trạng trên là do ý thức chấp hành pháp luật về ATGT của một bộ phận người dân khi tham gia giao thông chưa cao, các vụ tai nạn giao thông phần lớn do lỗi đi không đúng phần đường quy định, chuyển hướng thiếu quan sát, bất cẩn, không làm chủ tai lái, tốc độ; uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn…; độ tuổi vi phạm đa số từ 18 đến 30 tuổi.

Tình trạng lấn chiến lòng, lề đường, vĩa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh vẫn còn xảy ra, nhất là tuyến QL 60 đường vào cầu Rạch Miễu, QL 57, tuyến sông huyện Mỏ Cày Nam.

Việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, chất lượng không đảm bảo, trích xuất thông tin không đầu đủ. Việc trang bị công cụ, phương tiện, hỗ trợ kinh phí cho lực lượng tuần tra, kiểm soát còn khó khăn, chưa kịp thời.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trần Anh Tuấn đánh giá sự nỗ lực, cố gắng tập trung của cả hệ thống chính trị, của các lực lượng nhưng tình hình trật tự an toàn giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp; một số địa phương để xảy tai nạn giao thông tăng cả 3 mặt.


Để thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2014, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trần Anh Tuấn đề nghị các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Ban ATGT các huyện, thành phố tiếp tục triển khai kế hoạch đảm bảo trật tự ATGT các ngày tết Dương lịch, tết Giáp Ngọ, lễ hội xuân năm 2014; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT trong cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân; trong đó tập trung đối tượng thanh, thiếu niên, các đối tượng cá biệt, có nguy cơ vi phạm trật tự ATGT; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, cải tiến nội dung, hình thức, xây dựng tiểu phẩm, lòng ghép trong các bản tin, trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành tỉnh sát hợp với cuộc sống, sinh hoạt của người dân; tổ chức sinh hoạt pháp luật về ATGT ở các câu lạc bộ, tổ nhân dân tự quản; củng cố Đội Thanh niên xung kích, các tổ chức đoàn trong các trường học, ấp, khu phố; tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm trật tự ATGT, nhất là uống rượu, bia quá nồng độ, dùng chất kích thích, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; chở quá khổ, quá trọng tải, quá số người quy định; xử lý kiên quyết việc lấn chiếm hành lang ATGT, lấn chiến lòng, lề đường, vĩa hè; nhất là ở các tuyến QL 60 đường vào cầu Rạch Miễu, QL 57, các tuyến sông thuộc huyện Mỏ Cày Nam; trang bị công cụ, phương tiện, hỗ trợ kinh phí kịp thời, và sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.

Nhân dịp này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tặng 04 Bằng khen cho 02 tập thể và 02 cá nhân; Ban ATGT tỉnh tặng giấy khen cho 18 tập thể và 43 cá nhân.

02/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Những bước chuyển biến trong công tác cải cách hành chính ở Bến TreNhững bước chuyển biến trong công tác cải cách hành chính ở Bến Tre
  Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, theo tinh thần Kế hoạch số 5814/KH-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh “về thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2011-2015”, ngày 13/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về “ Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai ...

Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, theo tinh thần Kế hoạch số 5814/KH-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh “về thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2011-2015”, ngày 13/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về “ Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020”, Sở Nội Vụ đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh phối hợp với các ngành chức năng trong tỉnh tăng cường thực hiện các nội dung trong công tác CCHC trên địa bàn tỉnh.

Đến nay, Đoàn kiểm tra công tác CCHC (thực hiện theo Kế hoạch số 05/KH-SNV của Sở Nội Vụ) đã tiến hành kiểm tra tại 3 huyện: huyện Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Bắc; 4 Sở gồm Sở Giao thông Vận tải, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Ngoài ra, các huyện, thành phố còn lại cũng đã xây dựng kế hoạch và tiến hành kiểm tra CCHC ở các cơ quan chuyên môn cấp huyện và UBND cấp xã. Qua đó, nghiêm túc chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, góp phần hoàn thiện công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân. Bên cạnh đó, công tác CCHC gắn với công tác dân vận chính quyền ngày càng được lãnh đạo các địa phương, đơn vị quan tâm quán triệt trong cán bộ công chức, viên chức thực hiện, cụ thể là nội dung “ Ba không, ba nên, ba cần” được niêm yết công khai trước trụ sở các cơ quan, đơn vị thực hiện và người dân theo dõi, giám sát.

Việc công khai và hướng dẫn đầy đủ, kịp thời các loại thủ tục hành chính thông qua nhiều hình thức như niêm yết công khai, trang tin, Website, báo đài đã góp phần làm cho người dân ngày càng tiếp cận dễ dàng với các loại thủ tục hành chính cho từng lĩnh vực theo nhu cầu của người dân. Toàn tỉnh có 17/17 sở ngành; 8/9 huyện, thành phố công khai thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (riêng Mỏ Cày Bắc mới thành lập bộ phận một cửa chưa thực hiện). Đến nay, trong toàn tỉnh có 270 thủ tục hành chính được ban hành; sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ cụ thể trong đó ban hành mới là 142, sửa đổi, bổ sung 64, bãi bỏ 57, thay thế 3, điều chỉnh tên 4. Tính đến nay, đã có 17/17 sở ngành tỉnh; 9/9 huyện, thành phố; 164/164 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa, 5/9 huyện, thành phố thực hiện cơ chế một cửa liên thông (Thành phố Bến tre, Ba Tri, Giồng Trôm, Chợ Lách, Bình Đại) và 4 mô hình liên thông cấp tỉnh gồm: Liên thông giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư – Công an tỉnh - Cục thuế tỉnh; Ban Quản lý các Khu công nghiệp-Sở Kế hoạch và Đầu tư -Sở Công thương; Sở Tư pháp – Văn phòng UBND tỉnh – Công an tỉnh; Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch - Sở Xây dựng - Sở Y tế - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch 744/KH-UBND của UBND tỉnh đến nay là 8.348 văn bản, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và UBND các cấp ban hành từ năm 1976 đến 31/12/2012 đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, đảm bảo về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã quyết định cử đi học 54 người (sau đại học 10, Đại học 44); bồi dưỡng chương trình chuyên viên chính cho 100 cán bộ, chương trình chuyên viên cho 225 cán bộ; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ 2.621 người (cán bộ công chức cấp xã 1.256 người); mở 2 lớp đào tạo nguồn chức danh Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn với 86 người tham dự; mở 1 lớp tin học trình độ A, 04 lớp tin học trình độ B với 103 học viên; về Anh ngữ mở 2 lớp anh văn trình độ B1 (theo chương trình khung Châu Âu) với 59 học viên, 2 lớp Anh văn trình độ B/76 học viên; bồi dưỡng An ninh - Quốc phòng tại Sóc Trăng cho đối tượng 2 là 22 người, Hà nội 02 người; thực hiện đề án Đào tạo 50 cán bộ, khoa học kỹ thuật trình độ sau đại học ở nước ngoài UBND tỉnh đã ra quyết định cử 2 úng viên đi học thạc sĩ tại Thái Lan, chuẩn bị đưa 2 ứng viên học thạc sĩ ở Hungary; phối hợp tổ chức 2 kỳ thi nâng ngạch cho cán bộ công chức, viên chức cấp tỉnh và các huyện, thành phố. Toàn tỉnh có 11/17 cơ quan chuyên môn và UBND thành phố Bến Tre có website, 22 đơn vị đã triển khai thực hiện hệ thống quản lý văn bản và điều hành (M-office), phần lớn các sở, ban, ngành tỉnh được trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị và phương tiện làm việc như bàn ghế, máy vi tính kết nối Internet và hệ thống mạng LAN; có 17/17 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và 9/9 UBND huyện, thành phố và 14 UBND xã, phường, thị trấn đã xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

Với việc triển khai đồng bộ, toàn diện trên các nội dung về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách hành chính công, hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước, đặc biệt UBND tỉnh đã triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ, giờ giấc làm việc và văn hoá ứng xử nơi công sở. Từ đó xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh, làm cho công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đạt những kết quả quan trọng trên nhiều mặt, đồng thời thực hiện tốt công tác dân vận chính quyền theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 ( khoá XI) “về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” đã đề ra.

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ...

Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Có 95 vụ việc được đánh giá, trong đó, 50 hồ sơ tư vấn pháp luật, 39 hồ sơ tham gia tố tụng, 06 hồ sơ hòa giải. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc theo các nội dung quy định tại Điều 21 Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và các quy định có liên quan của Bộ Tiêu chuẩn, bằng phương pháp đánh giá trực tiếp kiểm tra, nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ việc TGPL.

Kết quả số vụ việc TGPL đạt chất lượng tốt là 93 vụ việc (chiếm tỷ lệ 97,9 %), số vụ việc TGPL đạt chất lượng là 02 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1 %), không có  vụ việc TGPL không đạt chất lượng.

Tuy nhiên, chất lượng vụ việc TGPL cũng còn hạn chế, trong hồ sơ người thực hiện TGPL hướng dẫn đối tượng viết đơn yêu cầu TGPL còn nhiều trường hợp ghi thiếu thông tin (như chứng minh nhân dân, đối tượng….). Bên cạnh đó, còn một vài hồ sơ chưa lập phiếu phân công và sắp xếp hồ sơ theo đúng trình tự thời gian của vụ việc.

Qua đó, Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL yêu cầu người thực hiện TGPL rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện TGPL, nhất là ghi chép thông tin, lập phiếu, sắp xếp hồ sơ. Trung tâm TGPL tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, nhất là hướng dẫn các kỹ năng cho người thực hiện TGPL và tiếp tục phổ biến Thông tư 02/2013/TT-BTP về việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đến người thực hiện TGPL trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh sẽ tổ chức tập huấn cho Trợ giúp viên, Luật sư- cộng tác viên vào cuối tháng 8/2014.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến TreCông bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến Tre
Sáng ngày 10/6/2014, Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc họp công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh. Ông Trần Ngọc Tam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh đến dự và chủ trì cuộc họp.

Sáng ngày 10/6/2014, Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc họp công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh. Ông Trần Ngọc Tam, Ủy viên Ban Thường vị Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh đến dự và chủ trì cuộc họp.

Tham dự cuộc họp có đại diện Vụ gia đình – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban quản lý dự án “Xây dựng ứng phó quốc gia đối với bạo lực gia đình” Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA); thành viên Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh.

Ông Huỳnh Văn Hùng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể dục và Du lịch, kiêm Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh công bố Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh; thông qua Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh; Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình tỉnh; ông Đàm Ngọc Hùng, Trưởng phòng Xây dựng Nếp sống Văn hóa và Gia đình, Sở Văn hóa, Thể dục và Du lịch, Ủy viên Ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh, Tổ trưởng Tổ giúp việc triển khai một số nội dung có liên quan đến công tác gia đình.

Hiện nay, theo đồng hồ dân số (tính đến ngày 01/11/2013), dân số Việt Nam có khoảng 90.000.000 người (tính đến ngày 01/4/2012, có 88,526.883 người, tăng 915.936 người so với 01/4/2011). Trong đó, dân số nam 43.792.120, chiếm 49,5% tổng dân số. Ở Bến Tre, hiện có 348.753 hộ gia đình, với dân số là 1.256.882 người.

Thời gian qua, việc thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư khóa IX về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Hôn nhân và gia đình ở tỉnh ta đạt nhiều kết quả nhất định. Nhiều chương trình, kế hoạch về xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình được triển khai thực hiện nghiêm túc; công tác xây dựng gia đình theo tiêu chí “ Ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ và phát triển bền vững”  luôn được cấc cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, nhân dân quan tâm và hưởng ứng tích cực; góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình có nhiều chuyển biến. Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” ngày càng tăng. Nhiều mô hình “ Xây dựng nếp sống văn minh – gia đình văn hóa”, “Người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan”, “ Đền ơn đáp nghĩa”, “Vì người nghèo” …được tập trung triển khai nhân rộng khá tốt.


Tuy nhiên, công tác gia đình ở tỉnh ta trong thời gian qua cũng còn nhiều khó khăn, vướng mắc; phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phát triển mạnh về số lượng, nhưng ở một số địa phương chưa quan tâm đến chất lượng, chưa chú trọng nội dung xây dựng lối sống văn hóa trong từng gia đình. Tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng gia tăng, nhưng việc xử lý có nơi thiếu kiên quyết; kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa thật sự bền vững; nhiều tệ nạn ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, mai dâm …chưa được ngăn chặn triệt để, đã và đang len lỏi trong từng gia đình; nhiều vụ việc tiêu cực vẫn còn xảy ra, đã tác động xấu đến thuần phong, mỹ tục, đạo đức, lối sống, ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình, nhất là thế hệ trẻ.

Phát biểu kết luận cuộc họp, ông Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng ban Chỉ đạo công tác gia đình tỉnh đánh giá cao kết quả công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh ta trong thời gian qua; các ngành, địa phương đã phối hợp thực hiện khá tốt, nhất là triển khai Dự án “Xây dựng ứng phó quốc gia đối với bạo lực gia đình” do Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ nhằm hướng tới mục tiêu chung về giải quyết bạo lực gia đình, nhằm xây dựng và đưa vào sử dụng một bộ chỉ số thống nhất về phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng gói can thiệp tối thiểu, toàn diện về phòng, chống bạo lực gia đình có tính tới chi phí hiệu quả; nâng cao năng lực điều phối của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần kéo giảm bạo lực gia đình và bạo lực giới.

Ông Trần Ngọc Tam đề nghị thành viên Ban Chỉ đạo, các ngành liên quan và các địa phương tiếp tục thực hiện Công văn số 1954-CV/TU ngày 31/3/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường lãnh đạo công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định 104/QĐ-UBND ngày 16/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh, Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình; chú ý thực hiện tốt công tác phối hợp, với phương châm “lấy xây để chống”; nâng cao trách nhiệm, phân công cụ thể, tận dụng nhiều giải pháp phát hiện, can thiệp ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả đối với hành vi bạo lực gia đình; tập trung công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; vận động cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia phát hiện, ngăn chặn, hành vi có nguy cơ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe đến người thân, trẻ em, phụ nữ trong gia đình.

13/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổ ấm gia đìnhTổ ấm gia đình
 Với nhịp sống nhanh trong xã hội hiện đại, thiết nghĩ cụm từ “tổ ấm gia đình” càng nên được nhắc nhỡ, khuyên nhủ với nhau thường xuyên. Bởi sự tất bật với công việc, rồi hội họp, tiệc tùng, giao du… chúng ta không có nhiều thì giờ rãnh rỗi, nên dễ xao lãng với “tổ ấm” của mình, mà lẽ ra ta phải chăm chút nó từng ngày. Vì đây là nơi “neo đậu” bình yên, vỗ về, ấm áp cho mỗi con người trong cuộc đ...

Với nhịp sống nhanh trong xã hội hiện đại, thiết nghĩ cụm từ “tổ ấm gia đình” càng nên được nhắc nhỡ, khuyên nhủ với nhau thường xuyên. Bởi sự tất bật với công việc, rồi hội họp, tiệc tùng, giao du… chúng ta không có nhiều thì giờ rãnh rỗi, nên dễ xao lãng với “tổ ấm” của mình, mà lẽ ra ta phải chăm chút nó từng ngày. Vì đây là nơi “neo đậu” bình yên, vỗ về, ấm áp cho mỗi con người trong cuộc đi xa trở về hay sau khi vật lộn căng thẳng với cuộc mưu sinh…

Ông bà ta nói rằng: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, nhắc nhỡ chúng ta giữ gìn tổ ấm, hạnh phúc gia đình, trong đó đề cao vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình là “Xây tổ ấm”. Từ việc chăm sóc cho cha mẹ, chăm lo cho chồng đến việc nuôi dạy con cái, rồi “công, ngôn, dung hạnh”, “nữ công gia chánh” hay ứng xử trong gia đình “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi bớt lửa chớ đời nào khê”.

Mỗi ngày do công việc chi phối nên những thành viên trong gia đình ít được kết nối tình cảm chặt chẽ và thường xuyên, sự gần gũi để chia sẻ, quan tâm nhau cũng ít dần. Lại có thêm phương tiện thông tin hiện đại, như điện thoại di động, Internet… nên cứ “gặp nhau qua mạng”, thăm hỏi qua nhắn tin, mail, chát, pacbook… nên mỗi ngày tình cảm trong gia đình nhạt đi mà chúng ta người trong cuộc mãi bận rộn quên đi giá trị tinh thần đã mất dần đi. Không ít chuyên gia tâm lý khuyên dù bận rộn, nhưng trong một ngày các thành viên trong gia đình nên có một bữa ngồi ăn cơm chung với nhau. Vì đây chính là một phần yếu tố tạo nên “tổ ấm”. Nơi mà các buồn phiền, căng thẳng… đã tan biến, chỉ còn lời tâm sự nhỏ to ấm áp, ngọt ngào, quan tâm chia sẻ từ miếng thức ăn cho nhau, đến động viên, khích lệ trong học tập, sinh hoạt hằng ngày…

Không phải ở Việt Nam mà nhiều nước văn minh, hiện đại trên thế giới họ cũng coi trọng tổ ấm gia đình. Vì chính nơi đó là nguồn cơn của mọi sự hạnh phúc, thành đạt chung của gia đình, nó giúp cho các thành viên trong gia đình toàn tâm toàn ý, hưng phấn tập trung vào học tập, công việc để thực hiện ước mơ, hoài bão… đi đến thành đạt, thành danh. Chứng minh cho điều đó là bao giờ người phụ nữ cũng cần có “bờ vai” vững chãi của người chồng để nương tựa. Còn người đàn ông phía sau sự thành đạt luôn có bóng dáng của người vợ, hết lòng “nâng khăn sửa túi” cho chồng. Hay con cái trong nhà bao giờ cũng cần sự quan tâm, chia sẽ của cha mẹ về tâm tư, nguyện vọng của mình.

Có lẽ khó có thể tìm từ nào cho thật hay, thật đẹp hơn và khái quát cao hơn từ “tổ ấm” khi đề cập đến gia đình. Không hoa mỹ, không chảy chuốt, chỉ là sự bình dị mà hàm chứa tình cảm sâu sắc, đằm thắm, lung linh khiến cho mọi người nếu xao lãng, thiếu quan tâm khi nhớ đến nó phải giật mình, cân nhắc. Trong cuộc đời không ít người tổ ấm gia đình vì lý do này lý do khác bị đỗ vỡ, cũng như không ít người không có được tổ ấm gia đình. Nỗi bất hạnh đó không có gì bù đắp được. Vậy những ai đang có tổ ấm gia đình nên quan tâm vun đắp, gìn giữ thật tốt. Không những ta giữ cho ta mà ta giữ cho mọi người thân yêu nhất trong tổ ấm của mình, đồng thời qua đó nhằm góp phần làm tốt đẹp cho xã hội hơn.

19/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp triển khai Kế hoạch phổ biến về cải cách hành chính năm 2013 Sở Tư pháp triển khai Kế hoạch phổ biến về cải cách hành chính năm 2013
Nhằm phổ biến, quán triệt những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác cải cách hành chính; góp phần nâng cao nhận thức, ý thức về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan về công tác cải cách hành chính; đồng thời giúp cho các tổ chức và công dân biết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi có nhu cầ...

Nhằm phổ biến, quán triệt những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác cải cách hành chính; góp phần nâng cao nhận thức, ý thức về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan về công tác cải cách hành chính; đồng thời giúp cho các tổ chức và công dân biết được quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi có nhu cầu thực hiện giao dịch với cơ quan hành chính. Vừa qua, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch tuyên truyền về cải cách hành chính năm 2013 (Kế hoạch số 29/KH-STP ngày 07 tháng 01 năm 2013).

Theo đó, việc tuyên truyền sẽ tập trung vào các nội dung chính sau: tuyên truyền về các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, những văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương về công tác cải cách hành chính; quán triệt những chủ trương, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về những nội dung có liên quan đến công tác cải cách hành chính; tình hình thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính trong lĩnh vực tư pháp thời gian qua và mục tiêu, yêu cầu, nội dung thực hiện nhiệm vụ này trong thời gian tới; các quyền và nghĩa vụ của tổ chức, công dân trong mối quan hệ với cơ quan hành chính nhà nước; trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân; các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp đang được áp dụng tại Sở và tại cấp huyện, cấp xã, cũng như biểu dương những tập thể, cá nhân có những sáng kiến, thành tích tốt trong công tác cải cách hành chính tại cơ quan.

Công tác tuyên truyền được tổ chức thông qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú như: phổ biến trong các buổi sinh hoạt đầu tuần, sinh hoạt “Ngày Pháp luật”, cuộc họp cơ quan để triển khai những nội dung, kế hoạch, nhiệm vụ cải cách hành chính cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức; lồng ghép nội dung tuyên truyền về cải cách hành chính trong chương trình “Pháp luật và đời sống”, chương trình “Tư vấn pháp luật” trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bến Tre; thực hiện việc viết tin, bài có nội dung liên quan đến cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính để đăng tải trên Bản tin Tư pháp và trên Website của Sở.

Giám đốc Sở giao cho Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật là đơn vị chủ trì tham mưu trong việc tổ chức triển khai thực hiện và tổng hợp, báo cáo kết quả công tác tuyên truyền về cải cách hành chính. Đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm của các Phòng, Trung tâm trực thuộc Sở phải thường xuyên viết tin, bài hoặc cung cấp những nội dung, tin ảnh có liên quan đến công tác cải cách hành chính gửi về Thường trực Ban Biên tập của Sở để biên tập.

21/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 ...

Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 huyện, thành phố và công chức, viên chức thuộc Sở.

Các đại biểu cơ bản thống nhất với dự thảo Báo cáo sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014; trong đó, tập trung thảo luận, góp ý một số vấn đề về nâng cao hiệu quả niêm yết, công khai thủ tục hành chính; việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp huyện, cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng; hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.


Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị những tháng còn lại trong năm 2014 và hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV, toàn ngành Tư pháp Bến Tre tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, UBND các cấp; thẩm định, góp ý 100% các dự thảo văn bản khi có yêu cầu. Thực hiện tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền 100% văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương, đặc biệt là tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện năm 2014.

Tiếp tục triển khai, thi hành Hiến pháp năm 2013, tổ chức phổ biến, giới thiệu Hiến pháp đến tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh thông qua các hình thức phù hợp. Phát huy vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. tập trung triển khai thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Đất đai năm 2013...,quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, hòa giải ở cơ sở, phấn đấu đạt 85% tỷ lệ hoà giải thành theo chỉ tiêu đề ra. Tiếp tục triển khai thực hiện công tác xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch của UBND tỉnh.


Cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng, hiệu quả, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; triển khai thực hiện hiệu quả giải pháp tránh bỏ sót đối tượng trợ giúp pháp lý.

Đẩy mạnh công tác kiểm soát thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, UBND tỉnh; tập trung mọi nguồn lực triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch rà soát, đánh giá quy định, thủ tục hành chính năm 2014, xây dựng phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, báo cáo Bộ Tư pháp đúng thời gian quy định. Thường xuyên cập nhật, tổ chức niêm yết công khai đầy đủ, kịp thời 100% thủ tục hành chính đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong hoạt động hành chính tư pháp; đặc biệt là việc xây dựng và triển khai thực hiện mô hình một cửa liên thông trong đăng ký khai sinh - hộ khẩu - bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi; đăng ký khai tử - xóa đăng ký thường trú; phần mềm hộ tịch trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tổ chức tổng kết công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh, báo cáo UBND tỉnh, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định.

Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020. Phối hợp Đoàn luật sư xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề và đạo đức ứng xử nghề nghiệp cho luật sư trên địa bàn tỉnh.

Kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức; thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2013 của Bộ Tư pháp về việc cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc. Tổ chức thực hiện hiệu quả các hoạt động hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp và Đại hội thi đua yêu nước, đặc biệt là phong trào thi đua ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình chứng nhận hợp đồng giao dịch nhân sự năm 2008Quy trình chứng nhận hợp đồng giao dịch nhân sự năm 2008

 

PHÒNG CÔNG CHỨNG SỐ 1

TỈNH BẾN TRE

QUY TRÌNH CHỨNG NHẬN

HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH DÂN SỰ NĂM 2008

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ
  • Mục đích: Nhằm đem lại tính xác thực cho các hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật
  • Phạm vi áp dụng: Cho tất cả các đối tượng có yêu cầu giao dịch dân sự
  • Tài liệu áp dụng: Bộ Luật Dân sự, Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 12/8/2000 của Chính phủ; Thông tư số: 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường; Luật Công chứng số 82/2006/QH11
  • Thuật ngữ : Phổ thông, dễ hiểu
Số TT Nội dung công việc Người thực hịên Thời gian hoàn thành
01 Tiếp nhận hồ sơ, chuyển giao Nhân viên

- Trường hợp đơn giản không quá 20 phút (theo quy định: 03 ngày/trường hợp)

- Trường hợp phức tạp không quá 05 ngày làm việc (theo quy định: 10 ngày/trường hợp)
02 Kiểm tra nội dung hồ sơ. Công chứng viên
03 Yêu cầu các đối tượng có liên quan trong hợp đồng giao dịch dân sự xem lại nội dung trước khi ký tên vào sổ lưu công chứng Công chứng viên
04 Viết lời chứng theo mẫu và ký tên Công chứng viên
05 Ghi danh mục hồ sơ lưu và cho số công chứng, vào sổ lưu Công chứng viên
06 Đóng dấu; Thu lệ phí, trả hồ sơ Nhân viên
07 Lưu hồ sơ Nhân viên
07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Đôi điều về đốt tiền vàng mã trong ngày tếtĐôi điều về đốt tiền vàng mã trong ngày tết
Trong văn hóa của người Việt Nam từ nhiều đời nay, ngày Tết Nguyên đán là ngày nhà nhà chuẩn bị đón chào một năm mới với nhiều niềm hy vọng mọi việc đều tốt lành.

Trong văn hóa của người Việt Nam từ nhiều đời nay, ngày Tết Nguyên đán là ngày nhà nhà chuẩn bị đón chào một năm mới với nhiều niềm hy vọng mọi việc đều tốt lành.

Bắt đầu từ ngày 23 tháng chạp là ngày đưa ông Táo về trời là báo hiệu những ngày cận tết, rồi đến những ngày cúng tết truyền thống như cúng ông bà, đón giao thừa, cúng các ngày mùng 3, mùng 5. Điều đặc biệt là trong những lần cúng này không thể thiếu vắng việc đốt tiền vàng mã. Có thể hiểu việc đốt tiền vàng mã đó là vấn đề tâm linh đã thâm nhập vào tư tưởng của người Việt Nam ta từ bao đời nay bởi một phần do sự ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa khi đất nước ta bị đô hộ. Bởi có thể do người sống nghĩ một năm có một cái tết, người sống muốn sang năm mới có cuộc sống sung túc thì người ở bên kia thế giới nhất là người thân cũng phải có cuộc sống đầy đủ nên người sống thường đốt rất nhiều tiền vàng mã và đồ mã để gửi đến người quá cố hay thần linh. Ngày nay, vàng mã cũng được biến tấu rất đa dạng như tiền đô, tiền với mệnh giá lớn, hay vàng miếng bằng giấy; còn đồ mã là nhà lầu, xe hơi, quần áo, điện thoại… bằng giấy. Qua đó, hàng năm không thể tính được chính xác người dân dùng bao nhiêu tiền thật mua vàng mã, đồ mã bằng giấy để đốt gửi đến người ở bên thế giới vì theo tâm linh họ nghĩ gửi đến thì những người đó sẽ phù hộ độ trì cho được bình an mạnh khỏe, làm ăn may mắn, mọi việc điều suôn sẽ…

Chuyện đốt vàng mã trong ngày tết là chuyện thường niên, tuy nhiên suy nghĩ đốt tiền vàng giấy để gửi đến người thân như ông bà cha mẹ những người đã khuất có phải là việc làm cần thiết hay không? Bởi lẽ, hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn còn sự việc con đánh mắng, hất hủi, bỏ đói cha mẹ, ông bà. Vì vậy, khi ông bà cha mẹ còn sống hãy đền ơn, báo hiếu chứ đừng để khi họ qua đời mới gửi đến thật nhiều thứ tiền, vàng, vật dụng bằng giấy.

Đốt giấy tiền vàng mã ngày tết đã ăn sâu vào tư tưởng đối với người dân, điều này khó có thể thay đổi nhưng thiết nghĩ người dân cần có nhận thức nhằm tránh đốt tiền vàng mã bừa bãi gây lãng phí giấy tiền vàng mã cũng được mua bằng tiền thật; mà còn có thể bị xử phạt theo Điểm c, Điều 18 Nghị định 75/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa quy định phạt tiền từ 500.000 - 1.000.000đ đối với hành vi đốt đồ hàng mã tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa, nơi công cộng khác.

11/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre “Ý Đảng – Lòng dân” từ việc xây dựng các mô hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốcBến Tre “Ý Đảng – Lòng dân” từ việc xây dựng các mô hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc
 Hiện nay, toàn tỉnh có 53 mô hình “Dân vận khéo” trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc (BVANTQ), những mô hình này đang ngày một phát huy hiệu quả, khẳng định được vai trò quan trọng, chủ thể của quần chúng nhân dân trong việc góp phần giữa gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTXH) tại địa phương

Thời gian qua, cùng với chủ trương chung của các cấp uỷ đảng, sự phối hợp, hướng dẫn đồng bộ của lãnh đạo Công an tỉnh, hệ thống Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội từ tỉnh đến cơ sở, lực lượng công an các địa phương trong tỉnh đã tăng cương công tác phối hợp với các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng các mô hình “ Dân vận khéo” trong phòng trào quần chúng tham gia BVANTQ, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Với mục tiêu đặt ra là kéo giảm thấp nhất các tai tệ nan xã hội ở địa phương, xây dựng xóm làng yên vui, hoà thuận, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, cảm hoá giáo dục người lầm lổi tại công đồng, từ đó, nhiều mô hình “ Dân vận khéo” trong phong trào này đã ra đời và lan toả đến khắp các xóm làng, tổ NDTQ ở các huyện, thành phố trong tỉnh; điển hình đến nay mô hình “ Liên tịch tứ trụ” có 100% xã, phường, thị trấn triển khai và duy trì hoạt động, hàng năm đều có sơ tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm, hiệu quả từ mô hình này là do công tác quản lý, cảm hoá, giáo dục người lầm lổi và người có nguy cơ vi phạp pháp lậut tại khu dân cư; nhiều địa phương đã làm tốt mô hình này và nhân rộng thành “6 trụ” ( có thêm Hội LH Phụ nữ, Hội Nông dân), như huyện Chợ Lách; Phường 5 thánh phố Bến Tre “ 8 trụ” ( thêm hội Phụ Nữ, Nông Dân, người cao tuổi, MTTQ); mô hình “ Tiếng mõ An ninh” hiện huyện Mỏ Cày Nam còn duy trì trong các trường hợp báo động, tập hợp lực lượng cứu hộ, cứu nạn, chết đuối, cháy và các trường hợp già neo đơn cần cấp cứu, hỗ trợ; huyện Mỏ Cày Bắc và huyện Bình Đại lồng ghép vào trong mô hình mới như “ Cổng rào nhân dân tự phòng, tự quản”, “ Chiếc gậy an ninh”…; hiện nay, trong toàn tỉnh có 53 mô hình đang duy trì hoạt động, cụ thể : Huyện Mỏ Cày Bắc có 10 mô hình như “ gặp gỡ đối thạoi với người lầm lỗi, người có nguy cơ vi phạp pháp luật tại cộng đồng dân cư”, “ An toàn giao thông”, “ Đội dân phòng cơ động”, “ CLB lưu trú an toàn về ANTT”, “ CLB hướng thiện”…; huyện Giồng Trôm 5 mô hình “ Nhóm tự phòng”, “ 5 tự quản”, “ đội dân phòng xung kích”…;huyện Mỏ Cày Nam có 7 mô hình “ Ba xây, ba chống”, “ thắp sáng đèn đường”, “ ATGT”, “ Tự phòng, tự quản”…; huyện Châu Thành có 4 mô hình “ Tổ Chống trộm”, “ Tổ công nhân tự quản”, “ Kéo giảm TNGT”…; huyện Bình Đại có 4 mô hình “Đội dân phòng ven sông”, Chiếc gậy an ninh”, “ Ánh sáng an ninh”…; huyện Ba Tri có 7 mô hình “ Cảm hoá TTN vi phạm GT”, “ Cảm hoá GD TTN chậm tiến”, “ Tổ NDTQ an toàn”…; huyện Chợ Lách có 8 mô hình “ Xóm đạo bình yên”, “ Xoá nạn cờ bạc, số đề”, “ Giáo dục cá biệt”, “ Chốt chặn”..và huyện Thạnh phú có 5 mô hình “ Văn hoá giao thông, bình yên sông nước”, “ ANTT”, “ ATGT”…, ngoài ra trong năm 2013, công an các địa phương đã phối hợp với Khối vận các cấp đăng ký nhiều mô hình “ Dân vận khéo” về “ An ninh trật tự”; trong đó, có 25 mô hình được đăng ký cấp tỉnh.

Có thể thấy, những mô hình trên được thành lập và duy trì hoạt động đã góp phần không nhỏ vào việc cùng với chính quyền, các ngành chức năng, nhất là lực lượng công an các địa phương đã kịp thời phát hiện ngăn chặn tại chổ, phát huy vai trò tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân, tăng cường hơn nữa ý thức trách nhiệm của người dân cùng tham gia giữ gìn ANTT tại nơi mình sinh sống và tại địa phương, nhiều mô hình đến nay đã phát huy hiệu quả và thật sự đi vào đời sống người dân, được các cấp uỷ đảng đánh giá cao và nhân rộng ra nhiều địa phương học tập, rút kinh nghiệm vận dụng như mô hình “ tự phòng, tự quản”, mô hình “ ánh sáng an ninh”, đặc biệt trong đó có những mô hình các tỉnh bạn đến học tập rút kinh nghiệm như mô hình “ xóm đạo bình yên”, “ Cổng rào tự phòng, tự quản”.

Hiện nay, Công an tỉnh đang phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh uỷ và MTTQ tỉnh tiếp tục khẩn trương thực hiện công tác khảo sát, đánh giá lại hiệu quả từng mô hình cụ thể để từ đó kịp thời chấn chỉnh, bổ sung hoàn thiện các nhực điểm, khiếm khuyết, hạn chế của từng mô hình, hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng các nội quy, quy chế hoạt động cho phù hợp, trên nguyên tắc đảm bảo sự đồng tình hưởng ứng của người dân, đồng thời đi đôi với việc chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật hiện hành. Việc phát động nhân dân cùng tham gia “phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ” trên khắp các địa bàn trong tỉnh, đã và đang là chủ trương có tinh chiến lược của Đảng ta, và là việc làm thường xuyên, lâu dài, bền bỉ của các cấp chính quyền và toàn hệ thống chính trị trong tỉnh, thể hiện rất rõ “ Ý Đảng hợp lòng dân”; từ đó làm chuyển biến nhận thức và hành động của người dân trong công đồng dân cư; ngày càng nhiều mô hình trong phong trào này được ra đời và đi vào cuộc sống, làm cho đại bộ phận quần chúng nhân cùng tham gia góp phần xây dựng một xã hội đồng thuận, dân chủ và an toàn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội ở từng địa phương.

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát và kỹ năng tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến TreTập huấn nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát và kỹ năng tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới;...

Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới; thực hiện Kế hoạch số 2857/KH-UBND ngày 23/6/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh; ngày 15/8/2014, tại hội trường Thành uỷ thành phố Bến Tre, Ban An toàn giao thông tỉnh đã phối hợp cùng Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho trên 100 cán bộ, công an cấp xã trên địa bàn thành phố.


Tham dự lớp tập huấn các học viên đã được nghe báo cáo viên trình bày những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt; Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ quy định về việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết và các văn bản có liên quan; Nghị định số 93/2013/NĐ-CP ngày 20/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa; hướng dẫn kỹ năng tuyên tuyền pháp luật về an toàn giao thông…


Theo Kế hoạch, trong những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9/2014, Ban An toàn giao thông tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện tổ chức 09 lớp tập huấn cho lực lượng công an, cán bộ cấp xã tham gia công tác đảm bảo trật tự - an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.

18/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Phát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtPhát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

 

 

Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành phải qua thẩm định của Sở Tư pháp. Xuất phát từ nhiệm vụ trên, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Hiện tại, Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có 03 biên chế, gồm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và chuyên viên (01 thạc sĩ luật, 02 cử nhân luật - trong đó 01 đang học cao học luật). Từ khi được thành lập cho đến nay, Phòng đã thẩm định 755 văn bản quy phạm pháp luật và tham gia xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác của tỉnh. Hầu hết, các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được Phòng thẩm định đều đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với kết quả trên, vị trí và vai trò của Phòng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được khẳng định, nhiều năm liền được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen tập thể lao động xuất sắc, đặc biệt trong năm 2013 Phòng vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, để đạt được những thành tựu nêu trên là do sự nỗ lực, phấn đấu của tập thể Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tư pháp, đồng thời công tác thẩm định luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong quá trình hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và được các cấp, các ngành của tỉnh quan tâm thích đáng. Nhiều cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật không còn coi việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật chỉ là một thủ tục luật bắt phải làm, không còn thái độ kiểu đối phó khi gửi hồ sơ sang Sở Tư pháp để thẩm định.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, nhiệm vụ của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều và nặng nề hơn, trong đó công tác xây dựng pháp luật luôn được xem là nhiệm vụ trọng yếu trong các thời kỳ. Ngành Tư pháp tỉnh, nhất là Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã có những thành tựu đáng ghi nhận trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, góp phần quan trọng vào sự phát triển của Ngành và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ký kết hợp đồng lao động đối với người giúp việc gia đìnhKý kết hợp đồng lao động đối với người giúp việc gia đình
 Ngày 07/4/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình. Nghị định này quy định một số quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng lao động, lao động là người giúp việc gia đình, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội,...

 

 

Ngày 07/4/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình. Nghị định này quy định một số quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng lao động, lao động là người giúp việc gia đình, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Lao động là người giúp việc gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 179 của Bộ luật Lao động (sau đây gọi chung là người lao động), bao gồm: Người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động; người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động. Công việc khác trong gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 179 của Bộ luật Lao động, gồm các công việc: Nấu ăn cho các thành viên trong hộ gia đình mà không phải bán hàng ăn; trồng rau, hoa quả, cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm phục vụ sinh hoạt của các thành viên trong hộ gia đình mà không phải để bán, trao đổi hàng hóa; lau dọn nhà ở, sân vườn, bảo vệ nhà cửa, tài sản của hộ gia đình mà không phải là nhà xưởng, cửa hàng, văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh; lái xe đưa đón các thành viên trong hộ gia đình hoặc vận chuyển các đồ đạc, tài sản của hộ gia đình mà không phải đưa đón thành viên trong hộ gia đình tham gia sản xuất, kinh doanh, vận chuyển hàng hóa, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh; kèm cặp thành viên trong hộ gia đình học văn hóa; giặt quần áo, chăn màn của các thành viên trong hộ gia đình mà không phải kinh doanh giặt là hoặc không phải giặt quần áo bảo hộ lao động của những người được thuê mướn sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình; công việc khác phục vụ đời sống, sinh hoạt của hộ gia đình, các thành viên trong hộ gia đình và không trực tiếp hoặc góp phần tạo ra thu nhập cho hộ hoặc cá nhân trong hộ gia đình.

Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định người ký kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong số các trường hợp: Chủ hộ; người được chủ hộ hoặc các chủ hộ ủy quyền hợp pháp; người được các thành viên trong hộ gia đình hoặc các hộ gia đình ủy quyền hợp pháp. Người ký kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên; người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi và có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

Hợp đồng lao động có những nội dung chủ yếu: Các nội dung theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Bộ luật Lao động; điều kiện ăn, ở của người lao động (nếu có); tiền tàu xe về nơi cư trú khi chấm dứt hợp đồng lao động đúng thời hạn; thời gian và mức chi phí hỗ trợ để người lao động học văn hóa, học nghề (nếu có); trách nhiệm bồi thường do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động; những hành vi bị nghiêm cấm đối với mỗi bên.

Nghị định này cũng quy định thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và người sử dụng lao động. Đối với người lao động báo trước 15 ngày khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này. Người lao động báo trước ít nhất 03 ngày khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau đây: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc theo hợp đồng lao động; không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng kỳ hạn theo hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác; không được bố trí chỗ ăn, ở sạch sẽ, hợp vệ sinh theo hợp đồng lao động; bị ốm đau, tai nạn không thể tiếp tục làm việc. Người lao động không phải báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp: Bị người sử dụng lao động hoặc thành viên trong hộ gia đình ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, quấy rối tình dục, dùng vũ lực hoặc cưỡng bức lao động; khi phát hiện thấy điều kiện làm việc có khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn, sức khỏe của bản thân, đã báo cho người sử dụng lao động biết mà chưa được khắc phục; do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà người lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.

Ngoài ra, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP cũng quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do hai bên thỏa thuận nhưng người lao động phải được nghỉ ít nhất 8 giờ, trong đó có 6 giờ nghỉ liên tục trong 24 giờ liên tục. Thời giờ làm việc đối với lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 163 của Bộ luật Lao động. Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp không thể bố trí được thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày. Thời điểm nghỉ do hai bên thỏa thuận. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm là 12 ngày làm việc và được hưởng nguyên lương. Thời điểm nghỉ do hai bên thỏa thuận. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày nghỉ lễ, tết theo quy định tại Điều 115 của Bộ luật Lao động. Khi nghỉ hằng năm, người lao động được ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương cho những ngày nghỉ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 5 năm 2014.

18/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn công tác xử lý và cưỡng chế vi phạm hành lang an toàn đường bộỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn công tác xử lý và cưỡng chế vi phạm hành lang an toàn đường bộ
Sáng ngày 12 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tập huấn công tác xử lý và cưỡng chế vi phạm hành lang an toàn đường bộ. Ông Trần Anh Tuấn – Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và phát biểu khai mạc tại Hội nghị. Tham dự Hội nghị tập huấn có đại diện lãnh đạo: Sở Giao thông vận tải, Công an Tỉnh, Sở Tư...

Sáng ngày 12 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tập huấn công tác xử lý và cưỡng chế vi phạm hành lang an toàn đường bộ. Ông Trần Anh Tuấn – Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và phát biểu khai mạc tại Hội nghị. Tham dự Hội nghị tập huấn có đại diện lãnh đạo: Sở Giao thông vận tải, Công an Tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban An toàn giao thông tỉnh; Thanh tra Sở Giao thông vận tải, Đoạn Quản lý giao thông thuỷ bộ; Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Phòng Cảnh sát Bảo vệ và Cơ động thuộc Công an tỉnh; Ủy ban nhân dân, Công an, Phòng Tư pháp, Phòng Kinh tế và Hạ tầng (Phòng Quản lý đô thị), Phòng Tài nguyên và Môi trường của 9 huyện, thành phố; Ủy ban nhân dân, Công an các xã, phường, thị trấn.


Tại Hội nghị tập huấn, báo cáo viên trình bày hai chuyên đề về quy định của pháp luật về công tác quản lý và bảo vệ hành lang an toàn đường bộ; hướng dẫn công tác xử lý và cưỡng chế những vi phạm hành lang an toàn đường bộ theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 12 năm 2013.


Hiện nay, tình trạng lấn chiếm và tái chiếm hành lang an toàn đường bộ (bao gồm cả vĩa hè trong các tuyến đường đô thị) trên địa bàn tỉnh đang ở mức báo động. Hậu quả đã làm phá vỡ quy hoạch phát triển và làm ảnh hưởng xấu đến kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, vẽ mỹ quan trong khu vực; gây mất an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông và là một trong những nguyên nhân làm tăng số vụ tai nạn và tăng khả năng ùn tắc giao thông. Lớp tập huấn nhằm nâng cao trách nhiệm của các ngành, các cấp trong công tác quản lý, lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh; hạn chế tai nạn giao thông mà nguyên nhân là do các hành vi vi phạm về hành lang an toàn đường bộ gây ra; tăng cường công tác phối hợp xử lý, xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật các trường hợp vi phạm hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh; qua đó nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong việc chấp hành pháp luật, hạn chế các hành vi vi phạm về hành lang an toàn đường bộ.

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên năm 2013Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên năm 2013
Chiều ngày 27/12/2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm) tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý (TGV) và Luật sư cộng tác viên (LS-CTV) năm 2013; đồng thời đề ra phương hướng hoạt động năm 2014; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.

Chiều ngày 27/12/2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm) tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý (TGV) và Luật sư cộng tác viên (LS-CTV) năm 2013; đồng thời đề ra phương hướng hoạt động năm 2014; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.


Trong năm 2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã bổ nhiệm 03 Trợ giúp viên, miễn nhiệm 01 Trợ giúp viên, hiện tại Trung tâm có 13 Trợ giúp viên. Giám đốc Trung tâm đã ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với 02 luật sư, nâng số lượng LS - CTV lên 17 luật sư. Trung tâm đã tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý, nhằm đáp ứng tốt hơn quyền được lựa chọn người đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; đồng thời giảm áp lực đối với TGV, LS-CTV trong hoạt động tham gia tố tụng.

Trung tâm đã cử TGV và LS-CTV tham gia tố tụng 300 vụ việc, cho 300 đối tượng được trợ giúp pháp lý (gồm 200 nam, 100 nữ). Trong đó, có 161 vụ án hình sự, 28 vụ dân sự, 53 vụ đất đai, 55 vụ hôn nhân gia đình; 03 vụ hành chính; đối tượng chưa thành niên là 93, hộ nghèo 87; người có công 56; người già cô đơn không nơi nương tựa 04, đối tượng phụ nữ ly hôn là 52; người khuyết tật 01; phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi là 04, người dân tộc thiểu số 01, trường hợp khác là 02. Trong đó: TGV thực hiện bào chữa, bảo vệ 179 vụ việc được trợ giúp pháp lý, đã hoàn thành 98 vụ việc, còn lại 81 vụ việc đang tiếp tục thực hiện; LS-CTV thực hiện 121 vụ việc được trợ giúp pháp lý, đã thực hiện hoàn thành 07 vụ việc, còn lại  114 vụ việc vẫn tiếp tục thực hiện.


Phát biểu kết luận tại Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu: Trung tâm tiếp tục tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ tham gia tố tụng cho đội ngũ TGV, LS – CTV; thực hiện tốt việc đánh giá và quản lý chất lượng trợ giúp pháp lý của TGV, LS - CTV theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp; xây dựng kế hoạch giám sát hoạt động tham gia tố tụng của TGV, LS-CTV (đặc biệt là trong tố tụng hình sự); tiếp tục phối hợp Đoàn Luật sư tỉnh khuyến khích, vận động các Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia cộng tác viên, thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Luật sư và chủ trương xã hội hóa trợ giúp pháp lý mà Ngành Tư pháp đã đề ra; tham mưu Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện Thông tư liên tịch số 11 về công tác phối hợp liên ngành trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; phát huy những thành tích đã đạt được, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để hoạt động tham gia tố tụng trong thời gian tới đạt hiệu quả hơn.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn