Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 258/2019 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ tài sản trên đất của Công ty TNHH MTV Xăng dầu Bến Tre quản lý, cụ thể như sau:1. Nhà bảo vệ kho hàng khô: Kết cấu: nền ximăng, vách tường gạch dày 200, cột pêtông cốt thép, mái lợp tole lạnh đã bị hỏng. Diện tích 155,54m2. Tỷ lệ còn lại 5%.  &... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 06 (KÈM QC)Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của hộ ông Cao Thanh Vân và bà Nguyễn Thị Âu; cùng địa chỉ thường trú tại: : ấp 6, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:- Quyền sử dụng đất diện tích 12.643m2 - Mục đích sử dụng: đất LUA- Thuộc thửa đất số 150, ờ bản đ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 254/2019 (KÈM QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô, nhãn hiệu: Toyota, số loại: Hiace; màu sơn: ghi, biển số: 71T-7457, số máy: 2RZ-3099754; số khung: RZH115-3001080; sản xuất năm 2003, tại Việt Nam, số chỗ ngồi: 15, loại nhiên liệu: xăng. Giấy chứng nhận kiểm định an to... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 255 (KÈM QC)Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá công quỹ nhà nước là 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Sonic, biển số 71C4-382.24, số khung MH1KB1116KK212161, số máy KB11E1211471; màu sơn: đen đỏ. Xe bán dạng đăng ký lại.- Tài sản đang quản lý tại: kho Công an huyện Chợ Lách, địa chỉ: thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, t... 
 
​THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 187 (KÈM QC)Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Trần Anh Kiệt và bà Ngô Thanh Thúy, hiện cư ngụ tại: ấp Đại Định, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:1. Về đất:- Diện tích 644,6m2;- Thuộc thửa đất số 298-2, tờ bản đồ số 26 (thuộc một phần thửa ... 
 
​THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 244 (KÈM QC)Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Tuyển và bà Nguyễn Thị Mỹ Châu, hiện cư ngụ tại: ấp Thạnh Quí, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:1. Về quyền sử dụng đất: - Diện tích: 8.871,2m2.- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.-... 
 
​   THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 242 (KÈM QC) Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá cho thuê mặt bằng kinh doanh nhà thuốc tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ba Tri của Bệnh viện Đa khoa khu vực Ba Tri quản lý; tài sản cụ thể như sau:- Diện tích mặt bằng thuê: là 31,1m2 gồm: nhà trệt, cấp công trình cấp IV thuộc khuôn viên Bệnh viện Đa khoa khu vực Ba... 
 
​     THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 228 (KÈM QC) Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:1. Quyền sử dụng đất:  - Diện tích: 148,2m2;- Thuộc th... 
 
​ Từ khi con người sinh sống thành cộng đồng thì các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng phức tạp và phong phú hơn. Trong quá trình phát sinh và phát triển các mối quan hệ xã hội này, làm nảy sinh các vấn đề xã hội cần được quan tâm giải quyết. Để giải quyết những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của một quốc... 
 
​          Ngày 01 tháng 7 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng, bao gồm 11 Chương và 89 điều.Nghị định số 59/2019/NĐ-CP được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước, bao gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 01/10/2015Kết quả lý lịch tư pháp ngày 01/10/2015
07/10/2015 2:00 CHĐã ban hành
Thông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Nguyễn Tấn Tài, SN: 1961 và bà Huỳnh Thị Nga, SN: 1961 cùng cư trú tại ấp 6, xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm, Bến TreThông tin hạn chế quyền về tài sản của ông Nguyễn Tấn Tài, SN: 1961 và bà Huỳnh Thị Nga, SN: 1961 cùng cư trú tại ấp 6, xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm, Bến Tre
30/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 01/10/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 01/10/2015
 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 384/2015

Tài sản là một phần quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của ông Cao Văn Tài và bà Võ Thị Chung, địa chỉ tại: ấp Vinh Điền, xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS499111, số vào sổ cấp GCN CH01323 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 07/4/2014 diện tích là 303,9m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 233,9 m2 đất CLN); thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 02.

      - Theo trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện Bình Đại trích lục ngày 07/7/2015, diện tích: 257,8 m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 187,8 m2 đất CLN)

      - Thuộc một phần thửa số 141, tờ bản đồ số 02

      * Lưu ý: Tài sản bán theo diện tích trích lục họa đồ là 257,8 m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 187,8 m2 đất CLN).

     2. Nhà ở trên đất:

            a) Nhà chính: chiều ngang 6,2m, chiều dài 15,5m, gồm 01 phòng thờ, 02 phòng ngủ, 01 phòng khách, 01 gian nhà sau, trong nhà sau có 01 phòng vệ sinh. Kết cấu: nền móng bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, mái lợp tol firôximăng, không trần, nền lát gạch ceramic, tường sơn nước, xây gạch dày 10cm, cửa chính, cửa sổ bằng nhôm lắp kính, kèo bằng gỗ.

            b) Nhà phụ: Kết cấu: nền tráng xi măng, mái lợp tol firô xi măng, tường xây gạch chưa tô, cột xi măng.

            c) Hàng rào: bằng lưới B40, cao 1,8m, dài 15,2m.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở  trên đất của ông Cao Văn Tài và bà Võ Thị Chung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 430.020.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu, không trăm hai mươi ngàn đồng).

         Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

 * Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 396/2015

Tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 02 lô xe môtô 02 bánh các loại. Cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 219 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng phế liệu, giá khởi điểm: 153.300.000đ (Một trăm năm mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

 2. Lô số 02: gồm 13 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng được phép đăng ký lại, giá khởi điểm: 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô, có bảng kê chi tiết kèm theo. Đối với xe bán dạng phế liệu bán đấu giá thành, khi người trúng đấu giá nhận xe phải thực hiện việc cắt sườn, đục bỏ số máy, số khung.

- Tài sản tọa lạc tại: Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ Đường sắt – Công an tỉnh Bến Tre, địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Đường sắt - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 189.300.000 đ (Một trăm tám mươi chín triệu, ba trăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đồng/hồ sơ (lô số 01), 100.000 đ/hồ sơ (lô số 02).

* Tiền đặt trước: 22.000.000 đồng/hồ sơ (lô số 01), 5.000.000 đ/hồ sơ (lô dố 02)

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 386/2015

Tài sản là xe môtô hai bánh, ba bánh, xe lôi máy các loại tịch thu sung công quỹ nhà nước của Công an huyện Thạnh phú chuyển bán. Tài sản gồm có:

- Một trăm năm mươi một (151) chiếc xe môtô, gắn máy hai bánh các loại (trong đó: có 66 (sáu mươi sáu) chiếc xe được phép đăng ký lại; 85 (tám mươi lăm) xe bán dạng phế liệu); 05 (năm) chiếc xe môtô ba bánh và 02 (hai) chiếc xe lôi máy bán dạng phế liệu (có bảng kê chi tiết kèm theo).

* Lưu ý:

- Xe ba bánh bán dạng phế liệu, khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản phải tự trang bị các công cụ, thiết bị để thực hiện cắt đôi thùng xe và khung xe. Xe môtô, gắn máy hai bánh cắt đôi khung xe.

- Thời hạn 15 ngày, kể từ ngày trúng đấu giá người mua được tài sản phải di dời phương tiện ra khỏi trụ Sở Công an huyện Thạnh Phú, nếu chưa thực hiện xong việc di dời thì phải trả chi phí trông giữ, bảo quản theo mức phí tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tập trung vận chuyển xe vào ngày thứ bảy và chủ nhật.

- Tài sản tọa lạc tại: Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre, địa chỉ: Thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính không xác định được chủ sỡ hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp của Công an huyện Thạnh phú bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 223.300.000đ (Hai trăm hai mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 01/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 09/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Tiền đặt trước: 33.000.000 đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 366/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của hộ ông Võ Tấn Thành; hiện cư ngụ tại: ấp Phú Thành, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Thửa số 383, tờ bản đồ số 11;

- Diện tích: 1.811,9 m2; Loại đất: MNC;

2. Một phần thửa số 382 (theo hồ sơ đo đạc kê biên là thửa 382a), tờ bản đồ số 11;

- Diện tích:  694,2 m2; Loại đất: HNK;

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Võ Tấn Thành, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

 *Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 941.152.419đ (Chín trăm bốn mươi mốt triệu, một trăm năm mươi hai ngàn, bốn trăm mười chín đồng).

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ hồ sơ.

 * Khoản tiền đặt trước tài sản: 80.000.000 đ/hồ sơ.

 Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 10/11/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 383/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, địa chỉ tại: ấp Long Hòa 1, xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Diện tích: 894,5 m2;

      - Loại đất: 70 m2 đất thổ cư và 824,5 m2 đất CLN;

      - Thuộc một phần thửa số 966, 967, tờ bản đồ số 01 (số liệu chính quy thuộc thửa 88, tờ bản đố 17);

      * Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C850945, số vào sổ 405QSDĐ/83/UB-QĐ, do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 26/8/1993.

       2. Cây trồng trên đất: 11 cây dừa loại 1 trên 06 năm tuổi đã cho trái ổn định và 11 cây dừa loại 3 04 năm tuổi, chưa cho trái.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 839.500.000 đ (Tám trăm ba mươi chín triệu, năm trăm ngàn đồng).

         Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ.

 * Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 375/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Bé Ngọc, địa chỉ: Số nhà 412C, Khu phố 3, Phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 118,2m2;

- Thuộc thửa đất số 94; tờ bản đồ số 09.

- Mục đích sử dụng: 80,7m2 đất ở đô thị và 37,5m2 đất trồng cây lâu năm;

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 403375, số vào sổ cấp GCN: CH01943 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 09/7/2015.

- Tài sản tọa lạc: phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Bé Ngọc do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

* Lưu ý: Tài sản bán không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá khi nhận tài sản có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 105.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 13/10/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre. Tỉnh Bến Tre).

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 395/2015

Tài sản là một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây trồng) của bà Lê Thị Nhi, địa chỉ: ấp Kinh Gãy, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích: 1.941,5 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 08 (mới), thửa đất số 02 (mới);

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 252897 do UBND huyện Mỏ Cày (nay là UBND huyện Mỏ Cày Bắc) cấp ngày 09/01/2004.

- Tài sản tọa lạc: ấp Phú Bình, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

* Lưu ý:  Tài sản bán theo diện tích đã đạc thực tế.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây trồng) của bà Lê Thị Nhi do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 174.735.000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, bảy trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 20/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 392/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Phan Thị Thu Thủy; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 195,7m2;

- Thuộc thửa đất số 83; tờ bản đồ số 20.

- Mục đích sử dụng: 159, 0m2 đất ở đô thị và 37,6 m2 đất trồng cây lâu năm;

2. Về nhà:

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, cấp 4, có 08 căn nhà trọ được xây dựng kiên cố, với Diện tích xây dựng là 147,9m2, được cấp phép và chủ quyền nhà đầy đủ, nằm trong khu quy hoạch đất nhà ở kết hợp dịch vụ và đất thương mại dịch vụ, đất đẹp và nở hậu;

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 537557, số vào sổ cấp GCN: CH01691 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 27/10/2014.

- Tài sản tọa lạc: số 289, Khu phố 3, phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của bà Phan Thị Thu Thủy do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

  * Lưu ý: Tài sản bán không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá khi nhận tài sản có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

  *Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 105.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/10/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 385/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Kế và bà Phạm Thị Hửng, địa chỉ: ấp Vĩnh Đức Trung, xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích đất: 374,5 m2; Loại đất: trồng cây hàng năm khác (HNK);

- Thuộc tờ bản đồ 02, thửa đất 530;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số  AH 546787 do UBND huyện Ba Tri cấp ngày 27/12/2006.

- Tài sản tọa lạc: xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Kế và bà Phạm Thị Hửng do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi – Phòng Giao dịch Ba Tri xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 300.000.000 đ (Ba trăm triệu  đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 367/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út; hiện cư ngụ tại: ấp Bình Hòa, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

a) Thửa số 42, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  227,8 m2  (diện tích lộ giới 56,3m2); Loại đất: ODT;

b) Thửa số 44, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  202,2 m2; Loại đất: TSL (nuôi trồng thủy sản);

2. Công trình xây dựng trên đất (nhà ở diện tích 337,541 m2).

- Tầng trệt: phòng massage, khu phòng massage, phòng xông hơi 1, phòng xông hơi 2, hồ thủy lực, khu vệ sinh.

- Tầng lầu: phòng karaoke, khu vệ sinh.

- Phần tài sản phụ: cổng rào, hàng rào, mái che, gác gỗ.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.372.457.253 đ (Một tỷ, ba trăm bảy mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi bảy ngàn, hai trăm năm mươi ba đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083.

01/10/2015 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/7/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/7/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 142 (Kèm QC)


Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm 172 (một trăm bảy mươi hai) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng phế liệu (có danh sách kèm theo).

     * Lưu ý: khách hàng nào trúngđấu giá, khi nhận bàn giao xe phải thực hiện xóa bỏ hết số khung, số máy, các khoản chi phí người mua chịu.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Phòng Cảnh sát giao thông Đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 172.000.000đ (Một trăm bảy mươi hai triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

    * Khoản tiền đặt trước: 34.400.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/8/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre (địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 09 giờ 30 phút ngày 25/7/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/8/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 02/8/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 06/8/2018.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 144 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Trang Thị Nô, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 187,5m2 (trong đó: 131,8 m2 đất CLN và 55,7 m2 đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ).

- Thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ địa chính số 12.   

2. Công trình xây dựng trên đất

a) Nhà ở: Diện tích: 108.8m2

- Kết cấu: Móng, cột BTCT, tường gạch, nền lát gạch bông 60cm x 60cm, cửa gỗ, mái lợp tole giả ngói mái đỏ, trần thạch cao. Chất lượng còn lại khoảng 88%.

b) Sân nền: diện tích 53,1m2. Chất lượng còn lại khoảng 70%.

c) Hàng rào: Diện tích 29,26m2

- Kết cấu: BTCT, tường gạch, xây lững cao 0,6m, ốp đá, phía trên có lắp khung sắt hình bao che. Chất lượng còn lại 75%.

d) Cổng chính: diện tích 4,32m2

- Kết cấu: BTCT, trụ sơn nước, cửa lắp khung thép hình. Chất lượng còn lại 75%.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: Ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của và bà Trang Thị Nô, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 331.076.900đ (Ba trăm ba mươi một triệu, không trăm bảy mươi sáu ngàn, chín trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 30/8/2018;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 146 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Minh Tâm và bà Trần Thị Hồng Thủy, hiện cư ngụ tại: ấp Hữu Nhơn, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

 

1. Về đất

- Diện tích đất: 1.364,1m2 (trong đó 60m2 đất ở tại nông thôn và 1.304,1m2 đất trồng cây lâu năm);

- Thuộc thửa đất số 256, tờ bản đồ số 07.

2. Cây trồng trên đất

- Cây dừa loại 1 (trên 20 năm tuổi): 28 cây

- Cây dừa ta mới trồng: 04 cây

- Tài sản toạ lạc tại (1+2): xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Minh Tâm và bà Trần Thị Hồng Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 295.626.172đ (Hai trăm chín mươi lăm triệu, sáu trăm hai sáu ngàn, một trăm bảy hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản hoặc nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 59.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 25/7/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 30/8/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

31/07/2018 5:00 CHĐã ban hành
Thể lệ Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017 Thể lệ Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017

Thực hiện Kế hoạch số 892/KH-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi năm 2017; Quyết định số 812/QĐ-UBND ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Ban Tổ chức, Tổ Giúp việc Ban Tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi năm 2017 (sau đây gọi là Hội thi), Ban Tổ chức Hội thi ban hành Thể lệ Hội thi cấp tỉnh gồm các nội dung sau:

I. ĐỐI TƯỢNG, HÌNH THỨC, NỘI DUNG THI

1. Đối tượng tham dự Hội thi

Đối tượng tham dự Hội thi là Tuyên truyền viên pháp luật được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ra quyết định công nhận theo Thông tư số 10/2016/TT-BTP ngày 22 tháng 7 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.

Hội thi cấp tỉnh gồm 09 Đội thi của 09 huyện, thành phố. Mỗi Đội thi có 05 thành viên được Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chọn để tham dự Hội thi cấp tỉnh căn cứ vào kết quả tổ chức Hội thi cấp huyện. Danh sách Đội thi (Họ và tên, ngày tháng năm sinh, đơn vị công tác hoặc nơi cư trú), gồm có Đội trưởng và thành viên của Đội được gửi về Ban Tổ chức Hội thi cấp tỉnh (Sở Tư pháp) chậm nhất đến ngày 20/6/2017 (kèm theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận Tuyên truyền viên pháp luật đối với thành viên dự thi). Việc thay đổi thành viên Đội thi phải thông báo bằng văn bản cho Ban Tổ chức Hội thi cấp tỉnh chậm nhất trước 02 ngày tính đến thời điểm tổ chức Hội thi cấp tỉnh.

2. Hình thức và nội dung thi

Hội thi được tổ chức dưới hình thức sân khấu hóa và thi tập thể theo Đội.

Hội thi được tổ chức gồm 04 phần thi, cụ thể như sau:

a) Phần thi giới thiệu:

- Nội dung thi: Đội thi giới thiệu tên các thành viên của Đội thi; đặc thù địa phương (đặc trưng địa lý, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…), tình hình công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của địa phương; mong muốn khi đến với Hội thi. Hình thức giới thiệu do Đội thi tự quyết định.

- Cách thức và thời gian thi: Toàn Đội gồm 05 thành viên phải tham gia phần thi tự giới thiệu. Mỗi Đội thi tự giới thiệu về Đội thi của mình trong thời gian không quá 05 (năm) phút.

- Điểm số: Tổng điểm của phần thi là 3 (ba) điểm.

b) Phần thi lý thuyết:

- Nội dung thi: Bộ câu hỏi trắc nghiệm của mỗi nhóm do Ban Tổ chức Hội thi đưa ra gồm 07 câu hỏi. Nội dung câu hỏi được thực hiện theo điểm a Khoản 2 Mục II của Kế hoạch số 892/KH-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi năm 2017.

- Cách thức và thời gian thi: Phần thi lý thuyết được chia thành 03 nhóm. Mỗi nhóm thi gồm có 03 Đội. Các Đội thi trong nhóm cùng ra sân khấu, đứng tại địa điểm xác định và cùng trả lời bộ câu hỏi của nhóm. Các Đội cùng nghe câu hỏi, sau khi câu hỏi được công bố, các đội có 05 (năm) giây chuẩn bị, kết thúc thời gian chuẩn bị, các đội cùng đưa ra phương án trả lời bằng hình thức giơ bảng, sau khi đáp án được công bố, chuyển sang câu hỏi tiếp theo đến hết.

- Điểm số: Tổng điểm của phần thi là 07 (bảy) điểm. Trả lời đúng 01 câu mỗi Đội sẽ được 01 điểm.

c) Phần thi thuyết trình:

- Nội dung thi: Các Đội thực hiện phần thi thuyết trình theo chủ đề của Ban Tổ chức quy định. Đội dự thi chọn 01 trong các chủ đề sau đây cho phần thi thuyết trình: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Đất đai năm 2013; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật Trẻ em năm 2016; Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008); Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Chủ trương, chính sách, quy định về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; Chủ trương, chính sách, quy định của tỉnh về Đồng Khởi, khởi nghiệp.

- Cách thức và thời gian thi:

+ Mỗi Đội dự thi phải gửi 06 bản đề cương phần thi thuyết trình theo chủ đề quy định về Ban Tổ chức Hội thi cấp tỉnh (Sở Tư pháp) chậm nhất đến ngày 10/7/2017.

Nội dung Đề cương đảm bảo 03 phần chủ yếu như sau: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.

Hình thức Đề cương: Đề cương phải được đóng lại thành quyển, in trên một mặt giấy, có đánh số trang, không quá 06 trang in, được đánh máy trên khổ giấy A4, kiểu chữ Times New Roman  (Unicode), cỡ chữ 14, giãn dòng 1.5 lines, định lề văn bản (Lề trên: cách mép trên 2cm, lề dưới: cách mép dưới 2cm, lề trái: cách mép trái 3cm, lề phải: cách mép phải 2cm).

Trang bìa ghi đầy đủ thông tin: Đề cương phần thi thuyết trình Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017, tên của chủ đề thuyết trình, đơn vị dự thi.

+ Tại Hội thi, Đội thi cử 01 thành viên của Đội tham gia thuyết trình theo nội dung Đề cương đã được gửi về Ban Tổ chức Hội thi cấp tỉnh. Trong quá trình thi thuyết trình các Đội có thể có thêm thành viên khác trong Đội hỗ trợ thuyết trình, sử dụng hình ảnh, dụng cụ, đạo cụ, phấn, bảng, máy tính, màn hình… các hình thức khác để minh họa thêm (có tính điểm cho nội dung này), nhưng phải thông báo trước cho Ban Tổ chức Hội thi biết để có biện pháp hỗ trợ.

Thời gian phần thi thuyết trình từ 08 (tám) đến 10 (mười) phút. Nếu ít hơn hoặc quá thời gian quy định sẽ bị trừ điểm theo Quy chế chấm thi do Ban Tổ chức quy định.

+ Sau khi trình bày hết nội dung thuyết trình, người thuyết trình phải trả lời câu hỏi do Ban Giám khảo đặt ra liên quan đến chủ đề thuyết trình.

- Điểm số: Tổng số điểm phần thi thuyết trình là 10 (mười) điểm. Điểm Đề cương không quá 3 (ba) điểm; phần thuyết trình tại Hội thi không quá 7 (bảy) điểm.

d) Phần thi kỹ năng:

- Nội dung thi: Đội thi vận dụng kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp để thực hiện phần thi kỹ năng.

- Cách thức và thời gian thi: Đội thi tổ chức dàn dựng, biểu diễn tiểu phẩm dưới hình thức kịch nói, ca kịch hoặc hình thức nghệ thuật khác thể hiện nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật của Đội mình. Các Đội thi phải đăng ký tiết mục dự thi với Ban Tổ chức Hội thi (qua Sở Tư pháp) chậm nhất trước 03 ngày tính đến thời điểm tổ chức Hội thi cấp tỉnh.

Thời gian phần thi kỹ năng từ 07 (bảy) đến 09 (chín) phút. Nếu ít hơn hoặc quá thời gian quy định sẽ bị trừ điểm theo Quy chế chấm thi do Ban Tổ chức quy định.

- Điểm số: Tổng số điểm phần thi kỹ năng là 10 (mười) điểm. Trong đó nội dung không quá 06 (sáu) điểm; hình thức thể hiện, kỹ năng, diễn xuất, đạo cụ, trang phục không quá 04 (bốn) điểm.

3. Địa điểm và thời gian tổ chức Hội thi

a) Địa điểm:

Dự kiến tổ chức Hội thi và tổng kết phát giải tại Nhà Văn hóa thiếu nhi tỉnh Bến Tre.

b) Thời gian tổ chức:

Dự kiến cuối tháng 7 năm 2017 (thời gian tổ chức cụ thể Ban Tổ chức Hội thi sẽ thông báo sau).

II. BAN GIÁM KHẢO

1. Thành phần Ban Giám khảo

Ban Tổ chức Hội thi quyết định thành lập Ban Giám khảo Hội thi. Thành viên Ban Giám khảo Hội thi là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán; có kiến thức pháp luật đã hoặc đang công tác tại cơ quan, đoàn thể của tỉnh.

Ban Giám khảo Hội thi gồm 05 thành viên, trong đó có 01 Trưởng ban, 01 Phó trưởng Ban và 03 thành viên.

2. Nhiệm vụ của Ban Giám khảo

Ban Giám khảo Hội thi có nhiệm vụ chấm thi trung thực, chính xác, công bằng và khách quan; tổng hợp và báo cáo kết quả chấm thi cho Ban Tổ chức Hội thi và tham mưu Ban Tổ chức Hội thi quyết định việc xếp giải.

Ban Giám khảo Hội thi có Tổ Thư ký giúp việc do Ban Tổ chức Hội thi quyết định thành lập. Tổ Thư ký có nhiệm vụ in ấn tài liệu, theo dõi, tổng hợp kết quả chấm thi và thực hiện một số nhiệm vụ khác phục vụ việc chấm thi theo yêu cầu của Ban Giám khảo Hội thi.

3. Nguyên tắc chấm thi

Bảo đảm khách quan, chính xác, công bằng, theo đáp án và Phiếu điểm của Ban Tổ chức Hội thi. Căn cứ vào đáp án, kết quả dự thi, thành viên Ban Giám khảo chấm điểm cho từng Đội thi vào phiếu điểm, ký, ghi rõ họ, tên và chuyển lại cho Tổ Thư ký để tổng hợp.

Điểm từng phần thi của mỗi Đội thi là điểm trung bình cộng của các thành viên Ban Giám khảo trừ đi số điểm do không đúng thời gian quy định (nếu có). Điểm chính thức để xếp giải của Đội thi là tổng số điểm của các phần thi.

Thang điểm cụ thể của mỗi phần thi được quy định trong Bộ đáp án câu hỏi và được thể hiện trong Phiếu điểm của Ban Tổ chức Hội thi.

III. GIẢI THƯỞNG HỘI THI

1. Cơ cấu giải thưởng

a) 01 giải nhất: 7.000.000 đồng/giải.

b) 01 giải nhì: 5.000.000 đồng/giải.

c) 02 giải ba: 3.000.000 đồng/giải.

d) 05 giải khuyến khích: 2.000.000 đồng/giải.

đ) 04 giải phụ: 500.000 đồng/giải. Gồm:

- Đội thi có phần thi giới thiệu ấn tượng nhất;

- Đội thi có phần thi thuyết trình xuất sắc nhất;

- Đội thi có phần thi kỹ năng xuất sắc nhất;

- Đội thi có cổ động viên ấn tượng nhất.

2. Hình thức khen thưởng

Ban Tổ chức Hội thi tỉnh tặng Giấy Chứng nhận và tiền thưởng cho mỗi Đội thi tương ứng với mỗi giải thưởng.

17/05/2017 4:00 CHĐã ban hành
Phân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khácPhân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khác

Ở nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải khác nhau như: Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án, hòa giải trong tố tụng trọng tài, hòa giải tranh chấp lao động, hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và hòa giải ở cơ sở.

Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án

Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động, trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trường hợp các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

 Hòa giải trong tố tụng trọng tài      

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, các bên tranh chấp có thể thương lượng, tự hòa giải hoặc đề nghị trọng tài giúp các bên hòa giải. Trọng tài cũng có thể chủ động tự mình tiến hành hòa giải các bên. Nếu các bên thông qua hòa giải giải quyết được tranh chấp thì có thể yêu cầu trọng tài viên xác nhận sự thỏa thuận đó bằng văn bản, lập biên bản hòa giải thành và công nhận sự thỏa thuận của các bên. Văn bản này có giá trị như quyết định trọng tài - có hiệu lực thi hành, không bị kháng cáo.

Hòa giải tranh chấp lao động

Hòa giải tranh chấp lao động được Hội đồng trọng tài lao động hoặc hòa giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hòa giải viên lao động) tiến hành khi có tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề giữa người lao động với người sử dụng lao động. Thẩm quyền và trình tự hòa giải tranh chấp lao động được quy định tại Bộ luật Lao động.

 Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Đây là việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.

Tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Hòa giải ở cơ sở

Khác với các loại hình hòa giải nêu trên, hòa giải ở cơ sở trước hết xuất phát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc. Ở Việt Nam, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước với nhu cầu làm thủy lợi, đắp đê, chống lụt, thêm vào đó là nguy cơ giặc ngoại xâm luôn đe dọa đã khiến cho người Việt cổ sớm hình thành lối sống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, tương thân, thương ái. Trong các làng xã cổ truyền, người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm làng, huyết thống ràng buộc nhau một cách chặt chẽ, do đó họ rất coi trọng tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Nếu có xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hàng xóm láng giềng thì họ chủ trương “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn, xây dựng cộng đồng hòa thuận, yên vui, hạnh phúc. Vì vậy, hòa giải được xem là phương án tối ưu để giải quyết xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân…

Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”.

Như vậy, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật nhằm giữ gìn đoàn kết và tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Hoạt động hòa giải được thông qua các hòa giải viên ở các tổ hòa giải. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở. Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác.

10/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Một số điểm hạn chế, bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hànhMột số điểm hạn chế, bất cập trong Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình đã được ban hành từ năm 1959 và chỉ được áp dụng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sau ngày hòa bình lập lại đã được Quốc hội điều chỉnh lại và thay thế từ năm 1986. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã góp phần rất lớn trong việc xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, kinh tế ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp; vì vậy ngày 9 tháng 6 năm 2000, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Luật có 13 chương 110 điều và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2001. Qua 12 năm thực hiện, Luật Hôn nhân và gia đình đã chứng tỏ được nhiều ưu điểm tích cực, góp phần phát huy vai trò trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật vẫn còn một số hạn chế bất cập, không phù hợp với thực tiễn như sau:

1. Vấn đề áp dụng tập quán trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội: “Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 Luật đã khẳng định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật  thì được tôn trọng và phát huy”. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng phong tục, tập quán để giải quyết vẫn còn nhiều kẻ hở, hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập trong việc áp dụng phong tục tập quán trong quá trình xét xử giữa các Tòa án với nhau; chưa có quy định thống nhất về quan điểm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng phong tục, tập quán

2. Quy định về điều kiện kết hôn (điều kiện về tuổi kết hôn, về sự tự nguyện trong kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn)

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn đối với nam từ hai mươi tuổi trở lên, đối với nữ từ mười tám tuổi trở lên. Như vậy, theo quy định này thì chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi 18 là đủ tuổi kết hôn. Việc quy định độ tuổi kết hôn trong Luật là chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên. Người từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn không những tạo ra sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật mà còn hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch, hạn chế quyền yêu cầu ly hôn (phải có người đại diện).

3. Quy định về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng, quyền của các bên trong giao dịch có đối tượng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

- Luật Hôn nhân và gia đình quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng. Sự không minh bạch này gây hậu quả không an toàn cho các giao dịch dân sự liên quan đến người thứ ba. Luật chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp.

- Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Quy định này chưa đảm bảo về quyền lợi của người thứ ba. Trên thực tế phát sinh nhiều giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện, không phải thực hiện nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình nhưng lợi ích thu được cũng phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình như: tiền thu được từ chơi hụi (họ) được dùng để mua nhà, đất cho gia đình.

4. Quy định về quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình

- Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì ông bà, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng. Con cháu có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Mặc dù các chế định này được quy định trong nhiều văn bản khác nhau nhưng trong thực tế không ít trường hợp ông bà, cha mẹ ngược đãi con cháu và ngược lại nhưng lại không có chế tài đủ mạnh để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong vấn đề này. Do đó, đề nghị nên có quy định xử phạt mang tính nghiêm khắc hơn để điều chỉnh vấn đề này.

- Luật Hôn nhân và gia đình chưa phân định rõ đâu là quyền đâu là nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình. Việc quy định như trong Luật là chưa chặt chẽ, khó có thể xác định nghĩa vụ bắt buộc cần phải thực hiện.

5. Quy định về căn cứ xác lập quan hệ cha mẹ con (dựa trên sự kiện sinh và nhận nuôi con nuôi), vấn đề mang thai hộ

- Khi người phụ nữ yêu cầu xác định cha cho con; về nguyên tắc họ phải chứng minh một người đàn ông nào đó là cha của đứa bé, họ có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, nếu cần thiết có thể yêu cầu giám định gen và họ phải chịu chi phí giám định gen. Quy định này chưa thật sự phù hợp, chưa đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới. Bởi khi sinh con ngoài giá thú, người phụ nữ đã chịu rất nhiều sự thiệt thòi từ khi mang thai, sinh con và nuôi con một mình, bên cạnh đó là sự trốn tránh trách nhiệm của người cha đứa trẻ. Việc họ yêu cầu xác định cha cho con là một quyền chính đáng. Nếu họ không xuất trình được đầy đủ chứng cứ để chứng minh quan hệ cha con và phải yêu cầu giám định gen, trong trường hợp này nếu người đàn ông nào đó được xác định là cha của đứa trẻ thì người đó phải trả chi phí giám định hoặc ít nhất thì là một phần chi phí giám định vì đó là trách nhiệm chung của hai người với tư cách là cha, là mẹ của đứa trẻ.

- Trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh đã đồng ý bằng văn bản là nhận tinh trùng của người khác để người vợ sinh con thì sau này người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Quy định này cần được quy định cụ thể trong Luật hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đảm bảo quyền lợi của người vợ và con.

- Vấn đề mang thai hộ: Pháp luật nước ta chưa công nhận việc mang thai hộ. Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề mang thai hộ đã diễn ra. Xét về mặt pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Chưa có quy định nào điều chỉnh vấn đề này.

6. Quy định về ly hôn (căn cứ ly hôn, đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn)

- Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tình trạng ly hôn xảy ra ngày càng nhiều gây ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội. Đồng thời, việc hòa giải ở cơ sở cũng góp phần hạn chế tình trạng ly hôn. Do đó, thủ tục hòa giải ở cơ sở nên là thủ tục bắt buộc khi ly hôn.

7. Quy định về hôn nhân có yếu tố nước ngoài (đặc biệt quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài)

- Để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ cần có quy định về cơ chế bảo vệ các cô dâu Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, quy định thêm vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội, vai trò của gia đình, quy định về trang bị kiến thức cơ bản cho các cô gái kết hôn với người nước ngoài.

Mặt khác, hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân diễn ra dưới nhiều hình thức trá hình tinh vi. Nhiều trường hợp môi giới kết hôn đã hạ thấp phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng thuần phong, mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Phần lớn những người phụ nữ Việt Nam trước khi ra nước ngoài sống cùng chồng đều chưa được tư vấn đầy đủ, thiếu những hiểu biết cần thiết về pháp luật, ngôn ngữ, phong tục tập quán của nước sở tại. Do đó, cần có những chế tài mạnh để xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân.

- Vấn đề công nhận việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài trong thời gian qua khá nhiều, đặc biệt là các trường hợp kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc. Thực tế trong quá trình giải quyết hồ sơ, qua phỏng vấn hai bên nam nữ yêu cầu công nhận việc kết hôn không giao tiếp được với nhau bằng một ngôn ngữ chung, không biết gì về hoàn cảnh của nhau, thậm chí mới gặp gỡ một lần... Qua đó cho thấy việc kết hôn còn gượng ép, chưa nhằm mục đích xây dựng gia đình nhưng không có cơ sở từ chối do chưa có căn cứ pháp lý để từ chối không ghi chú kết hôn.

- Về thủ tục đăng ký kết hôn: Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (được sửa đổi tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 69/2006/NĐ-CP) thì đối với người kết hôn là công dân Việt Nam đang định cư tại nước ngoài thì giấy tờ chứng minh còn độc thân là xác nhận tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền mà người xin kết hôn đang cư trú cấp. Như vậy, trong trường hợp trước khi xuất cảnh họ đã đủ tuổi kết hôn, thì pháp luật hiện hành không có quy định người đăng ký kết hôn cần phải có xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh. Do đó, thực tế đã có trường hợp họ đã kết hôn trước khi xuất cảnh, hay có hôn nhân thực tế, sau đó quay về tuyên thệ là chưa kết hôn để tiếp tục kết hôn. Do đó, cần phải có quy định đối với trường hợp kết hôn là công dân Việt Nam đang định cư tại nước ngoài trước khi xuất cảnh đã đủ tuổi kết hôn thì phải có xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ có hộ khẩu thường trú. Trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3 tháng 01 năm 1987 ở Việt Nam thì phải có giấy tờ chứng minh đã chấm dứt quan hệ hôn nhân đó bằng bản án hay quyết định ly hôn đã có có hiệu lực pháp luật (nếu đã ly hôn) hoặc Giấy chứng tử (nếu vợ hoặc chồng của họ đã chết).

Từ những bất cập trong việc thực hiện Luật như trên, Luật Hôn nhân và gia đình cần sớm được tiến hành sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế chưa phù hợp, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển gia đình Việt Nam sau này./.

03/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 12/02/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 12/02/2019

   THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 12 (Kèm QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo bán đấu giá tài sản  là quyền sử dụng đất và, công trình xây dựng trên đất của Công ty tư vấn xây dựng 668 (đại diện theo pháp luật là ông Trương Ngọc Tuấn); địa chỉ: Ấp Sơn Lân, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm như sau:

1. Về đất:

- Tổng diện tích: 153,9m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 269, tờ bản đồ số 11.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà ở, diện tích xây dựng 190,53m2; Kết cấu: Nhà trệt + 1 lầu, tường gạch, khung sàn bê tông cốt thép, mái tole tráng kẽm và phí sau tầng trệt mái lợp tole fibrô xi măng, nền gạch (chất lượng còn lại 70%).

- Cổng rào trước nhà, diện tích 10,72m2 (chất lượng còn lại 60%)

- Cổng rào dọc bên nhà, diện tích 13,32m2 (chất lượng còn lại 50%).

* Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng của Công ty tư vấn xây dựng 668 (người đại diện theo pháp luật là ông Trương Ngọc Tuấn), bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (1+2): 508.992.043đ (Năm trăm lẻ tám triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn, không trăm bốn mươi ba đồng).

* Lưu ý: Tài sản đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu kể cả thuế giá trị gia tăng (nếu có).

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 100.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/3/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 15/3/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 13 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Minh Tâm và bà Trần Thị Hồng Thủy, hiện cư ngụ tại: ấp Hữu Nhơn, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

 

1. Về đất

- Diện tích 1.364,1m2 (trong đó 60m2 đất ở tại nông thôn và 1.304,1m2 đất trồng cây lâu năm);

- Thửa đất số 256, tờ bản đồ số 07.

2. Cây trồng trên đất

- Cây dừa loại 1 (trên 20 năm tuổi): 28 cây

- Cây dừa ta mới trồng: 04 cây

- Tài sản toạ lạc tại (1+2): xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Minh Tâm và bà Trần Thị Hồng Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 253.376.752đ (Hai trăm năm mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi sáu ngàn, bảy trăm năm mươi hai đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc); Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc); Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 50.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 15/3/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 16 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú quản lý đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt đấu giá nộp ngân sách, cụ thể như sau:

  • Diện tích 768,5 m2 (trong đó: 276,1 m2 đất lộ giới);
  • Loại đất: ONT (đất ở nông thôn)
  • Thuộc tờ bản đồ số 08, thửa đất số 225;
  • Tài sản tọa lạc tại: xã Giao Thạnh, huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre,
    - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân xã Giao Thạnh quản lý, do không có nhu cầu sử dụng đấu giá nộp tiền vào ngân sách nhà nước.
    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 1.007.700.000 đ (Một tỷ, không trăm lẻ bảy triệu, bảy trăm ngàn đồng).
    * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.
              * Khoản tiền đặt trước: 201.000.000 đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.
      - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
      - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc);
     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 (trong giờ làm việc);
     - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 15/3/2019 tại: Hội trường Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.
    * Lưu ý: Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).
    Quý khách có nhu cầu mua tài sản, liên hệ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667- 0275.3512081 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.
12/02/2019 4:00 CHĐã ban hành
Công bố thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực thanh tra Công bố thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực thanh tra

Thực hiện theo Quyết định số 1585/QĐ-TTCP ngày 21/6/2016 của Tổng Thanh tra Chính phủ về việc công bố thủ tục hành chính được chuẩn hóa thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Thanh tra Chính phủ và để đảm bảo thực hiện nghiêm túc đồng bộ, thống nhất, minh bạch về công bố, công khai quy định thủ tục hành chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các Quyết định công bố chuẩn hóa thủ tục hành chính như: Quyết định số 3002/QĐ-UBND ngày 12/12/2016 về việc công bố 05 TTHC được chuẩn hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Thanh tra tỉnh; Quyết định số 484/QĐ-UBND ngày 9/3/2017 về việc công bố 05 TTHC được chuẩn hóa trong lĩnh vực thanh tra thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 483/QĐ-UBND ngày 09/3/2017 về việc công bố 04 TTHC được chuẩn hóa trong lĩnh vực thanh tra thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Như vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố 14 TTHC được chuẩn hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Thanh tra tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Đồng thời, các quyết định công bố thuộc lĩnh vực thanh tra trước đây hết hiệu lực kể từ ngày các Quyết định trên có hiệu lực thi hành.

04/05/2017 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 12/12/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 12/12/2019

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 234  (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Mộng Hùng và bà Nguyễn Thị Thu Thùy, cư ngụ tại: ấp Vĩnh Hưng 1, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 424,8 m2 (Trong đó có 10,1m2 đất lộ giới);

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 343, tờ bản đồ số 6 (thửa gốc số 2931, 3148, tờ bản đồ số 1).     

2. Cây trồng trên đất:

- Cây cam sành (loại 2): 08 cây;

- Cây nhãn suồng cơm vàng (loại 3): 29 cây;

- Cây nhãn (loại 3): 01 cây.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Nhơn Phú, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Mộng Hùng và bà Nguyễn Thị Thu Thùy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 154.799.650đ (Một trăm năm mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi chín ngàn, sáu trăm năm mươi đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 30.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 91720000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 12/12/2019 đến 17 giờ ngày 13/01/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 12/12/2019 đến 17 giờ ngày 13/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 13/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 16/01/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 237 (KÈM QC)

  Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là phương tiện giao thông vận tải và máy móc thiết bị của Công ty CP Xây dựng Công trình Giao thông Bến Tre (đại diện là ông Đinh Ngọc Vượng – Tổng giám đốc), địa chỉ trụ sở tại: số 694C ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

 

STTTài sảnHồ sơ pháp lýHiện trạng Giá khởi điểm
IXe máy chuyên dùng853.007.319
1Xe lu bánh thép lốp 71SA - 0080GCN ĐK XMCD số 00505/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, không bánh xe, các bộ phận khác còn đầy đủ139.725.000
2Xe lu bánh thép lốp 71SA - 0081GCN ĐK XMCD số 00506/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, không bánh xe, các bộ phận khác còn đầy đủ139.725.000
3Xe lu bánh thép lốp 71SA - 0082GCN ĐK XMCD số 00507/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, không bánh xe, các bộ phận khác còn đầy đủ139.725.000
4Xe lu bánh thép lốp 71SA - 0083GCN ĐK XMCD số 00508/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ202.500.000
5Xe lu bánh thép lốp 71SA - 0084GCN ĐK XMCD số 00509/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ113.400.000
6Xe lu bánh thép lốp 71SA - 0085GCN ĐK XMCD số 00510/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ72.900.000
7Xe ủi bánh xích 71XA - 0301GCN ĐK XMCD số 00366/XMCDKhông còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ45.032.319
IIPhương tiện Giao thông vận tải493.143.116
1Xe ô tô tải 2T hiệu Thaco 71T - 9266Đăng ký xe ô tô số 000822Không còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ48.793.590
2Xe ô tô tải 4,5T hiệu Vinasuki71T - 8898Đăng ký xe ô tô số 000410Không còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ50.329.466
3Xe ô tô tải 4,5T hiệu Vinasuki71T - 8841Đăng ký xe ô tô số 000330Không còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ50.329.466
4 Xe Kamaz 71T - 7566Đăng ký xe ô tô số 0001577Không còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ111.522.378
5 Xe  ben 6T hiệu Thaco 71T - 9821Đăng ký xe ô tô số 001862Không còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ116.084.108
6Xe  ben 6T hiệu Thaco 71T - 9882Đăng ký xe ô tô số 001885Không còn hoạt động, xe cũ đã rỉ sét, các bộ phận khác còn đầy đủ116.084.108
IIISà lan tàu kéo1.277.891.502
1Sà Lan đặt cẩu 350T BTr - 0122GCN ĐK phương tiện thủy nội địa số 0092 ĐKĐang hoạt động bình thường461.049.879
2Tàu kéo 135 cv Btr 0059GCN ĐK phương tiện thủy nội địa số 0053 ĐKĐang hoạt động bình thường166.110.309
3Giàn búa đóng cọc L= 18m Đang sử dụng bình thường138.544.790
4Giàn búa đóng cọc L= 24m 

Đang sử dụng

bình thường

119.049.441
5Búa rung 30KW Không còn sử dụng, thiếu hệ thống điện kết nối, các bộ phận khác không còn nguyên vẹn9.204.545
6Đầu búa đóng cọc KOBE K25( Nhật) Đang sử dụng bình thường108.747.077
7Đầu búa đóng cọc KOBE K35( Nhật) Không sử dụng275.185.461
IVDây chuyền sản xuất công BTLT 344.112.300
01Dây chuyền sản xuất công BTLT  Không còn hoạt động, máy móc bị tháo gỡ, không còn đồng bộ344.112.300
VXe cẩu bánh xích Hitachi 71XA-0011456.596.355
01Xe cẩu bánh xích Hitachi 71XA-0011Không có GCNĐang hoạt động bình thường456.596.355
TỔNG CỘNG  (I+II+III+IV+V) ​ ​ ​3.424.750.592

- Tài sản đang quản lý tại: Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình Giao thông Bến Tre (địa chỉ: ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lưu ý: Giá trên không bao gồm thuế; Tài sản bán theo từng mục I, II, III, IV, V; xe bán dạng đăng ký lại. Riêng xe mục V bán dạng phế liệu do không có giấy tờ. 

       - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty CP Xây dựng Công trình Giao thông Bến Tre do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

       - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (I+II+III+IV+V): 3.424.750.592 đ (Ba tỷ, bốn trăm hai mươi bốn triệu, bảy trăm năm mươi ngàn, năm trăm chín mươi hai đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 500.000đ/hồ sơ (tài sản I), (tài sản III), 200.000 đ/hồ sơ (tài sản II), (tài sản IV), (tài sản V) nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc nộp vào số tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre

- Khoản tiền đặt trước là: 170.600.000đ/hồ sơ (tài sản I), 98.600.000 đ/hồ sơ (tài sản II), 255.500.000 đ/hồ sơ (tài sản III), 68.800.000 đ/hồ sơ (tài sản IV), 91.300.000 đ/hồ sơ (tài sản V) nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 12/12/2019 đến 17 giờ ngày 26/12/2019 (trong giờ làm việc) tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ ngày 12/12/2019 đến 17 giờ ngày 26/12/2019 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ đến 17 giờ ngày 26/12/2019 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ ngày 30/12/2019.

 

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá địa chỉ tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667- 0275.3512081 và website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết./.

27/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 26/12/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 26/12/2019

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 244 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Tuyển và bà Nguyễn Thị Mỹ Châu, hiện cư ngụ tại: ấp Thạnh Quí, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 8.871,2m2.

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

- Thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 9 (thửa cũ 11, tờ bản đồ số 5).

- Tọa lạc tại: Ấp Thạnh Quí, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm (1): 310.492.000 (Ba trăm mười triệu, bốn trăm chín mươi hai ngàn đồng).

2. Quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất:

a) Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 212,9m2;

- Loại đất: 150m2 đất ở tại nông thôn (trong đó có 28,5 m2 đất thuộc lộ giới) và 62,9m2 đất trồng cây lâu năm thuộc đất lộ giới.

- Thửa đất số 32, tờ bản đồ số 55 (thửa cũ 215 và 216, tờ bản đồ số 25).

b) Công trình xây dựng

* Nhà chính:

- Diện tích sử dụng: 58m2

- Kết cấu: Móng cột: bê tông cốt thép, vách xây tường 10cm; nền lát gạch bông + gạch tàu, mái lợp tole fibrô xi măng

- Hiện trạng: Nhà đang sử dụng ngoại quan đã cũ

* Nhà vệ sinh:

- Diện tích sử dụng: 13m2

- Kết cấu: Vách xây tường 10cm; nền gạch men, mái lợp tole kẽm

- Hiện trạng: Đang sử dụng, ngoại quan đã cũ

* Tài sản (2) toạ lạc tại: Ấp Tân Nhị, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (2): 1.073.785.350đ (Một tỷ, không trăm bảy mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn, ba trăm năm mươi đồng)

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Tuyển và bà Nguyễn Thị Mỹ Châu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá là (1+2): 1.384.277.350đ (Một tỷ, ba trăm tám mươi bốn triệu, hai trăm bảy mươi bảy ngàn, ba trăm năm mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản được bán theo từng mục và giá khởi điểm trên không bao gồm 2% thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (nếu có); các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá (1) là 200.000đ/hồ sơ, tài sản (2) là 500.000đ/hồ sơ. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá tài sản (1) là 62.000.000đ/hồ sơ, tài sản (2) là 200.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bảo Thạnh và xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 06/02/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 245 (KÈM QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 01 (một) tàu cá của ông Trần Chí Trung, hiện cư ngụ tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

* Tàu cá biển số đăng ký BT-93739-TS:

- Về đặc điểm tàu:

+ Số đăng ký: BT-93739-TS

+ Tên tàu: CHÍ TRUNG 2

+ Chủ tàu: Trần Chí Trung

+ Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

+ Loại tàu: Tàu cá

+ Công dụng: Khai thác thủy sản

+ Năm/Nơi đóng: 1999, tại Trà Vinh

+ Mẫu thiết kế dân gian, cơ quan thiết kế: Dân gian

- Về đặc điểm kỹ thuật:

+ Tải trọng hàng hóa: 53,8tấn

+ Vật liệu vỏ: Gỗ

+ Chiều dài thiết kế: 22,10m

+ Chiều rộng thiết kế: 6,6m

+ Chiều cao mạn: 2,90m

+ Chiều chìm: 2,40m

+ Mạn khô: 0,50m

+ Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO 10V26C,

+ Số máy A10713

+ Tổng công suất động cơ: 450CV

+ Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

+ Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Về trang bị khai thác tàu:

+ Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa; sau lái tàu có 01 (một) bồn nhựa 1.000 lít.

+ Trên tàu không có trang thiết bị vô tuyến la bàn, định vị

+ (01 (một) máy tơi ngang (kéo cáp, lưới).

+ 01 (một) mỏ neo khoảng 150 kg.

+ 01 (một) cẩu sắt ba chân.

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu và đã được kéo lên bờ.

* Tài sản đang được ông Trần Minh Trí (cha ruột của ông Trần Chí Trung) quản lý tại: thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trần Chí Trung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá là: 1.085.304.294đ (Một tỷ, không trăm tám mươi lăm triệu, ba trăm lẻ bốn ngàn, hai trăm chín mươi bốn đồng).

*Lưu ý: Giá trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí; các vấn đề có liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu do người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 200.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ phút đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/01/2020. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá địa chỉ tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 246 (KÈM QC)

 

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 02 (hai) tàu cá của ông Nguyễn Văn Chánh và bà Võ Thị Thu Thảo, hiện cư ngụ tại: ấp An Thuận, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tàu cá biển số đăng ký BT-97073-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-97073-TS

- Tên tàu: Phước tiến

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Chánh

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2007, tại Tiền Giang

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 51,5tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài Lmax: 22,05m

- Chiều rộng Bmax: 6,04m

- Chiều cao mạn: 3,25m

- Chiều chìm: 2,80m

- Mạn khô: 0,45m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu Mitsibishi S6R,

- Số máy 65545

- Tổng công suất động cơ: 898 sức ngựa

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

- Giá khởi điểm tài sản (1): 788.127.003đ (Bảy trăm tám mươi tám triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn, không trăm lẻ ba đồng).

2. Tàu cá biển số đăng ký BT-97037-TS (vỏ tàu):

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-97037-TS

- Tên tàu: Phước tiến

- Chủ tàu: Nguyễn Văn Chánh

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 2000, tại Bến Tre

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 19,6tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài Lmax: 17,20m

- Chiều rộng Bmax: 4,60m

- Chiều cao mạn: 1,95m

- Chiều chìm: 1,50m

- Mạn khô: 0,45m

- Hiện trạng: Tàu đang neo đậu tại bến không hoạt động.

- Giá khởi điểm tài sản (2): 267.846.264đ (Hai trăm sáu mươi bảy triệu, tám trăm bốn mươi sáu ngàn, hai trăm sáu mươi bốn đồng).

* Tài sản (1+2) được quản lý tại: Vựa Quang Bình, khóm 11, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Chánh và bà Võ Thị Thu Thảo, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.055.973.267đ (Một tỷ, không trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi ba ngàn, hai trăm sáu mươi bảy đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng mục 1, 2 và chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1, 200.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 157.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1, và 53.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số tài khoản 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/01/2020. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 247 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Ngọ và bà Nguyễn Thị Đẹt, hiện cư ngụ tại: Quí Thuận A, xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích: 2.018,6m2;

- Mục đích sử dụng: Đất lúa;

- Thửa đất số: 144A, tờ bản đồ số 3.

* Tài sản toạ lạc tại: xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Ngọ và bà Nguyễn Thị Đẹt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 184.786.681đ (Một trăm tám mươi bốn triệu, bảy trăm tám mươi sáu ngàn, sáu trăm tám mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT). Người mua trúng đấu giá phải nộp các khoản thuế, phí và lệ phí phát sinh trong quá trình  làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở (trừ thuế thu nhập).

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 36.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ  ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 06/02/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 248 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Phạm Văn Miên và bà Huỳnh Thị Thắm, hiện cư ngụ tại: ấp An Thuận, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về quyền sử dụng đất

- Diện tích: 103,7m2

- Loại đất: Đất ở nông thôn

- Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 29 (thửa cũ 810, tờ bản đồ 21).

2. Công trình xây dựng (nhà ở)

- Diện tích sử dụng: 80,6m2

- Kết cấu:

+ Móng cột bê tông cốt thép, tường xây gạch 10cm; nền lát gạch men 30 x 30, mái lợp tole, trần thạch cao. Cửa chính 4 cánh loại cửa gỗ gắn kính, cửa sau 2 cánh loại cửa gỗ gắn kính, 06 cửa sổ loại cửa gỗ gắn kính; cửa phòng và cửa nhà vệ sinh bằng gỗ.

+ Nhà gồm có: 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, bếp, nhà vệ sinh; hàng rào trụ bê tông cốt thép, cửa vào loại cửa sắt; mái che trước nhà có kết cấu bằng sắt, mái lợp tole tráng kẽm.

- Tài sản (1 + 2) toạ lạc tại: xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Phạm Văn Miên và bà Huỳnh Thị Thắm, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá là (1+2): 417.577.798đ (Bốn trăm mười bảy triệu, năm trăm bảy mươi bảy ngàn, bảy trăm chín mươi tám đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên dã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có), các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá tài sản là 82.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 06/02/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 249 (KÈM QC)

 

 Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Võ Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Thanh Linh, cư ngụ tại: ấp Hòa Khánh, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 527,9 m2 (trong đó có 25,4m2 thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ);

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 24.        

* Tài sản toạ lạc tại: ấp Hòa Khánh, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Võ Văn Thắng và bà Nguyễn Thị Thanh Linh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 119.678.061đ (Một trăm mười chín triệu, sáu trăm bảy mươi tám ngàn, không trăm sáu mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế. Các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 22.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 03/02/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 03/02/2020 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 06/02/2020 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 251 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá cho thuê mặt bằng tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Bến Tre để tổ chức gian hàng trò chơi có thưởng mừng Xuân Canh Tý năm 2020, với diện tích cho thuê là 1.900m2.

* Lưu ý: Thời gian cho thuê bắt đầu từ 19 giờ, ngày 23/01/2020 (tức ngày 29 tháng Chạp năm Kỷ Hợi) đến 22 giờ, ngày 29/01/2020 (tức mùng 5 Tết năm Canh Tý – năm 2020).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý của tài sản: mặt bằng cho thuê được cơ quan có thẩm quyền giao Trung tâm Văn hóa tỉnh Bến Tre quản lý, đấu giá cho thuê nộp Ngân sách nhà nước.

   - Giá khởi điểm thuê: 285.000.000đồng (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng chẵn). Giá trên đã bao gồm thuế.

   * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre). (xem tài sản liên hệ đ/c Hoài Anh, số điện thoại: 02753.822233).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 50.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/01/2020 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 252 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá cho thuê mặt bằng tại Sân vận động tỉnh Bến Tre để tổ chức các hoạt động Hội xuân năm 2020, với diện tích cho thuê dài 150m x ngang 20m, tổ chức trò chơi dân gian có thưởng, biểu diễn nghệ thuật và trò chơi thiếu nhi.

* Lưu ý: Thời gian cho thuê từ 19 giờ, ngày 23/01/2020 (tức ngày 29 tháng Chạp năm Kỷ Hợi) đến 22 giờ, ngày 29/01/2020 (tức mùng 5 Tết năm Canh Tý – năm 2020).

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý của tài sản: mặt bằng cho thuê được cơ quan có thẩm quyền giao Trung tâm Thể dục Thể thao tỉnh Bến Tre quản lý, đấu giá cho thuê nộp Ngân sách nhà nước.

  - Giá khởi điểm thuê: 130.000.000đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng chẵn). Giá trên đã bao gồm thuế.

   * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm thể dục thể thao tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre). (xem tài sản liên hệ đ/c Hải, số điện thoại: 02753.824410).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ ngày 27/12/2019 đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ đến 17 giờ ngày 08/01/2020 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 25.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 10/01/2020 (Thứ sáu) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 – 0275.3512081 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.

06/01/2020 6:00 CHĐã ban hành
Quy định pháp luật về trường hợp  đổi đất cho nhauQuy định pháp luật về trường hợp  đổi đất cho nhau

Giữa các chủ thể có tài sản trao đổi cho nhau tài sản, đó là một điều rất bình thường và hoàn toàn có thể thực hiện được nếu các bên đồng ý. Tài sản ở đây có thể là tiền hoặc hiện vật, đối với các hiện vật mà chúng ta có thể cầm, nắm được thì hầu như không có vấn đề gì cũng như không có nhiều thắc mắc. Tuy nhiên, đối với những tài sản có giá trị ví dụ như bất động sản cụ thể là đất đai thì có đổi được không? Nếu được thì làm như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu các bên? Đó hẳn là vấn đề không phải ít gặp trên thực tế nhưng để hiểu đúng, hiểu đủ và thực hiện một cách có hiệu quả thì không phải ai cũng biết. Câu chuyện sau đây là một ví dụ:

Gia đình anh A có phần đất phía trước nhỏ nhưng phía sau lại rộng, trong khi gia đình anh B lại có mảnh đất tiếp giáp với đất của anh A thì ngược lại. Với mong muốn đất của hai nhà đều được vuông vứt, gia đình anh A và gia đình anh B đều có mong muốn và đã thỏa thuận về việc đổi một phần đất cho nhau, việc đổi đất này đã được hai bên thông qua, nhưng chỉ qua lời nói và cả hai đều rất hài lòng với việc đổi đất này. Tuy nhiên, có thể thấy đây là tài sản có giá trị lớn đồng thời trong quá trình sử dụng mặc dù hai bên không có mâu thuẩn, nhưng các bên đều có những nhu cầu riêng, cần sử dụng tới phần đất hoán đổi kia, khi đó phát sinh hàng loạt các thủ tục liên quan về mặt pháp lý mà chính anh A và anh B đều cảm thấy cần phải làm rõ về mặt pháp lý đối với sự chuyển đổi này, chưa kể nếu cứ để như vậy sau này nếu có tranh chấp xảy ra chắc chắn sẽ phức tạp rất nhiều.

Trường hợp như của gia đình anh A và anh B trong thực tế xảy ra rất nhiều và hầu hết các trường hợp chủ yếu thực hiện bằng lời nói, có những trường hợp do tin tưởng nhau, có trường hợp do ngại về thủ tục pháp lý nên không làm hoặc không muốn làm và cũng có khá nhiều trường hợp tranh chấp xảy ra liên quan đến việc đổi đất này.

Việc đổi một phần đất cho nhau bằng miệng chỉ là thỏa thuận giữa các bên mà hoàn toàn không được pháp luật công nhận, đồng thời việc làm trên còn tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và có thể hình thành những tranh chấp có thể xảy ra sau này. Bởi về mặt pháp lý, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các bên đều thể hiện diện tích, cũng như hình dáng, vị trí thửa đất của mỗi bên và đều đó được pháp luật quy định cũng như thừa nhận một cách rõ ràng. Theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì Nhà nước vẫn công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, tức là người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, nhưng phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bởi, theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 thì hành vi sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xác định là hành vi bị nghiêm cấm.

Trong trường hợp này, để thực hiện việc chuyển đổi đất một cách hợp pháp, hai bên gia đình anh A và anh B, có thể ký kết hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất để chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất mà hai bên đang muốn đổi đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, anh A và anh B là người sử dụng đất hợp pháp với các phần đất, thì họ hoàn toàn được quyền thực hiện việc chuyển đổi một phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013, như phải có: Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; Trong thời hạn sử dụng. Đồng thời, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính.

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau, phải tiến hành thủ tục tách thửa đối với phần diện tích đất hai gia đình muốn chuyển đổi cho nhau, và vấn đề kế tiếp được đặt ra đó là quy định về diện tích tách thửa, việc tách thửa đất đối với phần diện tích đất của các bên cần đảm bảo diện tích tối thiểu được tách thửa đất theo từng loại đất được quy định tại Quyết định về diện tích tối thiểu được tách thửa của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất.

Đa số các trường hợp chuyển đổi đất cho nhau, đều vướng phải tình trạng không đủ diện tích tách thửa, khi đó nhiều người không biết quy định pháp luật và không tiếp tục thực hiện vì nghĩ không thể thực hiện. Liên quan về vấn đề này, theo quy định tại  Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu cụ thể như sau:

- Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày văn bản quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Không được công chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới.

Đồng thời, cũng theo quy định của Luật Đất đai thì trước khi thực hiện việc chuyển đổi cần phải xem xét về mục đích sử dụng đất của các bên, nếu đất cần chuyển đổi là đất nông nghiệp thì cần phải thỏa mãn các điều kiện theo luật định, bởi theo quy định tại Điều 190 về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ

Sau khi tách thửa đất thì hai bên có thể cùng nhau ký hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất cần chuyển đổi. Vì như đã nói ở trên, hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Với những quy định đã nên trên, thì việc chuyển đổi đất hay một phần diện tích đất đều không phải là một vấn đề đơn giản, điều đó phải thỏa mãn những điều kiện cũng như phải tuân thủ theo đúng quy định pháp luật. Có thể thủ tục pháp lý khá nhiều và tuân thủ những quy định pháp luật về đất đai và những văn bản pháp luật có liên quan nhưng không phải là không thể thực hiện. Do đó, người dân nếu muốn thực hiện việc chuyển đổi theo đúng nhu cầu của mình cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật để làm đúng, làm đủ các bước và hoàn chỉnh quá trình chuyển đổi của mình theo đúng quy định pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và hạn chế những rủi ro, tranh chấp có thể phát sinh.

30/12/2019 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 272, tờ bản đồ số 04 tại ấp An Nhơn 1, xã Đa Phước Hội, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 272, tờ bản đồ số 04 tại ấp An Nhơn 1, xã Đa Phước Hội, MCN, tỉnh Bến Tre
10/08/2018 3:00 CHĐã ban hành
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtHội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Kế hoạch số 2146/KH-UBND ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc tập huấn nghiệp vụ công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Ngày 27 tháng 6 năm 2019, Sở Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật cho đối tượng là công chức làm công tác văn bản và công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh.

tap-huan-vb2.gif

 Tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre và 70 đại biểu là công chức tham gia soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, công chức phụ trách công tác pháp chế của các sở, ngành tỉnh; Đại diện Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân; Lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và công chức phụ trách công tác văn bản tại Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Phát biểu khai mạc hội nghị, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề nghị báo cáo viên tập trung vào kỹ năng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thực tiễn triển khai thực hiện công tác này tại các sở, ban, ngành của tỉnh, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố; giải đáp những vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

tap-huan-vb1.gif

Tại Hội nghị tập huấn, đại biểu đã nghe Báo cáo viên của Sở Tư pháp báo cáo 04 chuyên đề liên quan đến nghiệp vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Quy trình chính sách trong lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; Đánh giá tác động thủ tục hành chính trong văn bản quy bản quy phạm pháp luật Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; Rà soát văn bản quy phạm pháp luật.

Qua hội nghị tập huấn, các đại biểu đã được trang bị những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ trong thực hiện công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, để từ đó có những tham mưu kịp thời, chính xác công tác này trong phạm vi, lĩnh vực được giao, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác rà soát, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.


22/07/2019 9:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

STT

Tên

văn

 bản

Số, ký hiệu

 văn bản

Ngày, tháng, năm ban hành văn bản Trích yếu/nội dung văn bản Hiệu lực văn bản Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Pháp lệnh

09/2014/

UBTVQH13

20/1/2014Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dânCòn hiệu lực  ​
02Nghị định

111/2013/

NĐ-CP

30/9/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
03Nghị định 221/2013/NĐ-CP30/12/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcCòn hiệu lực  
04Nghị định

02/2014

NĐ-CP

10/01/2014Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
​05​Nghị định
26/2016/NĐ-CP​16/4/2016Quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập​Từ ngày 01/6/2016
06Thông tư 38/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡngCòn hiệu lực  
07Thông tư 39/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
08Thông tư 20/2014/TT-BTP25/9/2014Về việc ban hành các biểu mẫu để sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên theo quy định của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
09Thông tư 42/2014/TT-BCA25/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
10
Thông tư 43/2014/TT-BCA08/10/2014Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử  lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực 
11Thông tư

48/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 quy định chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
12Thông tư 193/2014/TT-BTC12/12/2014Về việc quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
13Thông tư liên tịch

17/2015/

TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA

09/7/2015Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túyCòn hiệu lực 
14Công văn

1503/

BTP-QLXLVPHC

&TDTHPL

08/5/2015Về việc sử dụng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP và Thông tư số 42/2014/TT-BCACòn hiệu lực 
​15​Thông tư
​19/2015/TT-BTP​28/12/2015

Việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

​Còn hiệu lực


25/09/2015 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 17/5/2019Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 17/5/2019

  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 76 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, địa chỉ tại: ấp 4 xã Bình Thắng và khu phố 1, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

Về đất:

- Diện tích: 584,9 m2 (trong đó có 96,5m2 đất trong hành lang lộ giới);

- Mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m). Nhà 02 tầng, móng cột bê tông, cốt thép, tường xây gạch 100mm hoàn thiện sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm (chất lượng còn lại 40%).

- Nhà trệt (phía sau nhà chính): Diện tích xây dựng 31,5m2 (3,5m x 9m), cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng xây gạch 100mm, nền lót gạch ceramic, mái lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Nhà sau: Diện tích 39,16m2 (4,4m x 8,9m), cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền tráng xi măng, mai lợp tole thiếc, không la phong (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía sau: Diện tích 21,9m2 (7,3m x 3m), cột bê tông cốt thép và gỗ tạp, nền tráng xi măng, mái lợp tole xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Mái che bên trong: Diện tích 44,1m2 (4,9m x 9m), mái lợp tole xi măng, nền tráng xi măng, tường xây gạch 100mm (chất lượng còn lại 30%).

- Mái che phía trước: Diện tích 48,8m2 (3,5m x 4,2m) + (5,5m x 6,2m), mái lợp tole thiếc, cột bê tông cốt thép, nền tráng xi măng (chất lượng còn lại 20%).

- Cửa rào: Gồm 02 cánh cửa bằng Inox, mỗi cánh dài 190cm, cao 2,5m; 01 khung sắt cao 2,5m, dài 02m (chất lượng còn lại 30%).

* Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Mai Trung Hiếu và bà Lý Ngọc Oanh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.423.458.696đ (Một tỷ, bốn trăm hai mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi tám ngàn, sáu trăm chín mươi sáu đồng.

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 284.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/6/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá). 


 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG  77 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Võ Thị Kim Liên và ông Bùi Văn Phương, cư ngụ tại: ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (hiện ông Long và bà Cúc đã chết); tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 990,9m2;

- Mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số: 417, tờ bản đồ số: 14.

2. Vật kiến trúc đã qua sử dụng:

- Chuồng heo 1: diện tích 29,6m2. Kết cấu: Trụ pê tông cốt thép đúc sẵn, nền xây bó láng xi măng; tường xây gạch D100mm cao 0,74m trát vữa xi măng mặt trong.

- Chuồng heo 2: diện tích 18,46m2. Kết cấu: Trụ pê tông cốt thép đúc sẵn, nền xây bó láng xi măng; tường xây gạch D100mm cao 0,65m trát vữa xi măng mặt trong.

3. Cây trồng trên đất:

- Tre loại 1: 01 bụi

- Dừa loại 1: 17 cây

- Dừa loại 2: 06 cây

- Dừa loại 3: 03 cây

- Bưởi da xanh loại 2: 20 cây

- Đu đủ có trái: 03 cây

- Cau có trái: 01 cây

- Mai vàng đường kính 5-10cm: 01 cây

- Mai vàng đường kính 3-5cm: 06 cây

- Chanh loại 1: 03 cây

* Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, vật kiến trúc đã qua sử dụng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Long và bà Nguyễn Thị Kim Cúc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2):  290.412.000đ (Hai trăm chín mươi triệu, bốn trăm mười hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập; riêng các khoản phí, lệ phí, liên quan thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 58.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre số 729100000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ 30 phút ngày 22/6/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 78 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại 05 khu vực khoáng sản Quới Sơn, Cẩm Sơn, An Hiệp – An Ngãi Tây, An Đức – An Hòa Tây và An Hòa Tây đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; tài sản cụ thể như sau:

a) Mỏ cát An Đức – An Hòa Tây, thuộc xã An Đức và xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.696.818m3 (theo Quyết định số 206/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ,

kinh tuyến trục 105o45'

 

 

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.106.058587.910

 

 

 

99,9200

21.106.383588.454
31.105.722589.447
41.105.187589.010
51.105.451588.624
61.105.819587.695

 

- Giá khởi điểm: 6.432.300.000đ (Sáu tỷ, bốn trăm ba mươi hai triệu, ba trăm ngàn đồng)

b) Mỏ cát An Hiệp – An Ngãi Tây, thuộc xã An Hiệp và xã An Ngãi Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.463.610m3 (theo Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ, kinh tuyến trục 105o45'

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.109.047581.255

 

 

80,0119

21.109.405581.332
31.108.979583.478
41.108.622583.396

- Giá khởi điểm: 5.548.250.000đ (Năm tỷ, năm trăm bốn mươi tám triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng)

c) Mỏ cát An Hòa Tây, thuộc xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.767.103m3 (theo Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ,

kinh tuyến trục 105o45'

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.104.453590.162

 

 

99,9339

21.105.061590.656
31.105.722589.447
41.105.187589.010

 

- Giá khởi điểm: 6.698.730.000đ (Sáu tỷ, sáu trăm chín mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng)

d) Mỏ cát Quới Sơn, thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 1.073.695m3 (theo Quyết định số 203/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ,

kinh tuyến trục 105o45'

 

 

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.142.379571.468

 

 

 

79.9860

21.142.613571.628
31.142.187572.343
41.141.218573.768
51.140.922573.565
61.141.509572.807

 

- Giá khởi điểm: 4.296.280.000đ (Bốn tỷ, hai trăm chín mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng)

e) Mỏ cát Cẩm Sơn, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

- Tổng trữ lượng khoáng sản: 510.740m3 (theo Quyết định số 204/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre);

- Loại khoáng sản:  Cát san lấp;

- Tọa độ khu vực thăm dò:

 

 

Số hiệu điểm góc

Hệ tọa độ VN-2000 múi 3 độ, kinh tuyến trục 105o45'

Diện tích

(ha)

X (m)Y (m)
11.106.282565.875

 

 

70,2181

21.106.496566.118
31.105.510567.316
41.105.118566.871

 

- Giá khởi điểm: 2.043.680.000đ (Hai tỷ, không trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ngàn đồng)

* Lưu ý: Khoáng sản được đấu giá từng khu vực Mỏ theo thứ tự trên.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: Quyền khai thác khoáng sản đối với các khu vực khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép khai thác của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao Bên A quản lý, bán đấu giá nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

*Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (a+b+c+d+e):                      25.019.240.000đ (Hai mươi lăm tỷ, không trăm mười chín triệu, hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: Từ 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành; xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam; xã An Hiệp – An Ngãi Tây, xã An Đức – An Hòa Tây và An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (liên hệ Phòng Kế hoạch – Tài chính Sở Tài Nguyên – Môi trường, số điện thoại 0275.3839788 sẽ hướng dẫn vị trí, tọa độ cụ thể).

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/5/2019 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/6/2019 (trong giờ làm việc) tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian thu tiền đặt trước và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre: Sau khi có kết quả thẩm định điều kiện, năng lực các tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre, Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo sau.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ cho từng mục tài sản, khoản lệ phí này không được hoàn lại và nộp khoản tiền đặt trước tài sản (mục 1) là 960.000.000đ/hồ sơ, tài sản (mục 2) là 830.000.000đ/hồ sơ, tài sản (mục 3) là 1.000.000.000đ/hồ sơ, tài sản (mục 4) là 640.000.000đ/hồ sơ và tài sản (mục 5) là 310.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua, liên hệ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 – 0275.3512081 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.


24/05/2019 4:00 CHĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Việc thực hiện quy định về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:

- Xây dựng nội dung chính sách

          - Đánh giá tác động của chính sách

          - Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết.

          - Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân.

Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.

Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị (thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị)

Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực HĐND chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên  cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.

Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng gép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định "đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên". Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị sửa đổi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hướng dẫn cụ thể, làm cơ sở để địa phương áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

b) Về ban hành văn bản bãi bỏ

Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:

Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp.

Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.

Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện VBQPPL thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.

Từ những lý do trên, kiến nghị cơ quan Trung ương xem xét điều chỉnh lại nội dung này theo hướng văn bản chỉ có nội dung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy trình rút gọn tại Điều 146 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đồng thời điều chỉnh lại mức chi kinh phí cho phù hợp với loại văn bản này).

c) Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật)

Khoản 4 Điều 14 Luật quy định cấm quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật."

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau:

Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 14 Luật theo hướng mở rộng thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

d) Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện và cấp xã.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật thì Hội đồng cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp được luật giao.

Tuy nhiên, thực tiễn văn bản Luật hầu như không giao thẩm quyền một cách rõ ràng cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Mặt khác, trong một số trường hợp văn bản dưới Luật giao hoặc cấp huyện và cấp xã (nhất là cấp huyện) phát sinh vấn đề cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương; trong trường hợp này nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lại trái với quy định tại Điều 30 Luật, không ban hành thì cấp huyện và cấp xã gặp khó khăn trong thực hiện chức năng quản lý của mình.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị sửa đổi Điều 30 Luật theo hướng cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã, ngoài trường hợp được Luật giao còn được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp văn bản dưới luật giao. (Còn tiếp kỳ sau)

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Cung cấp thông tin nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sảnCung cấp thông tin nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản
07/08/2019 11:00 SAĐã ban hành
Tình hình tội phạm ma túy và người sử dụng ma túy ngày càng diễn biến phức tạpTình hình tội phạm ma túy và người sử dụng ma túy ngày càng diễn biến phức tạp

Hiện nay, tội phạm về ma túy hoạt động trên địa bàn tỉnh Bến Tre ngày càng tinh vi và phức tạp, đã phát hiện và triệt phá 65/33 vụ (so với cùng kỳ 2018, tăng 32 vụ = 97%); qua đó, đã điều tra, khám phá án đạt tỷ lệ  83,6%; đáng chú ý là tội vận chuyển trái phép chất ma túy, thông qua phương tiện xe mô tô vận chuyển hàng hóa, bưu phẩm; thông qua hạt động kinh doanh, dịch vụ karaoke để sử dụng trái phép chất ma túy; đã thu giữ 11,426 gram heroin, 367,768 gram ma túy rổng hợp; đã triệt xóa 126 điểm, tụ điểm sử dụng trái phép chất ma túy, với 327 đối tượng.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm, chú trọng; tập trung vào nhóm đối tượng, địa bàn, tuyến, khu vực, chuyển hóa các địa bàn trọng điểm, phức tạp về ma túy; công tác quản lý, kiểm soát thuốc tân dược gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, tiền chất sử dụng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy được chặt chẽ hơn; công tác phối hợp lập hồ sơ, tổ chức cai nghiện ma túy được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ; đã vận động 70 trường hợp cai nghiệm ma túy tại gia đình, 27 trường hợp cai nghiện tại cộng đồng, có 11 trường hợp tham gia điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone; áp dụng giáo dục tại xã, phường 115 trường hợp; áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc 60 trường hợp. Đến nay, có 135/158 xã, phường, thị trấn có người nghiện ma túy.

Tình trạng gia tăng người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy còn tăng cao. Hiện có 1.780 người sử dụng trái phép chất ma túy (tăng 121 người so với 2018); trong đó, có 808 người nghiện ma túy (tăng 162 người so với năm 2018).

Công tác chuyển hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về ma túy ở một số địa phương vẫn chưa có biện pháp bảo đảm giữ vững địa bàn sau chuyển hóa. Công tác tổ chức cai nghiện ma túy tại cộng đồng còn nhiều khó khăn, nhất là địa điểm tổ chức cắt cơn, giải độc, kinh phí, trang thiết bị. Công tác phối hợp tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện hiệu quản chưa cao. Một số quy định của pháp luật còn chồng chéo, vướng mắc, khó thực hiện, nhận thức chưa thống nhất, nên đã gây không ít khó khăn trong công tác phòng, chống ma túy tại địa phương.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ đạo của trung ương và địa phương về công tác phòng, chống ma túy; các sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh cần quan tâm phối hợp chỉ đạo kiểm tra, hướng dẫn, nâng cao vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng, chống tội phạm về ma túy và người sử dụng ma túy. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ma túy, tập trung nhóm đối tượng sử dụng trái phép chất  và người nghiệm ma túy; đa dạng hóa các kênh thông tin và hình thức tuyên truyền, nhất là hệ thống phát thanh, truyển hình, truyền thanh cơ sở; qua mạng xã hội, sinh hoạt tổ nhân tự quản, hội, chi hội các đoàn thể.

Nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình, kế hoạch liên tịch về phòng, chống tội phạm, tệ nạn về ma túy; chú trọng công tác nhận lãnh, cảm hóa, giáo dục người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện, người sau cai nghiện, giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng.

Lực lượng công tác toàn tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp nghiệp vụ; nắm, quản lý chặt các tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm về ma túy; sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị kỹ thuật trong công tác phòng, chống ma túy; tập trung trấn áp mạnh các điểm, tụ điểm, đường dây, đối tượng tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Triển khai các cao điểm tấn công trấn áp tội phạm về ma túy.

Thực hiện tốt công tác tổ chức cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy; triển khai các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện, nhằm kiền chế, ngăn chặn tình trạng tái nghiện, tái phạm; quản lý chặt chẽ số người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện ma túy; tổ chức tốt cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; khuyến khích hình thức cai nghiện tự nguyện và tham gia chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thúc thay thế Meethadone; nghiên cứu đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dự phòng và điều trị nghiện nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy, nhất là ma túy tổng hợp.

29/07/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 16/01/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 16/01/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 10 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 12 chiếc xe mô tô 02 bánh, 11 xe mô tô 03 bánh các loại, 08 điện thoại di động và các tài sản khác (khung thép mạ kẽm, trụ bằng thép, trụ nhựa đầu dãy phân cách) (có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản được quản lý tại: kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lưu ý: Tài sản bán chung và bán dạng phế liệu; đối với xe môtô 02 bánh, 03 bánh các loại, khi nhận tài sản người mua trúng đấu giá sẽ thực hiện cắt bỏ số khung, số máy và chịu toàn bộ chi phí cho việc cắt bỏ số khung, số máy.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản tịch thu theo Quyết định số 2485/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 và Quyết định số 2629/QĐ-UBND ngày 01/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bán tài sản  được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do Sở Tài chính Bến Tre chuyển giao, bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 292.760.000 đ (Hai trăm chín mươi hai triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 58.500.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/01/2018.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 07 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và Tài sản trên đất của ông Nguyễn Trung Nhân và bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt; hiện cư ngụ tại: số 678D ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 1.575,5 m2 (phần đất bán từ hàng rào kiên cố trở vào, trừ ra 59,8 m2 lối đi bên ngoài hàng rào);

- Loại đất: ONT+CLN;

- Về đất thửa số 23, tờ bản đồ số 20.

2. Về tài sản trên đất:

- Nhà ở xây dựng trên thửa số 23, diện tích xây dựng 257,47 m2, diện tích sàn 409,05 m2, kết cấu vách gạch, khung cột bêtông cốt thép, mái ngói, nhà cấp 4, 02 tầng, xây dựng năm 2010.

- Tài sản tọa lạc tại: số 678D, ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Trung Nhân và bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 4.487.523. 422 đ (Bốn tỷ, bốn trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi ba ngàn, bốn trăm hai mươi hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 897.500.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2018 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 14 giờ 30 phút ngày 23/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 06 (Kèm QC)

            Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Bùi Văn Hạt và bà Nguyễn Thị Nga, địa chỉ tại: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

         - Diện tích đất: 4.945m2;

         - Loại đất: BHK;

         - Thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 26.

  - Tài sản tọa lạc: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Văn Hạt và bà Nguyễn Thị Nga, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

  - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 311.782.250đ (Ba trăm mười một triệu, bảy trăm tám mươi hai ngàn, hai trăm năm mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 62.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 16/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 14 giờ ngày 23/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 – 02753512081 -02753512083 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

24/01/2018 5:00 CHĐã ban hành
Hội nghị tổng kết Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác cải cách Tư pháp nhiệm kỳ 2011-2015Hội nghị tổng kết Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác cải cách Tư pháp nhiệm kỳ 2011-2015
Sáng ngày 18 tháng 8 năm 2015, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 và tổng kết thực hiện công tác Cải cách tư pháp nhiệm kỳ 2011-2015. Đồng chí Nguyễn Quốc Bảo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đến dự và chủ trì Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy đồng chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; Tỉnh đoàn, Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự, Hội Luật gia, Đoàn Luật sư; các thành viên Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh; Thường trực các huyện ủy, thành ủy.

Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị "về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", nêu rõ: nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật ngày càng nâng lên, tạo sự chuyển biến trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự tham gia phối hợp của Mặt trận Tổ quốc,  các đoàn thể và nhân dân, sự quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tư pháp, nhất là ở cơ sở. Tuy nhiên công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật vẫn còn bất cập, đội ngũ làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế về số lượng, chất lượng; chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

nghi-quyet48.1.gif 

Về công tác cải cách tư pháp, kết quả qua 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020", tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và bổ trợ tư pháp của tỉnh có nhiều tiến bộ. Đội ngũ cán bộ được kiện toàn, chuyên môn nghiệp vụ cán bộ các cơ quan tư pháp (nhất là cán bộ có chức danh tư pháp) được nâng lên rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Công tác điều tra, khám phá án đạt tỷ lệ khá cao, hạn chế thấp nhất sai sót trong các thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, sự phối hợp trong triển khai, thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp giữa một số ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp có nơi, có lúc chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ. Một số vụ việc còn có ý kiến khác nhau, có mặt thiếu nhất quán, nhất là trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật.

nghi-quyet48.2.gif 

Phát biểu kết luận, chỉ đạo Hội nghị, đồng chí Nguyễn Quốc Bảo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đánh giá cao kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị "về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" và 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020" của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể các cấp; đặc biệt, sự tích cực tham mưu đề xuất của các cơ quan tư pháp, các ngành liên quan đã đạt nhiều kết quả rất đáng trân trọng. Qua đó, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các cơ quan tư pháp, các ngành liên quan cần quan tâm nhiều hơn và tạo điều kiện tốt hơn cho hoạt động của các cơ quan tư pháp; đặc biệt là công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật đến gần với người dân hơn, góp phần nâng cao ý thức tôn trọng  và chấp hành pháp luật của người dân. Quan tâm chỉ đạo triển khai, thực hiện Hiến pháp năm 2013, các luật có liên quan đến cuộc sống của người dân; khắc phục những hạn chế, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; thực hiện tốt công tác bổ trợ tư pháp; triển khai có hiệu quả kế hoạch phát triển nghề luật sư, công chứng, giám định  tại tỉnh nhà.

 

Hoàng Thiện

27/08/2015 5:00 CHĐã ban hành
Tập huấn công tác truyên truyền bầu cửTập huấn công tác truyên truyền bầu cử

Ngày 11 tháng 4 năm 2016, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức lớp tập huấn công tác tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Đến dự lớp tập huấn có ông Cao Văn Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền bầu cử tỉnh; ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đại biểu là báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; báo cáo viên Trường Chính trị, Quân sự tỉnh, Cao đẳng Bến Tre, Cao đẳng Nghề Đồng Khởi, Trung cấp Y tế; đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo (Tuyên huấn) các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; Trưởng, Phó Tiểu ban Tuyên truyền bầu cử các huyện, thành phố.

bau-cu2.jpg

Ông Cao Văn Dũng, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền bầu cử tỉnh đã phát biểu khai mạc lớp tập huấn, định hướng nội dung công tác tuyên truyền bầu cử trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy. Báo cáo viên đã báo cáo những điểm mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

bau-cu1.jpg

Lớp tập huấn đã cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm cơ bản trong công tác tuyên truyền phục vụ cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, nhằm làm cho mọi công dân nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc tham gia bầu cử, trực tiếp lựa chọn  nhữn đại biểu đảm bảo tiêu chuẩn, xứng đáng đại diện cho Nhân dân tham gia vào  Quốc hội, Hội đồng nhân dân, xây dựng chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả, là yêu cầu quan trọng và có ý nghĩa chính trị to lớn.

11/04/2016 4:00 CHĐã ban hành
Quy định mới về hoạt động thống kê ngành tư pháp Quy định mới về hoạt động thống kê ngành tư pháp

Ngày 20 tháng 3 năm 2019, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BTP quy định một số nội dung về hoạt động thống kê Ngành Tư pháp. Thông tư quy định về chế độ báo cáo thống kê; điều tra thống kê; phân tích, dự báo, công bố, phổ biến, sử dụng thông tin thống kê; ứng dụng công nghệ thông tin; kiểm tra việc thực hiện công tác thống kê của Ngành Tư pháp.

Hoạt động thống kêđược tiến hành trên 21 lĩnh vực. Trong đó, giữ nguyên 16 lĩnh vực so với Thông tư số 04/2016/TT-BTP bao gồm các lĩnh vực: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Rà soát văn bản quy phạm pháp luật, Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hòa giải ở cơ sở, Hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực, Lý lịch tư pháp, Nuôi con nuôi, Đăng ký giao dịch bảo đảm, Luật sư, Công chứng, Giám định tư pháp, Trọng tài thương mại, Tương trợ tư pháp; sửa đổi 02 lĩnh vực: Trợ giúp pháp lý và đấu giá tài sản (thay đổi Biểu mẫu thống kê), Pháp chế (thay đổi tên gọi thành Tổ chức và người làm công tác pháp chế); Bổ sung 03 lĩnh vực: Chuẩn tiếp cận pháp luật; Hòa giải thương mại; Quản lý thanh lý tài sản. Bãi bỏ 01 lĩnh vực: Kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư số 03/2019/TT-BTP quy định nhiều nội dung có liên quan đến hoạt động thống kê ngành tư pháp, trong đó nội dung có liên quan trực tiếp đến địa phương là quy định về chế độ báo cáo thống kê, quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất: quy định về thể thức báo cáo thống kê

Báo cáo thống kê của Ngành Tư pháp thực hiện dưới dạng biểu mẫu báo cáo thống kê, gồm các thông tin cụ thể về tên biểu báo cáo thống kê; tên cơ quan, tổ chức thực hiện báo cáo và nhận báo cáo (sau đây gọi là đơn vị báo cáo và đơn vị nhận báo cáo); kỳ báo cáo; nội dung báo cáo; phân tổ; đơn vị tính; ngày tháng năm thực hiện báo cáo; họ tên, chữ ký của người lập biểu báo cáo, người kiểm tra biểu; họ tên, chữ ký của thủ trưởng cơ quan, tổ chức báo cáo, đóng dấu theo quy định và các nội dung khác có liên quan.

Trường hợp cần làm rõ hơn các thông tin có liên quan đến số liệu nêu trong các báo cáo thống kê và các thông tin khác có liên quan đến việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê quy định tại Thông tư này, đơn vị báo cáo bổ sung thêm phần thuyết minh (chú thích) theo một hoặc kết hợp giữa hình thức sau: Thể hiện tại vị trí cuối cùng bên ngoài khung biểu mẫu báo cáo thống kê, phía trên của phần chữ ký nêu tại khoản 1 Điều này (trong trường hợp nội dung chú thích không nhiều); Thể hiện dưới hình thức Công văn (theo mẫu chi tiết quy định tại Phụ lục III kèm theo Thông tư này).

Thứ hai: quy định về hình thức báo cáo thống kê

Các đối tượng áp dụng được quy định trong Thông tư 03/2019/TT-BTP, căn cứ vào điều kiện thực tế của đơn vị mình lựa chọn một trong các hình thức dưới đây để gửi báo cáo đến đơn vị nhận báo cáo:

- Báo cáo bằng văn bản giấy có chữ ký của Thủ trưởng, dấu của đơn vị thực hiện báo cáo, gửi về đơn vị nhận báo cáo theo đường bưu điện hoặc gửi trực tiếp.

- Báo cáo bằng văn bản điện tử được thể hiện bằng một trong hai hình thức sau đây:

Văn bản điện tử dưới dạng ảnh (định dạng pdf) của báo cáo giấy theo quy định tại khoản 1 Điều này;

Văn bản điện tử dưới dạng tệp tin điện tử được xác thực bằng chữ ký số của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức thực hiện báo cáo theo quy định của pháp luật.

- Báo cáo bằng tiện ích trên Phần mềm thống kê Ngành Tư pháp do Bộ Tư pháp chủ trì thống nhất xây dựng và triển khai.

Thông tư số 03/2019/TT-BTPtừ ngày 15 tháng 5 năm 2019 và thay thế Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2016 của Bộ Tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp.

08/05/2019 5:00 CHĐã ban hành
Xâm phạm đến mồ mả là hành vi vi phạm pháp luật hình sựXâm phạm đến mồ mả là hành vi vi phạm pháp luật hình sự

Mồ mả là nơi chôn cất thi thể, hài cốt hoặc tro cốt của cá nhân, mồ mả được xem là một trong những nét văn hóa của người phương Đông, thể hiện sự tín ngưỡng, tâm linh của người Việt Nam nói chung, thể hiện sự tôn kính, lưu giữ những gì thuộc về người đã chết của những người còn sống. Do đó, người dân luôn quan niệm phải tôn thờ và bảo vệ mồ mả và đó là trách nhiệm của những người còn sống. Đồng thời, pháp luật cũng có những quy định để bảo vệ mồ mả của cá nhân, cũng như có những biện pháp chế tài đối với những người có hành vi cố ý xâm phạm mồ mả.

Việc xâm phạm mồ mả trong thực tế đôi khi không vì mục đích xâm phạm, chiếm đoạt đối với mồ mả đó, mà xuất phát từ cách hiểu sai lệch hay nói đúng hơn là hiểu quy định pháp luật, quá tự tin vào suy luận của mình, của một số người mà dẫn đến việc vi phạm pháp luật về xâm phạm mồ mả và câu chuyện của anh Trần Văn C có thể là bài học đút rút cho anh C và cho nhiều người để tránh việc vi phạm đáng tiếc có thể xảy ra.

Anh C được cha cho một miếng đất diện tích 500m2, nguồn gốc đất là của ông bà nội anh và từ khi ông bà nội cho cha anh, cha anh cho anh thì trên đất đã có mộ của các chú, bác trên đó từ rất lâu. Sau một thời gian được cho đất, những ngôi mộ vẫn nằm trên đất và anh chưa có nhu cầu sử dụng nên vẫn giữ nguyên hiện trạng như trước đó. Năm 2018, do nhu cầu buôn bán, anh muốn cất nhà kho để chứa đồ và muốn cất trên phần đất này nên anh có ý định di dời các ngôi mộ trên để xây cất. Anh bắt đầu thông báo cho người thân của những ngôi mộ đó để di dời, các ngôi mộ hầu hết được người thân của họ dời đi, duy chỉ còn một ngôi mộ của người chú anh là người thân chưa di dời, vì lý do chưa tìm được chổ chôn cất hợp lý. Vì công việc làm ăn cần chổ chứa đồ gắp và không hài lòng với thái độ trì hoãn của người chú, anh tỏ thái độ khó chịu và cảnh báo nếu không di dời ra khỏi đất của anh, anh sẽ tự di dời. Anh C cho rằng, đất này anh đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nghĩa là anh là chủ sở hữu đối phần đất này và có toàn quyền định đoạt đối với đất và những gì có trên đất, việc anh thông báo là do nghĩ tình bà con dòng họ với nhau nên muốn để cho người nhà của chú thực hiện, nếu không di dời hoặc gây khó khăn anh hoàn toàn có quyền xử lý theo cách của anh, vì đây là đất của anh và hoàn toàn không có chuyện vi phạm gì ở đây.

Anh C đã tự thuê mướn người di dời ngôi mộ trên đất, vụ việc xảy ra làm tình cảm anh em dòng họ trở nên căng thẳng và người em của anh đã gửi đơn yêu cầu xử lý hành vi vi phạm của anh C và anh C đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt" theo quy định của pháp luật.

Hành vi của anh C đã vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 319 Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể được quy định như sau:

Điều 319. Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt

1. Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

b) Chiếm đoạt hoặc hủy hoại vật có giá trị lịch sử, văn hóa;

c) Vì động cơ đê hèn;

d) Chiếm đoạt bộ phận thi thể, hài cốt.

Đó là trách nhiệm hình sự, còn về trách nhiệm dân sự, với hành vi của anh C, anh phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả đều thuộc nhóm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể theo quy định tại

Điều 607 Bộ luât Dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả

1. Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại.

2. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

3. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Căn cứ từ những quy định trên thì hành vi của anh C đã vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý, điều đáng nói ở đây là hành vi của anh C hoàn toàn không xuất phát từ mục đích muốn xâm phạm đến mồ mả mà chỉ nghĩ muốn di dời đi chổ khác để thực hiện mục đích xây dựng của mình và anh hoàn toàn không nghĩ đó là vi phạm. Đó là một trong những bài học cảnh báo đối với tất cả mọi người, trước khi làm một việc gì chúng ta cần nên tham khảo, cũng như tìm hiểu những quy định pháp luật về vấn đề đó, không nên làm theo suy nghĩ chủ quan của mình để tránh những hậu quả không mong muốn có thể xảy ra, đồng thời gây mất hòa khí trong gia đình, dòng họ.

11/01/2019 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/11/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/11/2015

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 421/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Nỉ, địa chỉ thường trú tại: ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 2.426,4 m2 (trong đó: 113,0 m2 đất ở nông thôn, 200,0 m2 đất cơ sở sản xuất kinh doanh và 2.113,6 m2 đất nuôi trồng thủy sản).

- Thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 05.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 220201, số vào sổ CH 01242 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 12/9/2014.

2. Tài sản trên đất gồm: nhà ở, nhà tiền chế, kho, vật tư thiết bị xăng dầu (trụ bơm, bồn chứa nguyên liệu 3m3)

- Tài sản tọa lạc: xã ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, Bến Tre.

* Lưu ý: Tài sản bán chung quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.

          - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Nỉ do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Bình Đại xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

          - Giá khởi điểm tài sản bán đấu giá: 1.171.701.813 đ (Một tỷ, một trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ một ngàn, tám trăm mười ba đồng).

Thời gian xem, kham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/11/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2015 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 31/12/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 447/2015

Tài sản thanh lý hai Đài nước của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn như sau:

1. Đài nước + khung hàng rào P40 tại nhà máy Bảo Thuận, xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri ước khối lượng 2 tấn (2.000kg), đơn giá 2.500đ/kg.

2. Đài nước + khung hàng rào P40 tại nhà máy Hưng Nhượng, xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm ước khối lượng 0,5 tấn (500kg), đơn giá 2.500đ/kg.

* Lưu ý: Bán đấu giá thành khi bàn giao sẽ tiến hành cân thực tế nếu tài sản tăng hơn 2.500kg thì người mua sẽ nộp thêm tiền cho Trung tâm trên giá trị bán đấu giá thành, còn nếu giảm hơn 2.500kg thì Trung tâm sẽ hoàn trả số tiền cho khách hàng.

- Tài sản tọa lạc: tại xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri và xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

        - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 6.250.000đồng (Sáu triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

        * Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ.

        * Khoản tiền đặt trước: 900.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/11/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/12/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 08/12/2015 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 444/2015

Tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 02 lô xe môtô 02 bánh các loại. Cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 79 (bảy mươi chín) chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng được phép đăng ký lại, giá khởi điểm: 94.800.000đ (Chín mươi bốn triệu, tám trăm ngàn đồng).

2. Lô số 02: gồm 31 (ba mươi mốt) chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng phế liệu, giá khởi điểm: 18.600.000đ (Mười tám triệu, sáu trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô (có bảng kê chi tiết kèmtheo). Đối với xe bán dạng phế liệu bán đấu giá thành, khi người trúng đấu giá nhận xe phải thực hiện việc cắt sườn, đục bỏ số máy, số khung.

- Tài sản tọa lạc tại: Kho Đội Cảnh sát Giao thông - Công an huyện Mỏ Cày Nam.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Công an huyện Mỏ Cày Nam bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 113.400.000 đ (Một trăm mười ba triệu, bốn trăm ngàn đồng).

Thời gian xem, kham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/11/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/12/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 08/12/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ (lô số 01); 50.000 đ/hồ sơ (lô số 02).

* Tiền đặt trước: 14.000.000 đồng/hồ sơ (lô số 01); 2.500.000 đ/hồ sơ (lô dố 02)

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083

01/12/2015 4:00 CHĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016

Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có hơn 40 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 huyện, thành phố và một số công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Các đại biểu đã thảo luận, góp ý cho dự thảo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2016, dự thảo Kế hoạch phát động phong trào thi đua năm 2016 và 03 tham luận của Phòng Tư pháp với nội dung xoay quanh các vấn đề nổi bật của công tác tư pháp như: Công tác triển khai thi hành Luật Hộ tịch; giải pháp nâng cao tỷ lệ hòa giải thành và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại địa phương.

tong-ket-nganh4.gif

Tại Hội nghị, Giám đốc Sở Tư pháp trao Giấy khen cho 03 tập thể Phòng Tư pháp và 09 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2015. Ngoài ra, Sở Tư pháp còn tổ chức trao Giấy khen của Ban Tổ chức Trung ương cho cho 01 cá nhân đạt giải khuyến khích vòng chung khảo cuộc thi viết "Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

tong-ket-nganh3.gif

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu trong năm 2016, ngành Tư pháp cần quan tâm triển khai 06 nhóm nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện các văn bản do Trung ương và tỉnh ban hành có liên quan đến phong trào thi đua "Nông thôn mới", "Đồng Khởi mới", "Cải cách hành chính", hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X trên lĩnh vực do Ngành phụ trách với phương châm "Dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, năng động, đổi mới", gắn với thực hiện phong trào thi đua "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", tiếp tục phát động sâu rộng trong cán bộ, công chức bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng.

Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là nâng vị thế của cơ quan tư pháp trong công tác thẩm định. Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính; tăng cường rà soát, kiến nghị đơn giản hóa thủ tục hành chính còn rườm rà, bất cập. Tiếp tục triển khai thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật đảm bảo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác xử lý vi phạm hành chính của địa phương tích hợp với cơ sở dữ liệu của Trung ương.

tong-ket-nganh1.gif

Thứ ba, Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải ở cơ sở, các đề án, chương trình, kế hoạch công tác PBGDPL, đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vào chiều sâu thực chất; nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở, phấn đấu tỷ lệ hòa giải thành năm sau cao hơn năm trước; tiếp tục phối hợp xây dựng và thực hiện quy ước ấp, khu phố, xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở.

tong-ket-nganh2.gif

Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động hành chính tư pháp, nhất là công tác hộ tịch ở cơ sở; triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hộ tịch, việc liên thông các thủ tục hành chính trong đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi. Tập trung chuẩn bị tổng kết 05 năm thực hiện Luật Nuôi con nuôi, 05 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ năm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về luật sư; chú trọng phát triển đội ngũ giám định viên tư pháp; củng cố kiện toàn các tổ chức hành nghề công chứng và chuyển đổi loại hình hoạt động công chứng; tăng cường đội ngũ đấu giá viên của tỉnh; tổ chức thực hiện công tác trợ giúp pháp lý đi vào chiều sâu, hiệu quả; thực hiện tốt các bước triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý theo từng giai đoạn.

Thứ sáu, tập trung kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, đảm bảo tinh gọn, hợp lý theo Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 16/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; tập trung thanh, kiểm tra về nghiệp vụ chuyên ngành.

05/01/2016 9:00 SAĐã ban hành
Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?Có được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  sau khi đã ly hôn không?

Vợ chồng chung sống với nhau là tình nghĩa, là trách nhiệm, là cùng nhau vun đấp, xây dựng cho tổ ấm hạnh phúc của mình. Vợ chồng cùng nhau chăm lo cho gia đình và tạo ra của cải, vật chất để phục vụ đời sống gia đình và ai cũng mong ước gia đình mình luôn được vui vẽ, hạnh phúc, kinh tế được vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng êm đẹp, mọi việc luôn thuận lợi, khi bước vào đời sống hôn nhân, ai cũng mong muốn hạnh phúc nhưng không phải ai cũng đạt được và có những trường hợp vì lý do nào đó vợ chồng dẫn đến việc chia tay, có người chia tay trong êm đẹp, nhưng cũng có người chia tay trong mâu thuẫn, tranh cãi và tranh giành một cách gay  gắt, hầu hết những trường hợp chia tay mang tính "ầm ĩ" ấy là có liên quan về tài sản.

Có trường hợp, tại thời điểm ly hôn có tranh chấp với nhau về tài sản, nhưng cũng có trường hợp khi ly hôn, chỉ yêu cầu giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết về tài sản mặc dù có tài sản chung. Đối với trường hợp này, một số cặp vợ chồng vì muốn ly hôn nhanh nên muốn giải quyết việc hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết tài sản để tránh tình trạng kéo dài, một số cặp vợ chồng vì lý do thỏa thuận được vấn đề về tài sản nên không yêu cầu giải quyết nhưng sau khi đã ly hôn thì phần lớn các cặp vợ chồng lại không thỏa thuận được, hoặc một bên không thực hiện những thỏa thuận ban đầu về việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng ly hôn, trước đây thỏa thuận được về việc phân chia tài sản là đất đai, nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi đã ly hôn thì không thỏa thuận được và tài sản trên vẫn là tài sản chung do chồng hoặc vợ đứng tên. Một số người không hiểu quy định pháp luật nên cho rằng khi ly hôn không yêu cầu chia thì ly hôn xong rồi không có quyền yêu cầu giải quyết; hoặc một bên vợ hoặc chồng đứng tên thì tài sản thuộc về người đó, không thể chia được là một ví dụ.

Theo quy định tại hhoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn thuộc một trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, khi có tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn, các bên vợ hoặc chồng đều có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân năm 2014 và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Song song đó, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình cũng đã quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều như: Điều 60 quy định về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn; Điều 61 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình; Điều 62 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn; Điều 63 quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn và Điều 64 quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 như đã nêu trên của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối với vấn đề chia tài sản là quyền sử dụng đất thì Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.

Từ những quy định pháp luật đã nên trên, thì việc chia tài sản khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều có thể thực hiện được, vì tùy từng thời điểm phát sinh tranh chấp mà vợ, chồng hoặc các bên vợ hoặc chồng có yêu cầu giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, và sẽ được cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và các luật khác có liên quan. Do đó, việc cho rằng tài sản do ai đứng tên sẽ thuộc về người đó và sau khi đã ly hôn, nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng thì sẽ không được giải quyết, đó hoàn toàn là những quan điểm chưa đúng, người dân cần suy nghĩ kỹ trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng đặc biệt là đối với hôn nhân, đồng thời cũng cần tìm hiểu thêm những quy định pháp luật để làm đúng, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh tình trạng hiểu sai lệch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bản thân.

30/12/2019 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 21/8/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 21/8/2013

THÔNG BÁO Số 662

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Phan Văn Hậu và bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền, hiện cư ngụ tại: 586/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất thuộc tờ bản đồ số 7:

- Diện tích: 2.187,8 m2 thửa số 372 và 1.855,5 m2 thửa số 342;

- Loại đất: LNC;

b) Cây trồng trên đất gồm: cây chuối, mận, nhản, chôm chôm, dâu, dừa, cam sành, xoài, tắt, măng cục và một số cây tạp khác không có giá trị kinh tế.

- Tài sản (a+b) toạ lạc tại: xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Phan Văn Hậu và bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 313.760.000đ (ba trăm mười ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 26/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 03/10/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 663

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở của ông Phan Văn Hậu và bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền, hiện cư ngụ tại: 586/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 243,3 m2 ;

- Loại đất: ODT + CLN;

- Thuộc tờ bản đồ 15-2, thửa số 304+306+343;

b) Nhà ở:

- Nhà chính: 2 tầng, diện tích 124,6 m2, nền gạch men, vách tường, khung cột bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà phụ: Diện tích 136,13 m2, nền gạch men, vách tường, khung cột bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái tole.

- Tài sản (a+b) toạ lạc tại: ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở của ông Phan Văn Hậu và bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 2.425.000.000đ (hai tỷ bốn trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 26/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 03/10/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 150.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 670

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm, địa chỉ: 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1) Về đất:

- Diện tích đất: 90 m2;

- Loại đất: 79 m2 đất ở tại nông thôn và 11 m2 đất cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 11, thửa 410;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB 073094 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 31/12/2004

2) Tài sản gắn liền trên đất:

Nhà ở: nhà cấp 4, xây dựng năm 2003. Kết cấu: móng cột đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40x40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch 10 cm, đòn tay gỗ, trần nhựa, mái tole sóng vuông. Cửa đi khung sắt + kính 04 cánh

- Tài sản tọa lạc tại: 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm do Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn - Chi nhánh thành phố Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 330.710.000 đ (Ba trăm ba mươi triệu bảy trăm mười ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 03/10/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 16.000.000đ/hồ sơ


THÔNG BÁO Số 664

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng (cống thoát nước) của ông Đặng Hoàng Giang và bà Phạm Thị Mỹ, hiện cư ngụ tại: ấp An Bình, xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích đất: 12.845,2 m2 ;

- Loại đất: Lúa;

- Tờ bản đồ số 02, một phần thửa số 33 (sau khi đo đạc có số thửa mới là 21, tờ bản đồ số 01).

- Giá khởi điểm: 523.594.819đ (năm trăm hai mươi ba triệu năm trăm chín mươi bốn ngàn tám trăm mười chín đồng).

b) Công trình xây dựng (cống thoát nước) có giá khởi điểm: 3.000.000đ (ba triệu đồng).

- Tài sản toạ lạc tại: ấp An Bình, xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng (cống thoát nước) của ông Đặng Hoàng Giang và bà Phạm Thị Mỹ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 526.600.000đ (năm trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ /01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 26/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 03/10/2013 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre


THÔNG BÁO Số 665

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Phỉ và bà Nguyễn Thị Nô, hiện cư ngụ tại: ấp 1A, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Thửa số 215, tờ bản đồ số 11

- Diện tích: 8.000,4 m2;

- Loại đất: NTS;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp 1A, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Phỉ và bà Nguyễn Thị Nô, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 202.410.000đ (hai trăm lẻ hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ /01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 26/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 03/10/2013 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre


THÔNG BÁO Số 669

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Minh, bà Nguyễn Thị Nĩ, địa chí: ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre và ông Lê Hữu Trí, địa chỉ: ấp Bình Huề 2, xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Việt), tài sản có đặc điểm sau:

I) Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của bà Nguyễn Thị Nĩ

1) Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ 05, thửa 153

a) Về đất:

- Diện tích đất: 20.119 m2 ( trong đó: 113 m2 đất ở nông thôn, 200 m2 đất cơ sở sản xuất kinh doanh, 19.806 m2 đất nuôi trồng thủy sản);

b) Tài sản gắn liền trên đất: trạm kinh doanh xăng, dầu (mái che, trụ bơm, bồn chứa)

- Tài sản tọa lạc: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Giá khởi điểm (I.1): 3.475.364.400 đ (Ba tỷ bốn trăm bảy mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL455163, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HM 00043 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 26/9/2008

2) Về đất thuộc tờ bản đồ 01, thửa 359

- Diện tích đất: 5.525 m2, loại đất: lúa;

- Tài sản tọa lạc: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Giá khởi điểm (I.2): 198.900.000 đ (Một trăm chín mươi tám triệu chín trăm ngàn đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H610365, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 165do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 10/9/1996

3) Về đất của hộ bà Nguyễn Thị Nĩ

a) Về đất thuộc tờ bản đồ 01, thửa 323

- Diện tích đất: 2.875 m2, loại đất: lúa;

- Giá khởi điểm (I.3.a): 103.500.000 đ (Một trăm lẻ ba triệu năm trăm ngàn đồng)

- Tài sản tọa lạc: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số X152146, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02418 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 03/7/2003

b) Về đất thuộc tờ bản đồ 01, thửa 1611

- Diện tích đất: 3.125 m2, loại đất: lúa;

- Giá khởi điểm (I.3.b): 112.500.000 đ (Một trăm mười hai triệu năm trăm ngàn đồng)

- Tài sản tọa lạc: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số P553648, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất QSDĐ/45/QĐ-UB do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 10/3/2000

II) Quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Hữu Trí

- Diện tích đất: 50.557,3 m2, loại đất: ao(hồ);

- Thuộc tờ bản đồ 01, thửa 926

- Giá khởi điểm (II): 455.013.000 đ (Bốn trăm năm mươi lăm triệu không trăm mười ba ngàn đồng)

- Tài sản tọa lạc: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Y067980, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00526 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 13/01/2004

III) Quyền sử dụng đất và tài sản trên đấtcủa ông Nguyễn Văn Minh

1) Về đất thuộc tờ bản đồ 01, thửa 302, 303

a) Về đất:

- Diện tích đất: 1.125 m2, loại đất: 300 m2 đất thổ cư, 825 m2 đất lâu năm khác;

b) Tài sản gắn liền trên đất: nhà ở

- Nhà chính: diện tích 92,4 m2, kết cấu: nền gạch cetamic, vách tường, cột bêtông cốt thép, mái bêtông cốt thép

- Nhà phụ: diện tích 122 m2, kết cấu: nền gạch cetamic, vách tường, cột bêtông cốt thép, mái tol, trần ván ép

- Giá khởi điểm (III.1): 400.741.200 đ (Bốn trăm triệu bảy trăm bốn mươi mốt ngàn hai trăm đồng)

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số I361008, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 374 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 10/9/1996

2) Về đất thuộc tờ bản đồ 01, thửa 281

- Diện tích đất: 13.355m2;

- Loại đất: lúa;

- Giá khởi điểm (III.2): 480.780.000 đ (Bốn trăm tám mươi triệu bảy trăm tám mươi ngàn ngàn đồng)

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431822, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 00335do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 27/6/2005

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Minh, bà Nguyễn Thị Nĩ và ông Lê Hữu Trí (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Việt) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển VN - Chi nhánh Bến Tre – PGD Bình Đại xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (I+II+III): 5.226.798.600 đ (Năm tỷ hai trăm hai mươi sáu triệubảy trăm chín mươi tám ngàn sáu trăm đồng)

* Tài sản bán theo nhu cầu người sử dụng

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ ngày 03/10/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ ( tài sản I.1), 200.000 đ/hồ sơ (tài sản I.2) (tài sản (I.3.a) (tài sản I.3.b) (tài sản III.1), tài sản II) (tài sản III.2);

* Khoản tiền đặt trước: 170.000.000đ/hồ sơ (tài sản I.1), 10.000.000 đ/hồ sơ (tài sản I.2), 5.000.000 đ/hồ sơ (tài sản I.3.a), 6.000.000 đ/hồ sơ (tài sản I.3.b), 22.000.000 đ/hồ sơ (tài sản II), 20.000.000 đ/hồ sơ (tài sản III.1), 24.000.000 đ/hồ sơ (tài sản III.2);

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667, fax số : 075-3512080 và website: sotuphap.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

10/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số giải pháp triển khai thực hiện Chương trình hành động vì trẻ em năm 2014Một số giải pháp triển khai thực hiện Chương trình hành động vì trẻ em năm 2014
Để xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em. Từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ em vùng nông thôn và thành thị, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội cho mọi trẻ em phát triển bình đẳng; cần tập trung triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

Để xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em. Từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ em vùng nông thôn và thành thị, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội cho mọi trẻ em phát triển bình đẳng; cần tập trung triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

Về mục tiêu, chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng cho trẻ em, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 22,8% năm 2014; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân dưới 5 tuổi xuống dưới 12,8% năm 2014. Duy trì 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc bác sỹ sản nhi năm 2014.

Về giáo dục trẻ em, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em dưới 5 tuổi, năm 2014 có 8,5 trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 75% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở cấp tiểu học là 94% và ở cấp trung học cơ sở là 96%.

Mục tiêu bảo vệ trẻ em, giảm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống dưới 6% tổng số trẻ em; tăng tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển lên 75%; số trẻ em bị bạo lực giảm 25%; giảm tỷ lệ trẻ em bị tai nạn, thương tích xuống 650/100.000 trẻ em; giảm trẻ em bị xâm hại tình dục 10% năm 2014.

Về vui chơi, giải trí giành cho trẻ em, phấn đấu đạt 50% tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em năm 2014.

Quyền tham gia của trẻ em, tăng tỷ lệ trẻ em tham gia diễn đàn trẻ em các cấp lên 20/100.000 trẻ em năm 2014.

Đối tượng, là trẻ em dưới 16 tuổi, ưu tiên trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Tổ chức các hoạt động tuyền thông, giáo dục, vận động xã hội để nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi thực hiện quyền trẻ em trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh các huyện, thành phố; các xã, phường, thị trấn để mọi người thấy được tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; thông qua các đợt cao điểm Tháng hành động vì trẻ em, Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường, Ngày vì chất dinh dưỡng trẻ em, Diễn đàn quyền trẻ em…; tổ chức các cuộc hội thi, hội thao, các trò chơi dân gian để các em tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí phù hợp với từng lứa tuổi, giới tính; phát triển các hoạt động tư vấn, hỗ trợ; từng bước kiện toàn, phát triển mạng lưới tuyên truyền giáo dục, tư vấn bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp.

Xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Thực hiện chính sách liên quan đến cộng tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và thực hiện quyền trẻ em trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội; tổ chức triển khai thực hiện việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em theo Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế giai đoạn 2012-2015, nhằm nâng cao nhận thức, thực hành dinh dưỡng hợp lý, cải thiện tình trạng dinh dưỡng dưới 5 tuổi, đặc biệt giảm suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi, góp phần cải thiện thể chất, nâng cao tầm vóc trẻ em; thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em theo quy định; đồng thời đưa công tác  giáo dục về chăm sóc  sức khỏe sinh sản cho trẻ tuổi vị thành niên, đặc biệt quan tâm trẻ em vùng sâu, vùng xa.

Tạo điều kiện cho mọi trẻ em được đi học, giữ vững phong trào xóa mù chữ và phổ cập giáo dục đúng độ tuổi; tạo mọi điều kiện để trẻ em được hưởng thụ văn hóa, phát triển trí tuệ, trao dồi đạo đức, rèn luyện thâm thể, vui chơi giải trí lành mạnh, tiếp cận với các loại hình trò chơi giải trí phù hợp với lứa tuổi, hưởng các dịch vụ văn hóa lành mạnh, giúp các em phát triển toàn diện năng khiếu của mình ngay khi còn ở tuổi thiếu niên; chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tập trung thực hiện tốt chính sách dành cho trẻ em mồ côi, trẻ em tàn tật, trẻ em bị nhiễm HIV, trẻ em con gia đình nghèo đơn thâm nuôi con nhỏ, trẻ em được nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội và trẻ em vùng sâu, vùng xa.

Tăng cường công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực dành cho hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phát động phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” nhằm thúc đẩy các tầng lớp nhân dân có trách nhiệm tham gia xây dựng môi trường an toàn, lành nạnh và thân thiện trẻ em. Tăng cường phối hợp giữa gia đình, nhà trường, các đoàn thể và xã hội tham gia thực hiện tốt các quyền trẻ em, tạo mọi điều kiện cho trẻ em được học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí; tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho trẻ em chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và các hoạt động xã hội khác phù hợp với lứa tuổi; củng cố Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp; khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động và công trình dành cho trẻ em; đặc biệt là công trình, dự án trợ giúp trẻ em mồ côi, khuyết tật dựa vào cộng đồng.

25/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015Bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành nhằm thể chế chiến lược cải cách tư pháp, đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng dân sự theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo đảm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn để giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng kịp thời.  Theo đó, nhằm thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, đồng thời cụ thể hóa "nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" đã được Hiến pháp năm 2013 quy định, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nguyên tắc "Bảo đảm tranh tụng trong xét xử". Nội dung của nguyên tắc này có những điểm chủ yếu như sau:

Việc tranh tụng được bảo đảm thực hiện từ khi khởi kiện thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án; đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, đặc biệt là quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong các trường hợp xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ.

Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này. Đương sự phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu không thực hiện các nghĩa vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa các chứng cứ của vụ án phải được công khai trừ trường hợp không được công khai định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Tòa án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai). Các đương sự đều có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ.

 Trong quá trình, giải quyết, xét xử mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, Tòa án điều hành việc tranh tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử phải bảo đảm các đương sự thực hiện việc tranh tụng, chỉ hỏi những vấn đề mà người tham gia tố tụng trình bày chưa rõ, trong trường hợp cần thiết phải có thời gian thu thập thêm chứng cứ để đủ cơ sở giải quyết vụ án thì tạm ngừng phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
1 - 30Tiếp
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn