Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksThông tin cần biết

 
Thông tin cần biết - Thông báo của Sở
​Quyết định số 155/QĐ-STP ngày 16/12/2019 của Sở Tư pháp 
 
​Mời Quý bạn đọc Bản tin Tư pháp Bến Tre cùng tham gia Cuộc thi sáng tác tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về lao động năm 2019 với nội dung cụ thể như sau:1. Đối tượng dự thiMọi công dân Việt Nam trừ thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, thành viên Tổ Thư ký giúp việc cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo của cuộc thi không được tham gia dự thi.2. Chủ đề sáng tácTiểu phẩm sáng tác có nội dung tuyên ... 
 
​Quyết định số 124/QĐ-STP ngày 07/11/2019 của Giám đốc Sở Tư pháp 
 
​Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh thông báo tuyển dụng viên chức năm 2019 như sau:1. Nhu cầu tuyển dụng: 01 viên chức hành chính thực hiện nhiệm vụ Kế toán. 2. Điều kiện và tiêu chuẩn dự tuyển:- Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đơn đăng ký dự tuyển và có lý lịch rõ ràng. Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ;- Có bằng Cử nhân Kế toán, chứng chỉ... 
 
Công văn số 1026/STP-BTTP ngày 30/7/2019 của Sở Tư pháp v/v Cung cấp thông tin nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản1026.signed.pdf 
 
​Công văn số 1027/STP-BTTP ngày 30/7/2019 của Sở Tư pháp v/v Báo cáo danh sách tổ chức đấu giá tài sản, chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản1027.signed.pdf 
 
​Quyết định thu hồi giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng Luật sư Đặng Phúc 
 
​Thông báo nhập học lớp đào tạo nghề công chứng năm 2019 tại tỉnh Bến TreThong bao 724 cua STP.pdf 
 
​Quyết định thu hồi thẻ công chứng viên của bà Lê Thị Thanh Trang 
 
​Quyết định thu hồi thẻ công chứng viên của ông Nguyễn Văn Tứ 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Cuộc thi sáng tác tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về lao động năm 2019Cuộc thi sáng tác tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về lao động năm 2019

Mời Quý bạn đọc Bản tin Tư pháp Bến Tre cùng tham gia Cuộc thi sáng tác tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về lao động năm 2019 với nội dung cụ thể như sau:

1. Đối tượng dự thi

Mọi công dân Việt Nam trừ thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, thành viên Tổ Thư ký giúp việc cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo của cuộc thi không được tham gia dự thi.

2. Chủ đề sáng tác

Tiểu phẩm sáng tác có nội dung tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về lao động, giáo dục ý thức chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật lao động và các văn bản có liên quan. Trong đó, chú trọng nêu gương, khen thưởng tổ chức, cá nhân thực hiện pháp luật về lao động, đồng thời phản ánh, phê phán những hành vi vi phạm pháp luật về lao động...

3. Hình thức dự thi

- Mỗi cá nhân được gửi tối đa 02 tiểu phẩm sáng tác dự thi.

- Mỗi tiểu phẩm sáng tác có thời lượng dự kiến biểu diễn từ 12 - 15 phút trên sân khấu.

- Tiểu phẩm sáng tác phải chưa gửi tham gia các cuộc thi nào khác. Ban Tổ chức cuộc thi sẽ thu hồi giải thưởng khi phát hiện có vi phạm bản quyền theo quy định của pháp luật.

- Tiểu phẩm đạt giải sẽ được sử dụng rộng rãi để phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lao động trên toàn tỉnh.

4. Thời gian, địa chỉ nhận bài dự thi

- Từ nay đến hết ngày 15 tháng 12 năm 2019

- Tiểu phẩm sáng tác có thể gửi trực tiếp, gửi qua đường bưu điện (bản giấy) hoặc qua qua email (kèm theo file word) về địa chỉ: Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp - Số 17, Cách mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc email: gdpl.stp@bentre.gov.vn

Riêng đối với tiểu phẩm sáng tác được gửi qua đường bưu điện, Ban Tổ chức sẽ tính thời gian theo dấu bưu điện.

5. Cơ cấu giải thưởng

- 01 giải nhất: 2.500.000 đồng.

- 02 giải nhì: 2.000.000 đồng/giải;

- 03 giải ba: 1.500.000 đồng/giải;

- 05 giải khuyến khích: 1.000.000 đồng/giải.

BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

02/12/2019 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của bà Lê Thị Thanh TrangThông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của bà Lê Thị Thanh Trang
06/05/2019 5:00 CHĐã ban hành
Quy định chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường, giám định tư pháp trên địa bàn  tỉnh Bến TreQuy định chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường, giám định tư pháp trên địa bàn  tỉnh Bến Tre

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND về việc Quy định chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường, giám định tư pháp trên địa bàn  tỉnh Bến Tre.

Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND áp dụng cho các đối tượng bao gồm: Các cơ sở ngoài công lập được thành lập và có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực xã hội hóa; Các tổ chức, cá nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có các dự án đầu tư, liên doanh, liên kết hoặc thành lập các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực xã hội hóa có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Các cơ sở sự nghiệp công lập thực hiện góp vốn, huy động vốn, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật thành lập các cơ sở hạch toán độc lập hoặc doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xã hội hóa theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều kiện được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa:

Để được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa, dự án xã hội hóa phải đáp ứng đủ các điều kiện như sau:

Dự án phải thuộc danh mục các loại hình và đáp ứng các tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn được quy định tại Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Quyết định số 693/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Quyết định số 1470/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.

Dự án phải phù hợp với quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, kế hoạch sử dụng đất hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư theo quy định.

Cơ sở thực hiện xã hội hóa phải đảm bảo thực hiện đúng tiến độ, quy mô theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa đúng mục đích, có hiệu quả.

Các chính sách ưu đãi:

Thứ nhất, hỗ trợ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng:

Nhà nước hỗ trợ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng cho cơ sở thực hiện dự án xã hội hóa đủ điều kiện theo Quyết định này như sau:

Dự án thực hiện trên địa bàn thành phố Bến Tre: ngân sách Nhà nước 50%, nhà đầu tư đóng góp 50% để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Dự án thực hiện trên các địa bàn còn lại: ngân sách Nhà nước 70%, nhà đầu tư đóng góp 30% để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Trường hợp cơ sở thực hiện dự án xã hội hóa ứng trước 100% tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng thì sẽ được hoàn trả phần ngân sách Nhà nước đóng góp để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng trong thời gian tối đa không quá 5 năm kể từ thời điểm hoàn thành giải phóng mặt bằng. Đồng thời được hỗ trợ phần lãi suất vay đối với phần ngân sách Nhà nước đóng góp tương ứng với thời gian hoàn trả chi phí mà cơ sở thực hiện dự án xã hội hóa đã ứng trước để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Trường hợp dự án xã hội hóa nằm trên địa bàn liên huyện (thành phố) thì mức đóng góp của nhà đầu tư được tính theo diện tích địa bàn của từng huyện (thành phố).

Kinh phí do nhà đầu tư đóng góp để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng được tính vào vốn đầu tư của dự án.

Thứ hai, ưu đãi hỗ trợ lãi suất vay

Dự án xã hội hóa đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 của Quyết định này vay vốn từ các Ngân hàng thương mại của tỉnh được hỗ trợ lãi suất vay vốn với mức hỗ trợ, thời hạn và phương thức hỗ trợ như sau:

Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay là 5%/năm tính trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế. Trong đó, mức vốn vay được hỗ trợ lãi suất bằng với mức cho vay thực tế của ngân hàng thương mại nhưng tối đa không vượt quá 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động).

Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa (tính từ ngày giải ngân lần đầu theo hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại):

Năm (05) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn thành phố Bến Tre.

Bảy (07) năm đối với dự án đầu tư tại đầu tư tại địa bàn còn lại.

Phương thức hỗ trợ: Hỗ trợ lần đầu ngay sau khi dự án hoàn thành, đi vào hoạt động và hỗ trợ hàng năm trong những năm tiếp theo cho đến hết thời hạn được hỗ trợ theo quy định hoặc chấm dức hợp đồng tín dụng. Chỉ hỗ trợ ưu đãi lãi suất đối với phần lãi vay thanh toán đúng hạn.

Thứ ba, ngoài chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư được hưởng theo Quyết định này còn được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác theo quy định tại Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành quy định chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2019./.

Bùi Ngân

 

19/04/2019 3:00 CHĐã ban hành
Những nội dung cần lưu ý gì khi Luật An ninh mạng có hiệu lựcNhững nội dung cần lưu ý gì khi Luật An ninh mạng có hiệu lực

Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Luật An ninh mạng quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, bao gồm nội dung cần lưu ý như sau:

Thứ nhất: Các hành vi bị cấm về an ninh mạng

- Hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội bao gồm:

Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;

Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

- Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

- Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống  xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.

- Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

- Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích   hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

- Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

Thứ hai: Hành vi gián điệp mạng; xâm phạm bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng bao gồm:

- Chiếm đoạt, mua bán, thu giữ, cố ý làm lộ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống   riêng tư gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Cố ý xóa, làm hư hỏng, thất lạc, thay đổi thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư được truyền đưa, lưu trữ trên không gian mạng;

- Cố ý thay đổi, hủy bỏ hoặc làm vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật được xây dựng, áp dụng để bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư;

- Đưa lên không gian mạng những thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trái quy định của pháp luật;

- Cố ý nghe, ghi âm, ghi hình trái phép các cuộc đàm thoại;

- Hành vi khác cố ý xâm phạm bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư.

Các hành vi vi phạm này sẽ được cơ quan chủ quản hệ thống thông tin triển khai các biện pháp kỹ thuật để phát hiện, ngăn chặn và kịp thời gỡ bỏ thông tin. Do đó, người dùng facebook cũng cần lưu ý thêm thông tin này khi đăng tải các bài viết, hình ảnh.

Thứ ba: Đăng tải thông tin vi phạm phải gỡ bỏ ngay khi có yêu cầu

Theo khoản 9 Điều 16 của Luật An ninh mạng 2018 quy định, tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung vi phạm phải gỡ bỏ thông tin khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và chịu trách nhiệm theo quy định.

Thứ 4: Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng

Luật An ninh mạng dành riêng Điều 29 để quy định về việc bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Theo đó, trẻ em có quyền được giữ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác khi tham gia trên không gian mạng và những người tham gia mạng xã hội nói chung và cha, mẹ trẻ em nói riêng cần phải đảm bảo quyền nêu trên của trẻ em, ngăn chặn các thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em.

15/01/2019 10:00 SAĐã ban hành
Bảo vệ người tố cáoBảo vệ người tố cáo

Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua Luật Tố cáo. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019, thay thế Luật Tố cáo năm 2011. Một trong những nội dung quan trọng của Luật là quy định về bảo vệ người tố cáo. Việc bảo vệ người tố cáo nhằm bảo vệ, khuyến khích, động viên người dân dũng cảm đấu tranh chống lại các hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Hơn nữa bảo vệ ngừoi tố cáo là trách nhiệm của Nhà nước, là sự thể hiện cụ thể và sinh động bản chất của Nhà nước ta của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,

          Theo đó, người được bảo vệ, bao gồm: Người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo.

          Phạm vi bảo vệ, bao gồm: Bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ.

Người được bảo vệ có các quyền sau đây: Được biết về các biện pháp bảo vệ; được giải thích về quyền và nghĩa vụ khi được áp dụng biện pháp bảo vệ; đề nghị thay đổi, bổ sung, chấm dứt việc áp dụng biện pháp bảo vệ; từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ; được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp người tố cáo đã đề nghị người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ mà không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tinh thần cho người được bảo vệ.

Người được bảo vệ có các nghĩa vụ sau đây: Chấp hành nghiêm chỉnh yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ; giữ bí mật thông tin về việc được bảo vệ; thông báo kịp thời đến cơ quan áp dụng biện pháp bảo vệ về những vấn đề phát sinh trong thời gian được bảo vệ.

Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ: Luật giao trách nhiệm trước hết là người giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ thuộc quyền quản lý và những nội dung bảo vệ khác nếu thuộc thẩm quyền của mình; trường hợp không thuộc thẩm quyền thì yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ. Cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo.Cơ quan Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ. Cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, lao động, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ. Ủy ban nhân dân các cấp, Công đoàn các cấp, cơ quan, tổ chức khác, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ thực hiện việc bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ.

Luật Tố cáo quy định các biện pháp bảo vệ gồm: Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin; biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm và biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm.

Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp sau đây: Giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp; lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo; bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo.

Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức bao gồm: Tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ; khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

Biện pháp bảo vệ việc làm của người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động bao gồm: Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm: Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn. Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết. Áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ theo quy định của pháp luật.Yêu cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm. Biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Luật Tố cáo quy định cụ thể về trình tự, thủ tục bảo vệ: Luật quy định về việc đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ; cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ; thay đổi bổ sung việc áp dụng biện pháp bảo vệ nếu xét thấy cần thiết hoặc trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của người được bảo vệ; chấp dứt việc áp dụng biện pháp bảo vệ.

26/12/2018 3:00 CHĐã ban hành
Quy định các trường hợp không tổ chức cuộc họpQuy định các trường hợp không tổ chức cuộc họp

Ngày 09/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 45/2018/QĐ-TTg quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính Nhà nước.

Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg gồm có 6 Chương với 35 Điều, quy định về chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước; các cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ và những quy định về nguyên tắc, quy trình tổ chức cuộc họp được quy định tại Quyết định này. Quyết định này không điều chỉnh đối với Phiên họp Chính phủ, phiên họp của Ủy ban nhân dân các cấp, cuộc họp tiếp công dân, cuộc họp của cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán với cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước, họp báo, họp quốc tế, hội thảo, tọa đàm khoa học.

Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg đã quy định cụ thể một số nội dung về chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính Nhà nước, bao gồm một số quy định nổi bật, cần được quan tâm, nhất là nội dung quy định về các trường hợp không tổ chức cuộc họp, cụ thể là:

- Họp giải quyết các công việc thường xuyên trong tình hình có thiên tai hoặc tình trạng khẩn cấp;

- Họp giải quyết công việc đã được phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho thủ trưởng cơ quan hành chính cấp dưới giải quyết;

- Họp giải quyết công việc đã được pháp luật quy định giải quyết bằng các cách thức khác không phải thông qua cuộc họp;

- Họp nghe báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác của cấp dưới thay thế cho việc kiểm tra trực tiếp đối với cơ quan, đơn vị cấp dưới và cơ sở;

- Họp kết hợp với tham quan, giao lưu, nghỉ mát hoặc dùng hình thức họp để tổ chức vui chơi, giải trí cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Ngoài ra, Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg còn quy định cụ thể về thời gian tiến hành các cuộc họp như sau:

- Họp giao ban, họp giải quyết công việc, họp tham mưu, tư vấn, họp điều phối không quá một phần hai ngày làm việc;

- Họp chuyên môn từ một buổi làm việc đến 01 ngày, trường hợp những đề án, dự án lớn, phức tạp có thể kéo dài thời gian hơn;

- Họp sơ kết, tổng kết công tác không quá 01 ngày;

- Họp chuyên đề không quá 01 ngày tùy theo tính chất và nội dung của chuyên đề;

- Họp tập huấn, triển khai từ 01 đến 02 ngày.

Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 25/12/2018.

20/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Lê Duy Phúc HảiThông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Lê Duy Phúc Hải
20/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trúThông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
25/09/2018 3:00 CHĐã ban hành
Quy định về ngày thành lập, ngày truyền thống, ngày hưởng ứng của các bộ, ngành, địa phươngQuy định về ngày thành lập, ngày truyền thống, ngày hưởng ứng của các bộ, ngành, địa phương

Ngày 31/08/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 111/2018/NĐ-CP quy định về ngày thành lập, ngày truyền thống, ngày hưởng ứng của các bộ, ngành, địa phương. Nghị định này quy định điều kiện, thẩm quyền, trình tự công nhận ngày truyền thống của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức hoạt động kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống; điều kiện, yêu cầu tổ chức ngày hưởng ứng. Ngày truyền thống các Ban của Đảng và các ngành đã được quy định tại các văn bản pháp luật khác thì không áp dụng quy định về điều kiện, thẩm quyền, trình tự công nhận quy định tại Nghị định này, nhưng phải thực hiện các quy định về tổ chức hoạt động kỷ niệm tại Nghị định này.

Theo Nghị định số 111/2018/NĐ-CP ngày thành lập là ngày có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu sự ra đời bằng văn bản thành lập của cơ quan có thẩm quyền; ngày truyền thống là ngày đánh dấu một sự kiện đáng ghi nhớ, quá trình hình thành hoặc phát triển được ghi nhận, có tính kế thừa, liên tục; ngày hưởng ứng là ngày được xác định thời gian (ngày, giờ) cụ thể, tập trung vào một chủ đề nhất định để tổ chức các hoạt động nhằm kêu gọi cộng đồng hưởng ứng và thể hiện sự đồng tình ủng hộ bằng hành động; ngày tái lập là ngày đánh dấu sự thành lập lại bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền sau quá trình chia tách, sát nhập, giải thể.

 Nguyên tắc tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống: Các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, không phô trương, hình thức; Chỉ tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống khi có văn bản thành lập hoặc quyết định công nhận của cơ quan có thẩm quyền. Chỉ được tổ chức lễ kỷ niệm vào năm tròn, là năm có chữ số cuối cùng là “0”. Trường hợp bộ, ngành, cấp tỉnh đồng thời có ngày thành lập, ngày tái lập, ngày truyền thống thì chỉ được lựa chọn một trong các ngày trên để tổ chức kỷ niệm. Không tặng quà và tổ chức chiêu đãi trong các hoạt động kỷ niệm.

 Điều kiện công nhận ngày truyền thống: Có tài liệu lịch sử thể hiện ngày cụ thể đánh dấu bằng sự kiện đáng ghi nhớ; ngày diễn ra sự kiện đáng ghi nhớ phải cách thời điểm đề nghị công nhận ít nhất là 10 năm; có tính giáo dục truyền thống lịch sử và ý nghĩa đối với bộ, ngành, địa phương. Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận ngày truyền thống của bộ, ngành, cấp tỉnh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định hồ sơ công nhận ngày truyền thống.

Tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống: Năm tròn (là năm có chữ số cuối cùng là “0”): Bộ, ngành, cấp tỉnh tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm, trong đó xác định về thời gian, địa điểm, chương trình, thành phần của lễ kỷ niệm. Bộ trưởng, người đứng đầu ngành cơ quan trung ương phê duyệt kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm của bộ, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm của cấp tỉnh và tại địa phương. Năm khác (là năm có các chữ số cuối cùng còn lại): Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thi đua, hội thảo, tọa đàm và các hoạt động thiết thực khác kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống. Không tổ chức lễ kỷ niệm.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị được tổ chức ngày hưởng ứng khi đáp ứng một trong các điều kiện: Do Việt Nam tham gia các Điều ước quốc tế hoặc những sự kiện được cộng đồng quốc tế kêu gọi tham gia; chủ đề của ngày hưởng ứng có tính cần thiết, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương. Kế hoạch tổ chức ngày hưởng ứng phải thể hiện rõ quy mô, thời gian, địa điểm, hình thức, nội dung chương trình. Ngày hưởng ứng quy mô quốc gia do bộ quản lý ngành, lĩnh vực phê duyệt; ngày hưởng ứng quy mô cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

 Yêu cầu tổ chức ngày hưởng ứng: Bảo đảm thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả và sử dụng nguồn lực từ hoạt động xã hội hóa; chương trình tổng thể, nội dung, hình thức của các thông điệp tuyên truyền phải bảo đảm phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam; các sự kiện mít tinh, diễu hành, hội nghị, hội thảo và các hoạt động khác của ngày hưởng ứng phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường an toàn xã hội.

Đối với ngày thành lập, ngày truyền thống đã được các cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc quyết định trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì không phải thực hiện các trình tự, thủ tục để công nhận lại. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn những nội dung có tính chất đặc thù về nghi lễ đối với việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống của lực lượng vũ trang nhân dân. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2018. Bãi bỏ những nội dung quy định về tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống của các bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại Điều 17 Chương 4 Nghị định số 145/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại, đón tiếp khách nước ngoài.

13/09/2018 5:00 CHĐã ban hành
Quản lý và tổ chức lễ hộiQuản lý và tổ chức lễ hội

Ngày 29/8/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức lễ hội. Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân là người Việt Nam; tổ chức, cá nhân là người nước ngoài tham gia hoạt động lễ hội trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo Nghị định lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân; lễ hội văn hóa là hoạt động giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa, thể thao tiêu biểu, đặc sắc, tiềm năng du lịch về đất nước, con người Việt Nam; lễ hội ngành nghề là hoạt động quảng bá về đặc trưng, thế mạnh của các ngành nghề, tôn vinh các tổ chức, nghệ nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển ngành nghề; lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài là những hoạt động giới thiệu văn hóa, kinh tế, xã hội của nước ngoài với công chúng Việt Nam.

Về nguyên tắc tổ chức lễ hội: Việc tổ chức lễ hội nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh công lao các bậc tiền nhân, nhân vật lịch sử, những người có nhiều đóng góp trong quá trình hình thành, phát triển đất nước; tuyên truyền giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc của di tích, truyền thống tốt đẹp của lễ hội. Lễ hội phải được tổ chức trang trọng, thiết thực, hiệu quả; phù hợp với quy mô, nội dung của lễ hội; tổ chức lễ hội truyền thống theo đúng bản chất, ý nghĩa lịch sử văn hóa; giảm tần suất, thời gian tổ chức lễ hội văn hóa. Nghi lễ của lễ hội phải trang nghiêm, bảo đảm truyền thống; không thực hiện nghi lễ có tính bạo lực, phản cảm, trái với truyền thống yêu hòa bình, nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Giáo dục, định hướng con người hình thành các hành vi, thái độ, nhận thức cao đẹp; loại bỏ xu hướng chạy theo lợi ích vật chất, lòng tham và các lợi ích cá nhân. Phải thực hiện các biện pháp bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường. Không lợi dụng việc tổ chức lễ hội nhằm mục đích trục lợi cá nhân, phục vụ lợi ích nhóm; không ép buộc tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp kinh phí tổ chức lễ hội. Hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực trong việc tổ chức lễ hội; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 Người tham gia lễ hội có các quyền sau: Thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với bậc tiền nhân, nhân vật lịch sử, tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng; thể hiện mong muốn Điều tốt đẹp, may mắn đến với cá nhân, gia đình, quê hương và đất nước; được giao lưu, sinh hoạt văn hóa và hưởng thụ những giá trị văn hóa tinh thần.

 Người tham gia lễ hội có các trách nhiệm: Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; nội quy thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội; ứng xử có văn hóa trong hoạt động lễ hội; trang phục lịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; không nói tục, chửi thề xúc phạm tâm linh, gây ảnh hưởng xấu tới không khí trang nghiêm của lễ hội; thắp hương, đốt vàng mã đúng nơi quy định; không chen lấn, xô đẩy gây mất trật tự an ninh; giữ gìn vệ sinh môi trường; không tổ chức hoặc tham gia các hoạt động mê tín, dị đoan, cờ bạc và các hành vi vi phạm pháp luật khác; không thực hiện việc đổi tiền có chênh lệch giá trong khu vực di tích, lễ hội; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngoài việc chấp hành nghiêm quy định tại các điểm a, b, c, d và đ Khoản 2 Điều này còn phải thực hiện các quy định sau: không đi lễ hội trong giờ hành chính; không dùng xe công và các phương tiện công (hoặc thuê khoán phương tiện) tham gia lễ hội (trừ trường hợp thuộc thành phần tham gia tổ chức lễ hội hoặc được giao thực thi nhiệm vụ).

 Cơ quan, đơn vị tổ chức lễ hội thực hiện trách nhiệm: Thực hiện thủ tục đăng ký hoặc thông báo tổ chức lễ hội theo quy định tại Nghị định này và thực hiện theo nội dung đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận; thành lập, phê duyệt quy chế làm việc của Ban tổ chức lễ hội; chịu trách nhiệm về hoạt động của Ban tổ chức lễ hội; chịu trách nhiệm về công tác quản lý và tổ chức lễ hội theo quy định của Nghị định này; báo cáo bằng văn bản kết quả tổ chức lễ hội đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký hoặc thông báo chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc lễ hội.

Ban tổ chức lễ hội thực hiện trách nhiệm: Ban hành, phổ biến quy chế làm việc và phân công trách nhiệm của các thành viên Ban tổ chức lễ hội; nội quy thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội; tuyên truyền, giới thiệu mục đích, ý nghĩa, giá trị của lễ hội trên hệ thống loa phát thanh, bảng, biển và các hình thức tuyên truyền khác; thông báo số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận thông tin phản ánh của người tham gia lễ hội; xây dựng và triển khai phương án bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật; quy định khu vực vui chơi giải trí và khu vực tổ chức các hoạt động dịch vụ, bảo đảm không lấn chiếm khuôn viên di tích; treo, đặt bảng phổ biến nội dung, biển hướng dẫn ở vị trí phù hợp, thuận tiện cho việc tiếp nhận thông tin của người tham gia lễ hội; yêu cầu người cung ứng dịch vụ, hàng hóa tại khu vực lễ hội phải niêm yết công khai và bán đúng giá niêm yết; không chèo kéo và ép giá; không bày bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc; không bày bán động vật quý hiếm, các thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh theo quy định của pháp luật; không bán vé, thu tiền tham dự lễ hội; hướng dẫn việc đặt tiền lễ đúng nơi quy định; quản lý và sử dụng nguồn thu từ hoạt động lễ hội hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng mục đích.

 Lễ hội phải đăng ký với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước khi tổ chức gồm: Lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề do cơ quan trung ương tổ chức (sau đây gọi là lễ hội cấp quốc gia) được tổ chức lần đầu; lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề có từ 02 tỉnh trở lên tham gia tổ chức (sau đây gọi là lễ hội cấp khu vực) được tổ chức lần đầu; lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài được tổ chức lần đầu hoặc khôi phục sau thời gian gián đoạn từ 02 năm trở lên.

Lễ hội phải đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi tổ chức gồm: Lễ hội truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề cấp tỉnh được tổ chức lần đầu hoặc khôi phục sau thời gian gián đoạn từ 02 năm trở lên; lễ hội truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề có nhiều huyện thuộc một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham gia tổ chức (sau đây gọi là lễ hội cấp tỉnh) được tổ chức lần đầu hoặc khôi phục sau thời gian gián đoạn từ 02 năm trở lên.

Lễ hội phải đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi tổ chức gồm: Lễ hội truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề cấp huyện được tổ chức lần đầu hoặc khôi phục sau thời gian gián đoạn 02 năm trở lên; lễ hội truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề có nhiều xã thuộc một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương tham gia tổ chức (sau đây gọi là lễ hội cấp huyện) được tổ chức lần đầu hoặc khôi phục sau thời gian gián đoạn từ 02 năm trở lên; lễ hội truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề cấp xã được tổ chức lần đầu hoặc khôi phục sau thời gian gián đoạn 02 năm trở lên; lễ hội truyền thống cấp huyện, cấp xã được tổ chức hàng năm nhưng có thay đổi về cách thức tổ chức, nội dung, địa điểm so với truyền thống.

Về thông báo tổ chức lễ hội: Lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề cấp quốc gia hoặc cấp khu vực, lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài được tổ chức hàng năm phải thông báo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước khi tổ chức lễ hội; lễ hội truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được tổ chức hàng năm phải thông báo với Ủy ban nhân dân cùng cấp trước khi tổ chức lễ hội.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2018. Các quy định về tổ chức lễ hội tại mục 3, Chương 2 Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ; Chương V Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành. Đối với những lễ hội đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì không phải thực hiện trình tự đăng ký lại. Đối với các lễ hội không phải xin phép trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành thì phải thực hiện thủ tục thông báo theo quy định tại Nghị định này.

13/09/2018 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo tiếp nhận hồ sơ thành lập Văn phòng Thừa phát lại Thông báo tiếp nhận hồ sơ thành lập Văn phòng Thừa phát lại
25/06/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo về việc lựa chọn luật sư ký hợp đồng tham gia trợ giúp pháp lýThông báo về việc lựa chọn luật sư ký hợp đồng tham gia trợ giúp pháp lý
12/06/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo nhập học lớp đào tạo nghề công chứng năm 2019 tại tỉnh Bến TreThông báo nhập học lớp đào tạo nghề công chứng năm 2019 tại tỉnh Bến Tre

​Thông báo nhập học lớp đào tạo nghề công chứng năm 2019 tại tỉnh Bến Tre

Thong bao 724 cua STP.pdf

03/06/2019 4:00 CHĐã ban hành
Xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũngXử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14, thay thế Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019. Xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đây là chương có nhiều nội dung mới được bổ sung, thể hiện sự nghiêm minh trong xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm phát luật về phòng, chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả thực thi Luật Phòng, chống tham nhũng và hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định xử lý người có hành vi tham nhũng như sau:

Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác.

Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 2 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật.

Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Xử lý tài sản tham nhũng: Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của pháp luật. Thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra phải được khắc phục; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Đối với việv xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vịLuật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định như sau:

Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là những hành vi không thuộc trường hợp quy định tại Điều 2 của Luật Phòng, chống tham nhũng bao gồm: (a) Vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;(b) Vi phạm quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ;(c) Vi phạm quy định về quy tắc ứng xử; (d) Vi phạm quy định về xung đột lợi ích; (đ) Vi phạm quy định về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn; (e) Vi phạm quy định về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng; (g) Vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm; (h) Vi phạm quy định về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập.

Người có hành vi quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 94 của Luật Phòng, chống tham nhũng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.Người có hành vi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 94 của Luật Phòng, chống tham nhũng thì bị xử lý theo quy định tại Điều 51 của Luật này.

Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét áp dụng tăng hình thức kỷ luật.

Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó.

Luật giao cho Chính phủ quy định chi tiết việc xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với việc xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước Luật Phòng, chống tham nhũng quy định doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý như sau: Doanh nghiệp, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức đó.Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện các biện pháp xử lý đối với người giữ chức danh, chức vụ quản lý thì bị cơ quan có thẩm quyền thanh tra công bố công khai về tên, địa chỉ và hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

19/04/2019 2:00 CHĐã ban hành
Báo cáo danh sách tổ chức đấu giá tài sản, chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sảnBáo cáo danh sách tổ chức đấu giá tài sản, chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản

Công văn số 1027/STP-BTTP ngày 30/7/2019 của Sở Tư pháp v/v Báo cáo danh sách tổ chức đấu giá tài sản, chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản

1027.signed.pdf

07/08/2019 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo việc xóa đăng ký hành nghề và thu hồi thẻ công chứng viên của ông Lê Văn TươiThông báo việc xóa đăng ký hành nghề và thu hồi thẻ công chứng viên của ông Lê Văn Tươi
20/12/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo tuyển dụng viên chức năm 2019 Thông báo tuyển dụng viên chức năm 2019

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh thông báo tuyển dụng viên chức năm 2019 như sau:

1. Nhu cầu tuyển dụng: 01 viên chức hành chính thực hiện nhiệm vụ Kế toán.

2. Điều kiện và tiêu chuẩn dự tuyển:

- Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đơn đăng ký dự tuyển và có lý lịch rõ ràng. Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ;

- Có bằng Cử nhân Kế toán, chứng chỉ A vi tính, B Anh văn.

*Lưu ý: Đối tượng ưu tiên là người có chứng chỉ bồi dưỡng Kế toán trưởng, cử nhân Luật hoặc đã có kinh nghiệm, thực tiễn công tác trong lĩnh vực tư pháp.

3. Hình thức tuyển dụng: Xét tuyển.

4. Hồ sơ đăng ký dự tuyển bao gồm:

- Đơn đăng ký dự tuyển viên chức và Bản Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 06 tháng;

- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

- Giấy chứng nhận sức khỏe;

- Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên (nếu có) được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

5. Thời gian và địa điểm nhận hồ sơ: từ ngày 07/10/2019 đến ngày 01/11/2019  tại Phòng Hành chính-Tổng hợp, Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Bến Tre. Số điện thoại liên hệ: 0753. 814. 720./.

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre

04/10/2019 4:00 CHĐã ban hành
Cung cấp thông tin nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sảnCung cấp thông tin nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản

Công văn số 1026/STP-BTTP ngày 30/7/2019 của Sở Tư pháp v/v Cung cấp thông tin nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh doanh nghiệp đấu giá tài sản

1026.signed.pdf

07/08/2019 11:00 SAĐã ban hành
Người hưởng thừa kế không phụ thuộc di chúcNgười hưởng thừa kế không phụ thuộc di chúc

Pháp luật có quy định, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật và di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Nhưng không phải trường hợp nào người có di sản để lại và có lập di chúc thì đều phải thực hiện theo đúng di chúc đó, bởi trên thực tế có một số trường hợp rất oái ăm, không phải lúc nào cha mẹ cũng nghĩ cho con, vợ chồng đều có tình nghĩa với nhau và nghĩ cho nhau. Đó cũng là một cách để pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con người, giữ gìn đạo đức xã hội hay có thể nói đó là cái "tình" trong pháp luật.

Ông Nguyễn Thanh H và bà Trần Lệ X trãi qua một thời gian dài bên nhau, cùng vượt qua bao khó khăn trong cái thời đất nước còn khó khăn và chung sống hạnh phúc bên nhau. Cuộc sống vất vả nhưng hạnh phúc gia đình luôn đầy ấp, những tưởng sẽ không có gì thay đổi nhưng cuộc sống vốn không có gì là trọn vẹn mãi mãi, thời gian sẽ làm mọi thứ có thể thay đổi, trong đó có cả tình cảm con người. Khi kinh tế gia đình dư giả, ông H ăn nên làm ra và có nhiều mối quan hệ hơn thì cũng là lúc ông thay đổi, ông thường xuyên đi sớm về muộn, tình cảm vợ chồng đầm ấm giờ thay bằng những cử chỉ lạnh lùng, thiếu quan tâm và những lần cãi vả, không khí gia đình trở nên căng thẳng, ngột ngạt vô cùng. Rồi chuyện gì đến sẽ đến, vào một ngày ông H về thông báo với vợ con là sẽ dọn ra sống riêng, họ bắt đầu sống cuộc sống cách biệt trong sự đau khổ vô cùng của bà X, nhưng bà vốn bản tính hiền lành, thật thà, từ trước đến giờ luôn nương dựa và xem chồng là duy nhất, bà cam chịu và chấp nhận thiệt thòi chỉ mong giữ gìn gia đình và luôn nghĩ ông H không còn trẻ và ông chỉ vui chơi rồi sẽ về lại với gia đình. Nhưng chính sự hiền lành, cam chịu đó đã làm bà mất đi người chồng bà yêu thương mà không dám phản kháng một lời nào.

Ông H ra ngoài chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác, họ chung sống với nhau và cũng có con chung, từ đó ông H xem cuộc sống với người vợ sau cùng các con là duy nhất, không quan tâm cũng như không lui tới thăm nom con chung với bà X. Đối với ông H, người vợ sau mới là vợ chính thức vì có đăng ký kết hôn, còn hôn nhân với bà X vào những năm bảy mấy, tám mươi ấy, không một tờ giấy chỉ sống với nhau bằng tình nghĩa ấy đã là quá xa xưa. Tài sản ông làm ra đều dành cho gia đình sau và được người vợ sau nắm giữ, thấy ông H "có tuổi" nên người vợ sau kêu ông làm di chúc để tài sản lại cho bà và các con bà, đồng thời bà kêu ông H lập di chúc luôn cả phần tài sản có với vợ trước là bà X vì dựa vào việc tất cả tài sản có trước đây đều do một mình ông H đứng tên. Không còn tình cũng còn nghĩa nhưng đối với ông H, dường như cả tình và nghĩa đều không còn với bà X nên ông đã lập di chúc luôn cả phần tài sản có trước đây với bà X, tất cả để lại cho vợ và các con của vợ sau được hưởng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, nếu người chết để lại di chúc hợp pháp, tài sản của người đó sẽ được chia theo di chúc; nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ thì chia theo pháp luật.

Tuy vậy, Điều 644 của Bộ luật này quy định "Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc"

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Theo đó, Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Xuất phát từ lòng tham lam, ít kỹ cũng như không hiểu biết về pháp luật mà người vợ sau của ông H mới có suy nghĩ và kêu ông H lập di chúc cho cả phần tài sản trước đây có với vợ trước. Còn đối với ông H, chuyện pháp luật quy định như thế nào và di chúc ấy có được xem là hợp pháp và có được thực hiện hay không còn là một câu chuyện khá dài phía sau, đồng thời di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc mất. Nhưng việc ông H có hành động như vậy với bà X và các con, đã thể hiện sự cạn tình của một người chồng đối với người vợ đã đồng cam cộng khổ với ông trong khoảng thời gian khó khăn, của một người cha đối với các con của mình và đó là điều vô cùng đáng trách và cần phải suy ngẫm.

22/01/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo việc xóa đăng ký hành nghề và thu hồi thẻ công chứng viên của ông Mai Văn HảiThông báo việc xóa đăng ký hành nghề và thu hồi thẻ công chứng viên của ông Mai Văn Hải
15/11/2019 11:00 SAĐã ban hành
Quyết định thu hồi giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng Luật sư Đặng PhúcQuyết định thu hồi giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng Luật sư Đặng Phúc
03/06/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Nguyễn Văn TứThông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Nguyễn Văn Tứ
06/05/2019 5:00 CHĐã ban hành
Danh sách chuẩn tiếp cận pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019Danh sách chuẩn tiếp cận pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019
28/01/2019 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Vũ Hữu ThứThông báo việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Vũ Hữu Thứ
06/05/2019 5:00 CHĐã ban hành
Quyết định giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2019Quyết định giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2019
18/04/2019 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo phát hành hồ sơ lớp đào tạo nghề công chứng tại tỉnh Bến TreThông báo phát hành hồ sơ lớp đào tạo nghề công chứng tại tỉnh Bến Tre

Thực hiện Công văn số 3226/UBND-NC ngày 11 tháng 7 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho chủ trương mở lớp đào tạo nghề công chứng tại Bến Tre, Sở Tư pháp phối hợp Học viện Tư pháp mở lớp đào tạo nghề công chứng tại tỉnh.

- Đối tượng đào tạo: Người đã tốt nghiệp Cử nhân luật.

- Thời gian đào tạo: 12 tháng (học vào các ngày thứ bảy và chủ nhật).

- Địa điểm đào tạo: Tại Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

- Thời gian phát hành hồ sơ: Từ ngày thông báo đến hết ngày 28/02/2019.

- Thời gian nộp hồ sơ:   Đến hết ngày 29/3/2019.

- Lệ phí: Mua hồ sơ 50.000 đồng/bộ; xét duyệt 50.000 đồng/hồ sơ.

- Học phí khóa học: 20.475.000 đồng/01 học viên/01 khóa học.

* Lưu ý: Mức học phí trên chưa bao gồm các chi phí phát sinh do mở lớp tại tỉnh (chi phí thuê hội trường, nước uống phục vụ cho lớp học, phụ cấp công tác phí cho giảng viên, ....).

- Địa điểm nhận hồ sơ: Văn phòng Sở Tư pháp - Số 17, đường Cách Mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Điện thoại 02753.827.364.

20/02/2019 4:00 CHĐã ban hành
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn